đại học quốc gia hà nội
tr-ờng đại học khoa học xã hội và nhân văn
=== ===
nguyễn văn đồng
văn hoá làng quê trong thơ lục bát đ-ơng đại
(qua thơ Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn, Phạm Công Trứ)
Luận văn thạc sĩ văn học
Hà Nội - 2011
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
CHƢƠNG 1: VĂN HÓA LÀNG QUÊ VÀ SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN DUYĐỒNG ĐỨC BỐN - PHẠM CÔNG TRỨ ................................................................. 9
1.1. Văn hóa - những vấn đề chung ................................................................ 9
1.1.1. Văn học và văn hóa....................................................................................................... 9
1.1.1.1. Quan niệm về văn học ............................................................................. 9
1.1.1.2. Quan niệm về văn hóa ............................................................................10
1.1.1.3. Mối quan hệ giữa văn học và văn hóa ....................................................12
1.1.2. Một số đặc điểm của văn hóa làng quê..................................................................... 12
1.2. Sự thể hiện của văn hóa làng quê trong nền thơ ca dân tộc .................. 17
1.2.1. Trong thơ ca dân gian ............................................................................................... 177
1.2.2. Trong thơ ca trung đại.............................................................................................. 200
1.2.3. Trong thơ ca hiện đại .................................................................................................. 23
1.3. Hành trình sáng tạo thi ca của Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn, Phạm Công Trứ. .. 27
1.3.1. Nguyễn Duy về “hát những lời của ta” ..................................................................... 28
1.3.2. Đồng Đức Bốn - Đời người đời thơ........................................................................... 30
1.3.3. Phạm Công Trứ - “ Người thơ gảy khúc trăng vàng ngõ quê” ............................. 333
3.4.1. Đặc điểm ngôn ngữ thơ .......................................................................... 103
3.4.2. Ngôn ngữ trong thơ lục bát Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn, Phạm Công Trứ ....... 105
3.5. Giọng điệu ............................................................................................ 110
3.5.1. Khái niệm .................................................................................................................. 110
3.5.2. Giọng điệu thơ lục bát Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn, Phạm Công Trứ ............. 1111
KẾT LUẬN ............................................................................................................ 115
TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1. Trong lịch sử phát triển của nhân loại, có lẽ chưa bao giờ như những năm gần
đây, văn hóa lại được nhìn nhận, đánh giá một cách toàn diện và sâu sắc như vậy. Vấn
đề văn hóa, không còn co hẹp trong phạm vi của mỗi quốc gia, nó đã trở thành một vấn
đề thời sự có tính toàn cầu. Có thể nói hiện nay đâu đâu cũng nói đến văn hóa, bàn đến
văn hóa. Cùng với sự phát triển và hội nhập về kinh tế xã hội như vũ bão, văn hóa Việt
cũng đang trong quá trình tiếp biến, thay đổi mạnh mẽ. Chỉ ngót mươi năm đầu thế kỷ
XXI này, văn hóa đời sống người Việt Nam đã có những đổi thay nhanh chóng đến
không ngờ. Trong một thế giới toàn cầu hóa như ngày nay, thế giới đã được thu nhỏ lại
như một “ngôi làng toàn cầu”, nhiều giá trị tốt đẹp của nền văn hóa truyền thống đang
đứng trước sự mai một. Vì vậy vấn đề giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc được đặt ra như
một nhu cầu bức thiết của toàn xã hội. Trong đó “văn học là một bộ phận của văn hóa
dân tộc”, “mỗi tác phẩm kinh điển của thế giới xưa nay đều mang tầm văn hóa lớn vì
trước hết nó rất riêng, rất dân tộc nhưng cũng lại rất chung, rất nhân loại về mặt văn
hóa”[48;65], hơn lúc nào hết phải góp tiếng nói của mình khẳng định những nét đẹp văn
hóa truyền thống mang đậm bản sắc dân tộc trên hành trình hội nhập và phát triển.
Nghiên cứu văn học dưới góc nhìn văn hóa nhằm chỉ ra mạch nguồn sâu xa các trầm
tích văn hóa dân tộc chi phối sự hình thành các sáng tạo văn học, và đến lượt nó, các
sáng tạo văn học chính là hiện thân văn hóa dân tộc, là một trong những hướng nghiên
cứu có nhiều triển vọng hiện nay.
hóa làng quê - cội nguồn sinh dưỡng của tâm hồn mỗi con người cũng là sự lựa chọn
của không ít lớp nhà thơ đương đại, là con đường đem lại giá trị thẩm mỹ đích thực. Nổi
lên trong vườn hoa thơ thời kỳ này, ta phải kể đến: Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn và
Phạm Công Trứ - ba đại diện tiêu biểu cho nền thơ hiện đại theo khuynh hướng dân gian
hóa. Thể hiện một cách hồn hậu cái duyên quê, cảnh quê trong thơ lục bát khi xã hội
đang mải miết lăn bánh về phía văn minh kỹ trị, thơ lục bát Nguyễn Duy, Đồng Đức
Bốn, Phạm Công Trứ là những ký họa sinh động về những nét văn hóa quê đẹp đẽ sau
lũy tre làng. Điều này cắt nghĩa một cách đầy thuyết phục rằng: bản sắc văn hóa dân tộc
như một dòng chảy ngầm không hề đứt đoạn trong quá trình phát triển của thơ ca dân
tộc. Văn hóa Việt Nam, văn hóa làng quê đã khơi dậy tình yêu quê hương, yêu Tổ quốc,
tạo nên tình thân ái giữa con người, xây dựng và hình thành nhân cách, đạo lí làm người
tốt đẹp của một dân tộc, một địa phương, một cộng đồng. Văn hóa làng quê tạo ra một
sức mạnh vô biên huyền bí, được gọi là sức mạnh tâm linh của người dân quê thuần hậu,
cũng là sự ngưỡng mộ và quy thuận theo lẽ phải, một lẽ tốt đẹp nhân sinh. Và chính điều
này đã trở thành nguồn mạch nối liền thơ ca dân tộc với thơ ca đương đại.
