Biểu hiện của quan hệ quyền thế trong các diễn ngôn hội thoại (khảo sát trên tư liệu một số truyện ngắn hiện đại) - Pdf 33

Đại học quốc gia hà nội
Trường đại học khoa học xã hội và nhân văn

Phạm Thị Thu Trang

Biểu hiện của quan hệ quyền thế trong các diễn ngôn hội thoại (khảo sát trên tư liệu một số
truyện ngắn hiện đại)

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số
: 60 22 01

Luận văn thạc sỹ ngôn ngữ học
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Việt Thanh

Hà Nội - 2008

-0-


Mục lục

Mở đầu

5

Chương 1. Cơ sở lý thuyết

9

1.1. Một số vấn đề về “diễn ngôn” và “phân tích diễn ngôn”

Chương 2. Biểu hiện của quan hệ quyền thế trong diễn ngôn hội thoại
trên một số phương tiện từ vựng

41

2.1. Biểu hiện của quan hệ quyền thế trong hội thoại thông qua hệ thống từ xưng hô
2.1.1. Quan hệ quyền thế biểu hiện qua nhóm từ xưng hô chính danh và không chính

41
43

danh
2.1.1.1. Một số nét về từ xưng hô chính danh và không chính danh trong tiếng Việt
2.1.1.2. Vai trò của nhóm từ xưng hô chính danh và không chính danh trong việc
biểu thị quan hệ quyền thế hội thoại
2.1.2. Biểu hiện của quan hệ quyền thế thông qua các cặp xưng hô tương hỗ và phi
tương hỗ
2.1.2.1. Thế nào là xưng hô tương hỗ và phi tương hỗ?
2.1.2.2. Quan hệ quyền thế biểu hiện qua các cặp xưng hô tương hỗ và phi tương hỗ
2.1.3. Vai trò của ngôi thứ ba trong việc biểu thị quan hệ quyền thế

-2-

15
17
17
18
22
22



76

Chương 3. Biểu hiện của quan hệ quyền thế trong diễn ngôn hội thoại
trên một số phương diện ngữ pháp và cách thức tổ chức hội thoại

78

3.1. Biểu hiện của quan hệ quyền thế trên phương diện ngữ pháp
3.1.1. Biểu hiện của quan hệ quyền thế thông qua các kiểu phát ngôn mệnh lệnh, cầu
khiến, vô nhân xưng...
3.1.2. Biểu hiện của quan hệ quyền thế thông qua các kiểu câu chủ động/bị động,
cách nói trực tiếp/gián tiếp, câu đưa đẩy...
3.2. Biểu hiện của quan hệ quyền thế trên phương diện cách thức tổ chức hội thoại

78
78
85
90

3.2.1. Biểu hiện của quan hệ quyền thế thông qua sự xuất hiện các lối nói chêm xen,
hiện tượng tranh lời/cướp lời
3.2.2. Biểu hiện của quan hệ quyền thế thông qua việc tuân thủ các nguyên lý hội
thoại (nguyên lý cộng tác, nguyên lý lịch sự)

90
95

* Tiểu kết


lớn những công trình nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở việc xây dựng các tiền
đề có tính lý luận, chưa đưa ra được những biểu hiện sinh động trên phương diện
ngôn ngữ của mối quan hệ quyền thế vốn rất phức tạp giữa các nhân vật giao tiếp
trong thực tế xã hội. Xuất phát từ thực tế đó, chúng tôi quyết định chọn đề tài
“Biểu hiện của quan hệ quyền thế trong các diễn ngôn hội thoại” (khảo sát

-5-


trên tư liệu một số truyện ngắn hiện đại) trên cơ sở vận dụng lý thuyết phân
tích diễn ngôn phê phán làm đối tượng nghiên cứu của luận văn.
2. Nhiệm vụ của luận văn
Với lý do lựa chọn đề tài như trên, nhiệm vụ chính của luận văn là lần lượt
mô tả những biểu hiện sinh động của mối quan hệ quyền thế giữa các nhân vật
giao tiếp trên ba phương diện ngôn ngữ cơ bản. Đó là phương diện từ vựng, ngữ
pháp và cách thức tổ chức hội thoại. Trên cơ sở kết quả tư liệu thu nhận được,
luận văn sẽ đánh giá áp lực quyền thế giữa các vai giao tiếp chi phối việc lựa
chọn và sử dụng ngôn ngữ hội thoại của các bên tham gia, đồng thời khẳng định
sự tồn tại cũng như ảnh hưởng mạnh mẽ của mối quan hệ quyền thế đặc biệt này
trong giao tiếp xã hội nói chung.
3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi tư liệu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các cuộc hội thoại thực tế được rút
ra từ một số tác phẩm văn học hiện đại. Phạm vi nghiên cứu của công trình này
là đặc điểm các vai giao tiếp, những biểu hiện của mối quan hệ quyền thế giữa
các nhân vật tham gia cuộc thoại thông qua các phương tiện ngôn ngữ cụ thể.
Còn những biểu hiện của mối quan hệ trên thông qua các phương tiện phi ngôn
ngữ cử chỉ, giọng điệu, ánh mắt… không thuộc phạm vi nghiên cứu của luận văn.
Luận văn sử dụng tư liệu khảo sát chủ yếu trên những nguồn sau:
- Truyện ngắn Tường thành, Võ Thị Xuân Hà, NXB Hội nhà văn, 2004.
- Truyện ngắn Mùa hè vội vã, Nguyễn Đình Chính, NXB Hà Nội, 2004.