5. Khi nghiên cứu về thơ đương đại, không nhiều người chú ý đến “một dòng
chảy của thơ viết về cảnh quê, tình quê”, đặc biệt là văn hóa làng quê, hoặc có chú ý tới
cũng chỉ đề cập đến quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, làng quê có nhiều thay đổi
để phù hợp với xu thế phát triển chung. Trong xu thế hội nhập, bạn bè thế giới có điều
kiện hiểu biết về Việt Nam, đặc biệt là văn hóa Việt Nam. Hơn nữa, đây cũng chính là
điều kiện để ta nhìn lại cho rõ mình hơn. Vấn đề giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc là vấn
đề thiết yếu phải làm. Vì vậy trong Đại hội Đảng VIII, Đảng ta đã xác định việc “xây
dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” là nhiệm vụ quan trọng, trên
cơ sở kế thừa và phát huy văn hóa truyền thống.
6. Bên cạnh đó, chúng tôi cũng nhận thấy chưa có một công trình nào nghiên cứu
một cách cụ thể, hệ thống và toàn diện văn hóa làng quê trong thơ lục bát đương đại.
Đặc biệt tìm hiểu đề tài: Văn hóa làng quê trong thơ lục bát đương đại (qua thơ Nguyễn
Duy, Đồng Đức Bốn, Phạm Công Trứ) là một yêu cầu cấp thiết để làm rõ hơn đặc
điểm và sức sống của thể loại thơ lục bát, thấy rõ hơn giá trị thơ ca Nguyễn Duy, Đồng
Đức Bốn, Phạm Công Trứ cũng như sự đóng góp của họ cho văn học nước nhà.
hơn lúc nào hết luôn dành được quan tâm đặc biệt của độc giả. Nhà văn Nguyễn Quang
Sáng nhận xét Nguyễn Duy “có khả năng nắm bắt cái thần, cái hồn của mỗi làng quê”,
“lời thơ đơn sơ gần với khẩu ngữ, tư duy thơ thì hiện đại”[39;17]. Đỗ Ngọc Thạch thì
cho rằng: “đó là những câu thơ nặng trĩu hồn quê, lay động tận trong sâu thẳm tâm linh
và như tự lúc nào đưa người đọc về với bản ngã, với những gì con người nhất”[60;11].
Lê Quang Hưng lại tìm thấy yếu tố truyền thống trong thơ Nguyễn Duy ở cách lập tứ
“một trong những nét riêng nổi bật của thơ Nguyễn Duy thể hiện ở Ánh trăng là cách
dựng tứ”[35;156], “Cách dựng tứ là một yếu tố tạo nên chất dân gian trong thơ Nguyễn
Duy. Nhiều bài thơ trong Ánh trăng thật đậm đà chất ca dao, nhiều đoạn thơ lục bát
nhuần nhị ngọt ngào khiến người ta khó phân biệt đấy là ca dao hay thơ”[35;157].
Trong bài Ca dao vọng về trong thơ Nguyễn Duy, Phạm Thu Yến đã đi sâu tìm hiểu
những biểu hiện trong mối quan hệ giữa ca dao và thơ hiện đại. Cụ thể là tiếng vọng của
ca dao trong thơ lục bát Nguyễn Duy. Tác giả chỉ ra được hiện tượng “tập” ca dao trong
thơ anh “Đọc thơ Nguyễn Duy, ta như gặp được một thế giới ca dao sinh động, phập
3
phồng làm nền cho tiếng đàn huyền đầy sáng tạo của hồn thơ thi sĩ”[74;76]. Bên cạnh
đó, tác giả còn nhấn mạnh “thể thơ lục bát - thể thơ đặc trưng của dân tộc được Nguyễn
Duy sử dụng một cách nhuần nhụy, giúp tác giả chuyển tải một cách nhẹ nhàng, trong
sáng những suy nghĩ và tình cảm sâu sắc, đa dạng của con người. Có lẽ những bài thành
công nhất của Nguyễn Duy là những bài làm theo thể lục bát”[74;79].
Cùng với sự khẳng định tài năng vượt trội ở việc sử dụng thể thơ lục bát của Nguyễn
Duy, Vũ Văn Sỹ trong bài viết Nguyễn Duy - người thương mến đến tận cùng chân thật
đã khẳng định: “Nguyễn Duy đã sử dụng lục bát để thuần hóa chất liệu cập nhật của đời
sống. Lục bát trong tay Nguyễn Duy trở nên vừa êm ái, vừa ngang ngạnh, vừa quen
thuộc vừa biến hóa cựa quậy. Làm thơ lục bát đến như Nguyễn Duy có thể xếp vào bậc
tài tình”[59;71].
Lại Nguyên Ân, trong bài viết Tìm giọng nói thích hợp với người thời mình đã rất
tinh tế khi nói trong thơ lục bát của Nguyễn Duy “ngay trong những bài lục bát ta cũng
thơ hay (Chử Văn Long), Hoa dong riềng (Lê Quốc Hán), Chăn trâu đốt lửa (Nguyễn
Chu Nhạc), Đồng Đức Bốn- chàng thi sĩ đồng quê (Nguyễn Thanh Phong), Đồng Đức
Bốn một câu chuyện hoang đường (Vũ Dũng), Bốn sáu tám (Nguyễn Việt Hà), Đoản
khúc buồn, Đồng Đức Bốn (Xuân Ba)… [12].
Tất cả các bài viết trên đây đề cập về thơ Đồng Đức Bốn nói chung và thơ lục bát
của anh nói riêng ở nhiều khía cạnh khác nhau. Nhìn chung các ý kiến đều thống nhất
khẳng định: Đồng Đức Bốn là một nhà thơ lục bát tài hoa, thơ lục bát của anh có một vị
trí riêng trong thơ Việt Nam hai thập kỷ nay.Và thơ lục bát của Đồng Đức Bốn đậm đà
5
bản sắc dân tộc, rất gần với ca dao, dân ca. Thơ anh thắp lên trong tâm thức mỗi chúng
ta những nét đẹp về văn hóa làng quê trong dòng chảy vội vã của thời gian.
Trong một chùm bài viết: Đồng Đức Bốn vị cứu tinh của thơ lục bát, Khổ câu thơ
đến rồi lại đi, Nguyễn Huy Thiệp đã đánh giá cao về tài năng thơ lục bát của Đồng Đức
Bốn. Ông coi thơ lục bát của Đồng Đức Bốn thuộc vào môn phái “ngộ năng”, là lục bát
“gin” [12;533]. Và trên hết ông khẳng định “cái duyên thơ lục bát của Đồng Đức Bốn là
cách làm sống dậy những nét văn hóa làng quê ở thơ ông”[12;533]. Trân trọng tài năng
và tấm lòng thơ của Đồng Đức Bốn, Đinh Quang Tốn đã viết: “Nhắc đến Đồng Đức
Bốn, ai cũng biết đấy là một hồn thơ lục bát. Phải thừa nhận rằng: thơ lục bát của Đồng
Đức Bốn có một vị trí riêng trong thơ Việt Nam hai thập kỷ nay”[82]. Nguyễn Đăng
Điệp trong bài viết Đồng Đức Bốn - phiêu du vào thơ lục bát đã rất tinh tế khi nói rằng:
“Trong các thứ hương hỏa, Đồng Đức Bốn ăn lộc của ca dao nhiều hơn cả. Cái chất nhà
quê trong thơ anh kết hợp với cái lang bang thân cò vạc của một kẻ bị bầm dập trong đời
sống hiện đại đã làm thành một lối nói ngang, tưng tửng”[12;110]. Còn nhà thơ, nhà phê
bình Đỗ Minh Tuấn thì lại nói: “thơ Đồng Đức Bốn vụt lên với sự sáng trong giản dị mà
vẫn không kém phần sâu sắc, mới lạ, ấn tượng như mang cả hồn thiêng của tổ tiên trong
mỗi lời đối thoại, mỗi tiếng nhủ thầm”[12;105]. Với kinh nghiệm và một tâm hồn nhạy
cảm của người phê bình có nghề, Đoàn Hương trong bài viết Những câu thơ tình tang
quê mùa đã khám phá ra những nét đẹp của thơ Đồng Đức Bốn ở chính trong những
khá nhiều bài viết thẩm bình, đánh giá về thơ anh. Tìm hiểu về sự thể hiện văn hóa làng
quê trong thơ anh, chúng tôi quan tâm hơn đến những bài viết, nhận xét có ý nghĩa đối
với đề tài của luận văn.
Trước hết phải kể đến những nhận định rất sâu sắc của Vũ Quần Phương - một
cây bút viết rất hay về thơ Phạm Công Trứ. Trong bài Phạm Công Trứ sau 10 năm thề
với cỏ may, ông viết: “Anh Phạm Công Trứ có giọng thơ dân tộc hơi xưa cũ, gần gũi với
giọng Nguyễn Bính, cũng là nhà thơ Thành Nam, đồng hương với Trứ (…) Anh Phạm
Công Trứ là người mới viết, nhưng cái giọng thơ anh có hôm nay cũng đã mang được
nhiều phong vị ngọt ngào và duyên dáng của cảnh quê, tình quê”[55;5]. Rồi đến Cỏ may
thi tập, Vũ Quần Phương lại có những nhận xét rất chân thành với thơ Phạm Công Trứ.
Cỏ may thi tập gồm 5 phần: Phố; Quê; Em; Tuyết; Rừng, gồm ngót 200 bài chọn từ 3
tập Lời thề cỏ may (I, II, III). Ông khẳng định thơ Phạm Công Trứ hấp dẫn bạn đọc đặc
biệt là lớp trẻ vì: Phạm Công Trứ hay chộp được các chi tiết sống, phá khuôn phép xưa;
nhà thơ hay đóng vai nhà quê để quan sát các mốt sống đương thời. Còn Trần Đăng
Khoa lại chỉ ra cái chất thơ mang hồn dân tộc khi ông ngầm so sánh Phạm Công Trứ với
Nguyễn Bính: “Giữa lúc người ta xuôi về thành phố thì Phạm Công Trứ lại ngược ra
ngoại ô, trở về làng quê, và rồi anh cứ đi mãi, đi hút về xứ dân gian, ở đó anh gặp
Nguyễn Bính, và ngay lập tức, anh đã bị thi sĩ đồng hương này bắt mất hồn!”[69;312].