-7-


5.2. ý nghĩa thực tiễn
Tính thực tiễn của luận văn thể hiện ở việc vận dụng kết quả nghiên cứu
nhằm đưa ra những kiến giải cũng như những đề xuất, định hướng trong việc tạo
lập và nhận hiểu các diễn ngôn hội thoại trong các tác phẩm văn học hiện đại nói
riêng, trong diễn ngôn hội thoại nói chung. Cũng trên cơ sở đó, người tham gia
giao tiếp có thể lựa chọn được những chiến lược sử dụng ngôn ngữ hiệu quả nhất
để xác lập hay thay đổi mối quan hệ quyền thế với người đối thoại, từ đó duy trì
và điều khiển cuộc thoại để đạt tới đích giao tiếp cuối cùng.
Mặt khác, do đối tượng nghiên cứu của luận văn là những đoạn hội thoại
được rút từ các tác phẩm văn học hiện đại của nhiều tác giả khác nhau, nên luận
văn cũng nêu lên một số nhận xét về phong cách tác giả, về dụng ý của nhà văn
khi khắc họa hình tượng nhân vật, mô tả mạng lưới quan hệ giữa các nhân vật
trong tác phẩm thông qua ngôn ngữ đối thoại. Điều này sẽ giúp độc giả có cơ sở
tiếp cận tác phẩm cũng như các nhân vật một cách mới mẻ và toàn diện hơn.
6. Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn được
bố cục gồm ba chương cụ thể như sau:
Chương 1. Cơ sở lý thuyết
Chương 2. Biểu hiện của quan hệ quyền thế trong diễn ngôn hội thoại trên
một số phương diện từ vựng
Chương 3. Biểu hiện của quan hệ quyền thế trong diễn ngôn hội thoại trên
một số phương diện ngữ pháp và cách thức tổ chức hội thoại

-8-


Chương 1

giáo) hoặc ngôn ngữ viết (một bài thơ, một mẩu truyện). Còn về thuật ngữ “diễn ngôn”, ông
cho rằng nó được dùng để giải thuyết sự kiện giao tiếp trong ngữ cảnh.
Một tác giả khác là Crystal thì lại phân biệt “diễn ngôn là một chuỗi nối tiếp của ngôn
ngữ (đặc biệt là ngôn ngữ nói) lớn hơn một câu, thường cấu thành một chỉnh thể có tính mạch
lạc, kiểu như một bài thuyết giáo, tranh luận, truyện vui hoặc truyện kể”. Tác giả này đồng
thời cũng nhận định “văn bản là một sản phẩm diễn ngôn xuất hiện một cách tự nhiên dưới
dạng nói, viết hoặc biểu hiện bằng cử chỉ, được nhận dạng vì những mục đích phân tích. Nó
thường là một chỉnh thể ngôn ngữ với một chức năng giao tiếp có thể xác định được, ví dụ như
một cuộc thoại, một tờ áp phích” (dẫn theo David Nunan, Dẫn nhập phân tích diễn ngôn,
1997). Như vậy, ở đây mặc dù tác giả không đồng nhất hai khái niệm trên song dường như
cũng không có sự phân định rành mạch ranh giới giữa chúng, văn bản trở thành sản phẩm của
diễn ngôn và trong nhiều trường hợp thậm chí có thể thay thế được cho nhau.
ở Việt Nam cũng có khá nhiều tác giả quan tâm đến vấn đề này và lẽ tất yếu cũng tồn tại
nhiều quan điểm khác nhau, hoặc có khi là sự thay đổi về quan điểm của cùng một tác giả trong
những giai đoạn khác nhau. Tiêu biểu là tác giả Diệp Quang Ban trong các công trình nghiên
cứu của mình đã nhận định mối quan hệ giữa hai khái niệm “diễn ngôn” và “văn bản” qua các
giai đoạn như sau: (1) Văn bản được dùng để chỉ chung các sản phẩm của ngôn ngữ (product)
viết và ngôn ngữ nói có mạch lạc và liên kết; (2) Có sự đối lập giữa diễn ngôn và văn bản: sử
dụng văn bản để chỉ sản phẩm ngôn ngữ viết và diễn ngôn chỉ ngôn ngữ nói; (3) Diễn ngôn
được dùng như văn bản ở ý nghĩa (1). (trích theo Nguyễn Hoà, 2003)
Còn tác giả Nguyễn Thiện Giáp trong một công trình mới đây, sau khi điểm qua một
số quan điểm khác nhau về hai khái niệm này thì lại bày tỏ quan điểm cá nhân: “thuật ngữ
diễn ngôn (discours) và văn bản (text) thường được coi là đồng nghĩa với nhau để chỉ các sản
phẩm của ngôn ngữ, viết hay nói, dài hay ngắn, tạo nên một tổng thể hợp nhất, trong đó, diễn
ngôn thường được hiểu là bao hàm văn bản, còn văn bản thiên về sản phẩm viết nhiều hơn”
(Nguyễn Thiện Giáp, 2004: 169). Có thể thấy, tác giả một mặt đồng nhất hai khái niệm trên
song mặt khác ngay sau đó lại có tỏ ra lúng túng khi nhấn mạnh sự phân biệt tương đối giữa
chúng.