Chu Văn Sơn thì viết: “Phạm Công Trứ chủ trương trở về khơi tiếp mạch hồn quê. Bên
cạnh điệu than buồn có tự ca dao, hồn quê ở Trứ còn đậm thêm một điệu vui say, khỏe
khoắn, tươi trẻ. Giữa cái thời thơ trẻ đang tung tẩy canh tân, tìm kiếm những điệu thức
mới, Trứ lại giấu chiếc đàn bầu xưa trong những hàng lục bát về “gảy khúc trăng vàng
ngõ quê” mà gửi vào đó những vui buồn của thời mình”[69;314]. Trong Người thơ gảy
khúc trăng vàng ngõ quê, Vũ Nho đã đưa ra những cảm nhận rất xác đáng về những nét
độc đáo của thơ Phạm Công Trứ: “…nếu không tài năng mà vào làng thơ muộn dở tỉnh,
dở quê lại gảy khúc trăng vàng ngõ quê trên cái đàn cũ kĩ một dây thì đến…mùng thất
cũng chẳng khiến được ai để ý”[49;62]. Tiếp tục khẳng định những nét đặc sắc riêng có
của thơ Phạm Công Trứ, Vũ Nho viết: “Bước vào làng thơ, Phạm Công Trứ như người
đã có duyên nợ từ lâu với thể tài lục bát…Về mặt thể tài lục bát, Phạm Công Trứ đúng
là một nhà thơ lục bát. Quả không sai khi anh coi lục bát là cả gia tài”[49;67-69]. Bùi
+ Bên cạnh đó, chúng tôi còn nghiên cứu và sử dụng tài liệu nói về văn hóa dân tộc,
và sự thể hiện bản sắc văn hóa dân tộc trong thơ ca để làm cơ sở lý luận cho đề tài này.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học sau:
- Phương pháp hệ thống.
- Phương pháp so sánh, đối chiếu.
- Phương pháp thống kê.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp.
- Phương pháp lịch sử - xã hội.
5. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, luận văn gồm có 3 chương:
Chƣơng 1: Văn hóa làng quê và sáng tác của Nguyễn Duy, Đồng Đức
Bốn, Phạm Công Trứ.
Chƣơng 2: Những biểu hiện văn hóa làng quê trong thơ lục bát Nguyễn
Duy, Đồng Đức Bốn, Phạm Công Trứ.
Chƣơng 3: Phương thức biểu hiện văn hóa làng quê trong thơ lục bát
Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn, Phạm Công Trứ.
CHƢƠNG 1
8
VĂN HÓA LÀNG QUÊ VÀ SÁNG TÁC CỦA
NGUYỄN DUY- ĐỒNG ĐỨC BỐN - PHẠM CÔNG TRỨ
1.1. Văn hóa - những vấn đề chung
1.1.1. Văn học và văn hóa
1.1.1.1. Quan niệm về văn học
Văn học là một hình thái xã hội thẩm mĩ. Nó cũng như các loại hình nghệ thuật
khác, không phải là của cải vật chất của xã hội, cũng không phải là một lực lượng trực
tiếp sản sinh ra một giá trị vật chất nào cho đời sống xã hội. Nhưng chúng ta sẽ không
thể hình dung nổi một xã hội mà ở đó không có sự tồn tại của văn chương nghệ thuật.
9
tiếp của tư duy và ý thức không thể tồn tại ngoài ngôn ngữ được. Ngôn từ nào cũng là
phát ngôn của chủ thể. Không có ngôn từ vô chủ. Tác phẩm văn học là tổng thể của
những phát ngôn (của tác giả, của người kể chuyện, nhân vật, cái tôi trữ tình…) cho
nên ngôn từ còn cho ta hiểu được giọng điệu, tư tưởng, tình cảm, quan điểm, tính
cách…của các chủ thể phát ngôn đó. Với chất liệu ngôn từ, văn học có thể phản ánh
bất kỳ một phương diện nào của đời sống hiện thực, có khả năng nhận thức to lớn, thể
hiện tư tưởng một cách trực tiếp và toàn vẹn nhất. Văn học với chất liệu là ngôn từ có
thế mạnh riêng của nó, đã vươn lên vị trí hàng đầu như là điểm giao thoa của nhiều
ngành nghệ thuật. Văn học vẫn mãi là loại hình nghệ thuật quan trọng trong các loại
hình nghệ thuật, góp phần làm cho đời sống tinh thần con người thêm phong phú.
Khi nói văn học là bao gồm cả văn học dân gian (những sáng tác lưu truyền
bằng miệng từ đời này qua đời khác) và cả văn học viết (những tác phẩm văn học được
sáng tác, lưu truyền bằng những văn bản viết). Văn học ra đời do nhu cầu của con
người trong quá trình phát triển của lịch sử của mình, vì vậy văn học phục vụ đời sống
của con người.
Văn học là một thứ thông điệp nhưng là một thứ thông điệp thẩm mĩ của một
tâm hồn gửi đến một tâm hồn, của một trái tim gửi đến một trái tim. Một thứ thông
điệp mà nội dung chủ yếu là: Con người với tất cả đời sống tự nhiên và xã hội, thân
phận và cuộc đời của nó - một thứ thông điệp mà nó có thể làm dấy lên ở người đọc
những tình cảm, suy nghĩ, tưởng tượng lâu dài, bền bỉ, sâu sắc khác với nhiều loại
thông điệp khác. Khi tiếp xúc với văn học, con người bước chân vào thế giới của cái
đẹp, của các giá trị Chân - Thiện - Mỹ, vì vậy văn học có chức năng đặc biệt trong
hoàn thiện nhân cách của con người. Những tác phẩm văn học chân chính luôn là
những tác phẩm có giá trị nhân văn sâu sắc.
Từ khi ra đời cho đến nay, văn học đã có sự thay đổi và phát triển cùng với sự
thay đổi và phát triển của con người, nhưng bản chất và chức năng của văn học thì
không thay đổi. Văn học luôn luôn hướng tới cái đẹp, hướng tới con người và những
giá trị vật chất và tinh thần mà tất cả loài người sản sinh ra. Theo nghĩa hẹp, văn hóa
chỉ là gồm những năng lực tinh thần do các nhà tri thức vận dụng để duy trì và phát
triển những giá trị văn hóa theo nghĩa rộng kia”[1;51].
Nhà nghiên cứu Phan Ngọc trong cuốn Bản sắc văn hóa Việt Nam cũng đã định
nghĩa “Văn hóa là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng trong óc một cá nhân hay một
tộc người với cái thế giới thực tại ít nhiều đã bị cá nhân này hay tộc người này mô
hình hóa theo cái mô hình tồn tại trong biểu tượng. Điều biểu hiện rõ nhất chứng tỏ
mối quan hệ này đó là văn hóa dưới hình thức dễ thấy nhất, biểu hiện thành một kiểu
lựa chọn riêng của cá nhân hay tộc người khác, các biểu hiện lựa chọn của cá nhân hay
tộc người khác”[47;17].
Các định nghĩa trên thể hiện những góc nhìn khác nhau, những quan niệm khác
nhau về văn hóa. Trong khoa học xã hội và nhân văn, không có một khái niệm nào lại
mơ hồ như khái niệm văn hóa. Có thể thấy văn hóa là tất cả những gì do con người
sáng tạo ra trong quá trình ứng xử với tự nhiên và xã hội. Là tổng thể sống động các
hoạt động sáng tạo của cộng đồng và cá nhân qua thời gian. Văn hóa đó là sản phẩm
đặc hữu chỉ có ở con người. Do đó mọi cái liên quan đến con người đều có mặt văn
hóa của nó.
Văn hóa được hình thành từ bốn thành tố chính: lao động sản xuất, tri thức học vấn, tiềm lực sáng tạo, lối sống. Lao động sản xuất ở đây được quan niệm cả lao
động chân tay và trí óc. Đó là hoạt động để nuôi sống con người, duy trì sự tồn tại của
xã hội. Tri thức học vấn là muốn nói đến những hiểu biết do giáo dục đưa lại. Tiềm lực
sáng tạo bao gồm các lĩnh vực khoa học kỹ thuật và nghệ thuật. Lối sống muốn nói tới
cách giao tiếp, ứng xử của con người với con người, con người với tự nhiên xã hội.
Đặc trưng của văn hóa thể hiện ở tính hệ thống, tính giá trị, tính nhân sinh, tính
lịch sử. Những đặc trưng khác nếu có, cũng chỉ là biến dạng của những đặc trưng trên
đây mà thôi.
11
Điểm chung nhất dễ nhận thấy trong các quan niệm về văn hóa là đều lí giải sự
tác động kì lạ của văn hóa đối với đời sống của con người và thông qua văn hóa để tìm
Văn học đã đi một chặng đường khá dài trong lịch sử nhân loại, nó đã trở thành
một bộ phận của văn hóa tinh thần và có mối quan hệ chặt chẽ với văn hóa: “Văn học
là một phần của văn hóa. Nó phản ánh sự sáng tạo vô giá của nền văn hóa đó”[67;3].
Khẳng định mối quan hệ đặc biệt sâu sắc giữa văn học và văn hóa, Nghị quyết Trung
ương 4, khóa VII viết: “Văn học là một bộ phận trọng yếu của nền văn hóa dân tộc.
Thể hiện khát vọng của nhân dân về chân - thiện - mỹ”. Đây là mối quan hệ giữa bộ
phận và toàn thể (vì văn học chỉ là một bộ phận nằm trong một thành tố cấu thành văn
hóa đó là tiềm lực sáng tạo mà thôi), là mối quan hệ biện chứng, phản ánh đặc điểm có
12
tính quy luật của quan hệ riêng chung có tầm cấp triết học “… cái riêng chỉ tồn tại
trong mức độ nó liên hệ với cái chung. Cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua
cái riêng…”(Lênin). Vì lẽ đó, nghiên cứu văn học không thể tách rời những mối liên
hệ với nhiều bộ phận khác, và nhất là không thể không đặt nó trong mối quan hệ với
văn hoá với tư cách là toàn bộ sáng tạo vật chất và tinh thần của nhân loại. Nhà bác
học Nga M.Bakhtin đã từng chỉ rõ rằng “Văn học là một bộ phận không thể tách rời
của văn hóa. Không thể hiểu nó ngoài cái bối cảnh nguyên vẹn của toàn bộ văn hóa
một thời đại trong đó nó tồn tại”[6;361].
Muốn có văn học phải có văn hóa, phải có sự hiểu biết lịch sử, xã hội, con
người, hiểu biết về dân tộc và nhân loại. Mặc dù, văn học “không phải là tất cả nền
văn hóa dân tộc nhưng trong văn hóa, văn học là mặt cơ bản, tiêu biểu nhất, sinh động
nhất, nhiều hương sắc và có sức sống bền bỉ nhất”[66;7]. Do đó, để hiểu và tiếp cận
một tác phẩm văn học bắt buộc người đọc phải hiểu được chiều sâu văn hóa, mã văn
hóa trong đời sống dân tộc bởi mỗi tác phẩm văn học bao giờ cũng chứa đựng những
nội dung văn hóa đặc thù nào đó. Giải mã văn hóa ẩn giấu trong văn học cũng chính là
công việc khám phá mối quan hệ nhiều mặt giữa văn hóa và văn học: “Phải tiếp cận
tác phẩm văn học từ văn hóa. Một là phải đặt tác phẩm văn học trong bối cảnh văn hóa
rộng rãi, đi sâu khám phá văn hóa của một thời đại tác động đến sáng tác văn học như
thế nào. Hai là phải phát hiện cho được những tố chất văn hóa ẩn chứa trong tác phẩm
văn lớn bao giờ cũng đồng thời là những nhà văn hóa tiêu biểu cho thời đại của mình.