- 10 -


- 11 -


Trước tiên, với việc xác định “diễn ngôn như một tiến trình”, hai tác giả Brown & Yule
khẳng định quan điểm rằng nhà phân tích diễn ngôn cần quan tâm đến chức năng hay mục
dích của một mẩu dữ liệu ngôn ngữ và cách thức dữ liệu đó được người phát cũng như người
nhận xử lý. Biện luận sâu hơn, hai tác giả cho rằng, nhà phân tích sẽ phải nghiên cứu từng từ,
từng câu xuất hiện trong dữ liệu thành văn của diễn ngôn, để tìm cho được bằng chứng về sự
nỗ lực của người phát (người nói/người viết) trong việc chuyển giao thông điệp đến người
nhận (người nghe/người đọc). Đồng thời chúng ta cũng cần tìm hiểu bằng cơ chế nào, lý do tại
sao mà người nhận có thể hiểu được chính xác thông điệp chuyển giao tới trong một ngữ cảnh
cụ thể; đồng thời các yêu cầu trở lại của người nhận trong một ngữ cảnh cụ thể bằng cách nào
có thể chuyển giao trở lại người phát, để từ đó ảnh hưởng đến kết cấu của diễn ngôn tiếp theo
của người phát. Như vậy, có thể thấy rõ ràng là phương hướng nghiên cứu này chủ trương lấy
chức năng giao tiếp của ngôn ngữ làm đối tượng nghiên cứu chính, và vì thế nó mô tả các hình
thức ngôn ngữ không ở dạng tĩnh mà như các phương tiện động nhằm thể hiện ý nghĩa. (Dẫn
theo Brown & Yule, 2002:48)
Một tác giả khác - David Nunan với việc xác định hai khái niệm “diễn ngôn” và “văn
bản” như đã trình bày ở trên, cũng đồng thời xác nhận phân tích diễn ngôn liên quan đến việc
nghiên cứu ngôn ngữ trong quá trình sử dụng (ngôn ngữ hành chức) - khác với phân tích văn
bản là thiên về nghiên cứu các thuộc tính cấu trúc của ngôn ngữ, bị tách khỏi các chức năng
giao tiếp của chúng. Tác giả cũng biện luận thêm rằng, cũng giống như các nhà ngữ âm học,
ngữ pháp học, nhà phân tích diễn ngôn cũng cần quan tâm đến việc nhận diện những cái đều
đặn và những khuôn mẫu trong ngôn ngữ. Tuy nhiên, không chỉ có vậy, nhà phân tích diễn
ngôn còn phải thực hiện một nhiệm vụ quan trọng hơn cả là đạt đến mục đích cuối cùng của
công việc phân tích: vừa chỉ ra, vừa giải thuyết mối quan hệ giữa những cái đều đặn đó với
những ý nghĩa và những mục đích được diễn đạt qua diễn ngôn. Như vậy, ở đây tác giả đã căn
cứ vào đối tượng của nhà phân tích là ngôn ngữ xét về mặt cấu trúc hình thức thuần tuý (phân
tích văn bản) và ngôn ngữ trong quá trình sử dụng (phân tích diễn ngôn) để phân biệt hai khái

ngôn ngữ hành chức trong hoàn cảnh giao tiếp xã hội. Với việc xác định như vậy, tác giả chủ
trương quy các yếu tố như liên kết, cấu trúc đề thuyết, cấu trúc thông tin, cấu trúc diễn ngôn…
thuộc về địa hạt phân tích văn bản; đồng thời những yếu tố như mạch lạc, các hành động ngôn
từ, vận dụng tri thức nền, cách thức xử lý từ trên xuống hay từ dưới lên… sẽ thuộc địa hạt của
phân tích diễn ngôn. (Dẫn theo Nguyễn Hoà, 2003: 35)