Tác phẩm của họ luôn luôn là những kết tinh của những kiến thức văn hóa tổng hợp,
rộng lớn đòi hỏi độc giả cũng phải rất có văn hóa mới cảm nhận và đánh giá chúng
được”[61;31]. Do đó, văn học không thể tách khỏi văn hóa mà phải dựa vào văn hóa.
Bàn về tính văn hóa trong văn học, DS Likhachev - Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa
học Nga đã đưa một nhận định có tính đặc trưng và khái quát: “Văn hóa - đó là hồn
thiêng của mỗi dân tộc, một quốc gia; là những gì làm nên bản sắc của dân tộc và biện
minh cho sự tồn tại của dân tộc đó”. Chính vì thế, nghiên cứu văn học không thể tách
rời văn hóa. Sức sống và sự kỳ diệu của văn học được bắt đầu và làm nên từ cội nguồn
văn hóa dân tộc. Nên để giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, không thể không
gắn với yêu cầu về một nền văn học phát triển lành mạnh, phong phú và đa dạng. Văn
hóa là một phạm trù rộng lớn, vì vậy văn hóa thâm nhập và tồn tại trong toàn bộ các
dạng thức của đời sống xã hội. Văn học cũng là một hình thái ý thức xã hội, phản ánh
tồn tại xã hội. Vì vậy văn học phải phản ánh văn hóa, bởi khi phản ánh những phương
diện của đời sống con người, văn học đã phản ánh văn hóa.
Vì văn hóa là nền tảng của văn học, chi phối văn học trước hết ở cơ sở văn hóa
truyền thống của mỗi dân tộc. Nên văn học luôn luôn chịu những ảnh hưởng to lớn của
truyền thống văn hóa. Do đó, văn học muốn phát triển lại phải biết lựa chọn những yếu
tố tích cực, tiến bộ của truyền thống văn hóa, phê phán, loại trừ những yếu tố lạc hậu,
tiêu cực có trong đó bởi nền văn hóa nào cũng bao hàm trong đó cả hai phương diện
tiên bộ và lạc hậu, tiêu cực và tích cực. Văn học luôn luôn phải nắm bắt, chọn lựa, kết
tinh từ văn hóa dân tộc những giá trị và kinh nghiệm để không ngừng phát triển.
Như đã trình bày, văn hóa như một tổng thể, một hệ thống bao gồm những yếu
tố như ngôn ngữ, phong tục tập quán, luật pháp, tín ngưỡng tôn giáo, nghệ thuật tạo
hình, nghệ thuật biểu diễn, văn học…Trong hệ thống văn hóa, nhất là văn hóa Việt
Nam yếu tố chủ đạo thường là văn học. Yếu tố chủ đạo này không phải là bất biến mà
nó thường xuyên thay đổi qua các thời đại văn hóa. Bởi văn hóa không bao giờ là một
phạm trù khép kín, đứng yên mà luôn có sự giao thoa, vận động và biến đổi. Là một
yếu tố mạnh, văn học luôn biết tiếp thu những gì ngoài hệ thống để phát triển. Tiếp thu
những cái ngoài hệ thống đến một mức độ nào đó, yếu tố văn học sẽ không còn phù
người Việt, làm nên diện mạo và bản sắc văn hóa Việt Nam. Xét văn hóa làng bao giờ
cũng cần thiết phải đặt trong mối tương quan với nhà (gia đình) và nước (tổ quốc). Giáo
sư Hà Minh Đức viết: “Cộng đồng làng xóm tồn tại từ ngàn đời đã sản sinh ra nền văn
hóa riêng của nó. Đó là những nền nếp, phong tục tập quán, thế giới tâm linh qua tín
ngưỡng tôn giáo và cách xử sự trong quan hệ giữa người với người. Đó cũng là nếp
thẩm mỹ đượm màu dân tộc, giản dị, chân quê trong sinh hoạt hàng ngày, lòng hiếu học,
giấc mơ quan trạng, tình yêu đôi lứa thề bồi, cho đến những ngày hội xuân, đêm hát
chèo, buổi lễ chùa, lớp học thầy đồ… tất cả đều là những bộ phận nhỏ của văn hóa làng
quê”[25;20]. Chính tầng văn hóa này thâu giữ sâu kín hồn quê mà các nhà thơ đã khai
thác thành công nếp sống văn hóa lành mạnh, giàu chất thầm mĩ.
Một nhà nghiên cứu về văn hóa cho rằng: “Với Việt Nam, khoe văn minh ấy là
văn minh lúa nước, khoe văn hóa ấy là văn hóa làng quê”. Gắn bó với đời sống nông
nghiệp, với những con người của ruộng đồng, văn hóa làng quê chính là nhân tố tiêu
biểu đặc trưng cho văn hóa Việt Nam. Đó là cái nôi nuôi dưỡng và phát triển tâm hồn
thuần hậu Việt Nam.
15
Từ những khái niệm trên ta có thể thấy văn hóa làng quê bao giờ cũng bao gồm
các giá trị vật chất và tinh thần do người dân quê sáng tạo ra. Văn hóa làng quê bao
đời nay luôn là một thực thể phồn tạp hiểu theo nghĩa là nơi chung sống của tất cả
những cái hay, cái dở, cái cao cả, cái thấp hèn, cái đẹp, cái xấu, cái bi, cái hài, cái hài
hòa chuẩn mực, cái dị mọ, thô kệch... Tuy nhiên, những phạm trù ấy đều mang tính
lịch sử, mỗi thời mỗi khác. Trải qua năm tháng, có cái bị bào mòn, tiêu biến, có cái lại
được trương nở, khuếch đại, có cái bị biến dạng bất thường...
Nói tới văn hóa làng trước hết nói tới người làng, những con người trong các tư
cách: chủ thể sáng tạo văn hóa làng, hiện thân của văn hóa làng, thụ hưởng văn hóa
làng và quảng bá văn hóa làng.
Bản sắc của văn hoá làng quê có thể xem xét trên các bình diện ngôn ngữ,
phong tục, tập quán, tín ngưỡng, cách ăn, ở, mặc, đi lại, đời sống nghệ thuật, tổ chức
đến từ các miền đất khác nhau cũng là nguyên nhân làm cho đời sống văn hoá làng
quê Việt thêm phần phong phú. Cùng với đó, cốt lõi văn hoá làng quê Việt vẫn là
trọng đạo làm người, trọng tình làng nghĩa xóm, điều ân nghĩa thủy chung, trọng sự
học hành, trọng điều ăn nết ở. Đây là nét nhân văn trong tâm hồn con người Việt Nam,
là nét đẹp của văn hóa Việt Nam.
Không chỉ vậy, văn hóa làng quê Việt còn được tạo nên bởi nét đẹp thanh nhã
của phong cảnh làng quê. Là cây đa, bến nước, những bến đò ngang cùng những ngôi
nhà thâm nâu vì mầu của rơm rạ, của ngói mũi in hằn vết thời gian thấp thoáng, ẩn
hiện trong những luỹ tre rợp mát trưa hè, trong màu xanh của ruộng đồng cây cối; là
cổng làng cũ kỹ rêu phong, là giếng nước như chứa đựng phần tâm linh cùng phần đời
thường của những người muôn năm cũ; là nét đẹp của con đường làng quê; là âm
thanh của những câu hát ru, tiếng võng tre kẽo cà, kẽo kẹt vang vọng giữa thinh không
như mời gọi chúng ta trở về với quê hương nối nhịp cuộc đời, như nâng bước ta trên
mọi nẻo đường. Là tiếng chuông như nhịp đập của thời gian thả vào mênh mông
hương sắc của ruộng đồng bờ bãi quyện xoắn lấy tâm hồn người…Tất cả những hình
ảnh, âm thanh đó là biểu tượng thân thương của làng quê, là những mảnh hồn quê
được lắp ghép để tạo nên bản sắc riêng của văn hóa làng quê.
Văn hóa làng quê như dòng suối mát lành tạo nên dòng chảy liên tục của văn
hóa dân tộc để bồi tụ lớp trầm tích văn hóa ngày càng thêm phong phú qua lớp bụi thời
gian. Văn hóa làng quê là điểm tựa vững chắc cho chúng ta có thể tiến xa hơn và ngày
càng tốt đẹp hơn trong hành trình phát triển.
1.2. Sự thể hiện của văn hóa làng quê trong nền thơ ca dân tộc
Trong tâm thức của mỗi người Việt, làng xóm thật gần gũi và gắn bó. Văn hóa
làng quê là nét độc đáo trong tâm hồn Việt Nam được thể hiện đa dạng, phong phú
trong đời sống, trong văn học từ cổ chí kim.
1.2.1. Trong thơ ca dân gian
Thơ ca dân gian là điệu tâm hồn của người dân đất Việt; là sự biểu hiện toàn vẹn,
sâu sắc không gian địa - văn hóa làng quê Việt Nam. Thơ ca dân gian mang đến cho ta
cảm nhận về cái đẹp trong cuộc sống, trong thiên nhiên và trong quan hệ ứng xử.
Còn gì quí giá và hạnh phúc bằng ta có những người anh em biết yêu thương, đùm bọc
lẫn nhau.
Tình cảm vợ chồng có lẽ là nội dung được nhắc nhiều trong ca dao. Nó biểu
hiện nét đẹp trong quan hệ ứng xử của con người.
Chồng em áo rách em thương
Chồng người áo gấm xông hương mặc người
Câu ca đẹp ở cái nghĩa tình thủy chung son sắt của người vợ - một nét đẹp trong
phẩm hạnh của người phụ nữ Việt.
Nếu tình cảm gia đình là cảm hứng khơi nguồn trong tâm hồn mỗi con người
thì tình cảm bạn bè, nghĩa tình gắn bó với công việc, những vật thân thuộc là sự phát
triển tiếp, sâu sắc thêm những gì đẹp đẽ trong đời sống tình cảm của người dân quê.
Sự gắn bó tình người phải chăng chính là một trong những yếu tố tạo nên sức sống của
người Việt Nam, tâm hồn Việt Nam, văn hóa Việt Nam.
Ra đi vừa gặp bạn hiền
Cũng bằng ăn quả đào tiên trên trời
Đây là câu hát mừng trong những cuộc hát lễ hội được diễn tả như gặp một điều
cao quí thiêng liêng, một niềm vui lớn. Nó thường là câu hát ở chặng mở đầu, làm
quen trong các cuộc hát đối đáp xưa. Lời ca cho ta thấy cái gốc là tình cảm chân thực,
niềm khát khao có bạn, quí trọng tình bạn đã làm nên niềm vui sướng đến bất ngờ của
nhân vật trữ tình. Mang hình thức trò chuyện, lời trò chuyện thể hiện tình cảm gắn bó
làng trên xóm dưới, nương tựa, giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống sinh hoạt cộng đồng.
Không chỉ gắn với người nhà, anh em, làng xóm, người Việt Nam vốn nhân ái
bao dung ngay cả với những vật tưởng như tầm thường nhất.:
Trâu ơi ta bảo trâu này
18
Trâu ăn no cỏ trâu cày với ta
Cấy cày vốn nghiệp nông gia
Ta đây trâu đấy ai mà quản công
sống hôm nay, những cái gì đẹp nhất, cao quý và tinh anh của đất nước cũng trở thành
lời ca tiếng hát trong tâm hồn dân tộc”[26;282].
Cùng với ca dao, dân ca những câu tục ngữ, thành ngữ ngắn gọn mà súc tích
cũng là tấm gương phản ánh lời nói hàng ngày mọi biểu hiện của đời sống cộng đồng
dân tộc và quan niệm của nhân dân lao động về đạo đức và các hiện tượng xã hội. Đó
là những bài học của phong cách ứng xử đẹp đẽ, phù hợp với đạo lí truyền thống và
19
cũng phù hợp với sự phát triển của xã hội. Họ truyền cho nhau những kinh nghiệm lâu
đời có tính tập thể, quí báu rút ra trong quá trình quan sát và cải tạo thiên nhiên để có
được mùa màng bội thu, làm ấm lên nghĩa tình làng xóm: “Trồng khoai trên ruộng lạ/
gieo mạ ở ruộng quen”. Họ truyền cho con cháu những tư tưởng và đạo đức của nhân
dân lao động ứng xử với nhau trong cuộc sống như: răn dạy con cháu hãy giữ cho
mình những phẩm giá phù hợp với tiêu chuẩn đạo đức tốt đẹp của cha ông “Đói cho
sạch, rách cho thơm”, “chết trong còn hơn sống đục”, hãy sống cho đúng với lương
tâm mình cả với người trong gia đình, người ngoài xã hội. Với người trong một nhà thì
phải biết “Chị ngã em nâng”, “Anh em như thể chân tay”, “máu chảy ruột mềm”. Hiểu
thật sâu sắc giá trị của tinh thần tương thân tương ái, lòng cưu mang giúp nhau khi cơ
nhỡ, vấp váp, ông cha ta còn khuyên nhủ: “Bán anh em xa mua láng giềng gần” phải
cùng “Tối lửa tắt đèn có nhau”. Trong cuộc sống hàng ngày, người làng quê rất coi
trọng tình cảm, đó là tình cảm lớn nhiều khi vượt quá tình cảm của gia đình:
Khôn ngoan đối đáp người ngoài
Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau
Hay:
Nhiễu điều phủ lấy giá gương
Người trong một nước phải thương nhau cùng
Con người làng quê sống vì nghĩa với nhau, sống vì con cháu, cao hơn chính
bản thân mình là đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam. Tình cảm ấy đã
gắn kết họ chặt chẽ lại với nhau để tạo nên một kết cấu quyền lực làng xã có sức mạnh
Xuân qua trăm hoa rụng
Xuân tới trăm hoa cười
Đừng tưởng xuân tàn hoa rụng hết
Đêm qua sân trước, một nhành mai
Một bức tranh thiên nhiên tươi mát luôn nảy nở, phát triển đã được nhìn qua
lăng kinh đầy nhạy cảm của nhà sư Mãn Giác(đời Lí). Thiên nhiên mùa xuân của
làng quê đã tô điểm cho cuộc đời và tác động sâu sắc đến mọi người, cuộc đời.
Với trái tim mẫn cảm với cái đẹp, Vua Trần Nhân Tông đã có những câu thơ
viết về thiên nhiên trở thành mẫu mực:
Chim hót véo von, liễu nở đầy
Thềm hoa chiều ảnh bóng mây bay
Một bức tranh thiên nhiên đầy sức sống và rực rỡ! Ánh trăng chiều in bóng
mây lên thềm, chim hót vang trong rặng liễu đầy hoa lá. Thiên nhiên - quê hương ta
một buổi chiều thật gợi cảm và lộng lẫy!
Thế kỷ XV đến giữa thế kỷ XVIII, đối chọi với sự tàn phá khốc liệt, thâm
độc của giặc Minh là sức sống quật khởi của nền văn hóa Đại Việt. Nền văn hóa
nước nhà có bị tàn phá nhưng không bị diệt vong. Truyền thống văn hóa Lí -Trần
vẫn tiếp sức cho thời đại mới để Nguyễn Trãi trong Bình Ngô đại cáo đã có thể
khẳng định:
Như nước Đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Nguyễn Trãi nhà chính trị, quân sự, ngoại giao lỗi lạc và trên hết là một nhà
thơ giàu cảm khái, luôn thả lòng mình hòa với thiên nhiên của quê hương thể hiện
một sự rung động sâu xa và tinh tế trước tạo vật, thể hiện một lòng yêu đời tràn trề
và sôi nổi. Trong thơ chữ Hán và chữ Nôm của ông, chúng ta bắt gặp những hình
ảnh thiên nhiên quen thuộc của làng quê Việt Nam. Đó là tiếng khắc khoải của cuốc
kêu khi vào hè, là hoa xoan và mưa bụi mùa xuân lất phất nơi thôn dã:
Trong tiếng cuốc kêu xuân đã muộn
Đầy sân mưa bụi nở hoa xoan
(Cuối xuân tức sự)
Đầu nhà khói tỏa lồng sương bạc
Sườn núi chim gù ẩn lá xanh,
Tuần điếm kìa ai khua mõ cá
Dâng hương nọ kẻ nện chày kình
Nhà nam nhà bắc đều no đủ,
Lừng lẫy cùng ca khúc thái bình.
(Canh một)
Với một bút pháp vững chắc, tác giả đã vẽ nên khung cảnh của một cuộc sống
yên ổn, ấm áp ở làng thôn. Vẻ đẹp của thiên nhiên quê hương là ở cái thanh bình, yên
ả đến xao lòng.
Từ nửa cuối thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX, Truyện Kiều - kiệt tác văn
chương Việt Nam của Nguyễn Du lại cho ta thấy những nét vẽ thần tình về cảnh sắc
thiên nhiên:
22