- 13 -


1.2. Một số vấn đề cơ bản về “diễn ngôn hội thoại” và “phân tích diễn ngôn hội
thoại”
1.2.1. Thế nào là “diễn ngôn hội thoại”?
Trong thực tế đời sống, chúng ta hàng ngày không ngừng tạo ra vô vàn các cuộc hội
thoại khi tiến hành giao tiếp. Bởi vậy, có thể nói hội thoại là hoạt động giao tiếp phổ biến nhất,
cơ bản nhất của con người; đồng thời hội thoại cũng là hình thức cơ sở của mọi hoạt động
ngôn ngữ khác. Khi giao tiếp hai chiều cũng tức là chúng ta đã tạo ra một hội thoại trên cơ sở
tương tác qua lại giữa một bên là người nói và một bên là người nghe, kết hợp với sự luân
phiên lượt lời, thay đổi vai trò trong suốt quá trình giao tiếp. Hội thoại khi được thực hiện bởi
hai bên là song thoại; khi được thực hiện bởi ba bên là tam thoại; thậm chí có hội thoại gồm
rất nhiều vai giao tiếp, ta có đa thoại. Tuy nhiên, song thoại được coi là hình thức hội thoại cơ
bản và phổ biến nhất, mang đậm những đặc trưng của một cuộc hội thoại. Do đó ở đây chủ
yếu bàn đến một số vấn đề chính yếu của song thoại, trên cơ sở đó có thể hình dung bức tranh
khái quát nhất về các đặc trưng của “diễn ngôn hội thoại”.
Trước khi đưa ra được cách hiểu đầy đủ nhất về “phân tích diễn ngôn hội thoại” thì
chúng ta không thể bỏ qua một khái niệm cơ bản của bất kỳ một hội thoại nào, đó là “cuộc
thoại”. Để tham gia một cuộc thoại, người tham gia giao tiếp phải tuân thủ hai nguyên tắc cơ
bản nhất là nguyên tắc luân phiên lượi lời và nguyên tắc liên kết. Điều đó có nghĩa là, trong
khi người này nói thì người kia nghe rồi mới phản hồi trở lại, không cùng nói đồng thời. Hai
bên tham gia phải luân phiên nói một cách uyển chuyển, nhịp nhàng. Mặt khác, các lượt lời
tham gia phải đảm bảo sự liên kết với nhau để cùng tạo ra tính liên kết của cả cuộc thoại. Mặc

xác định, hoặc không gian có tính nghi thức như công sở hay một không gian không có tính
nghi thức cao như quán cafe hay công viên… sẽ chi phối các đặc điểm cuộc thoại khác nhau.
Hoặc như khi đã xác định được một không gian nhất định thì sẽ tăng cường sự hiện diện của
các yếu tố có tính quy chiếu như các từ chỉ xuất, các đại từ… Như vậy có thể thấy, các yếu tố
bên ngoài mặc dù không trực tiếp tạo nên cuộc thoại song chúng cũng có ảnh hưởng đáng kể
đến cấu trúc, tính chất cuộc thoại và đặc điểm các bên tham gia giao tiếp.
1.2.2. Cấu trúc hội thoại
Để tìm hiểu được cấu trúc của một hội thoại thì cũng là chúng ta đi tìm hiểu cấu trúc
ngôn ngữ của một cuộc thoại; điều đó có nghĩa là chúng ta cần xác định được mạng lưới quan
hệ của hệ thống các đơn vị ngôn ngữ cấu thành nên cuộc thoại đó, đồng thời cũng cần xác

- 15 -


định những yếu tố bên trong quan yếu, yếu tố bên ngoài không quan yếu nhưng có ảnh hưởng
đến cấu trúc cuộc thoại.
1.2.2.1. Cấu trúc chung
Có thể nói bất kỳ một cuộc thoại nào bao giờ cũng có phần mở đầu và phần kết thúc.
Trong thực tế giao tiếp, người mở đầu hay kết thúc một cuộc thoại thường là tự nguyện, chủ
động, song nhất định có. Bởi vậy, theo đó đương nhiên ta có phần mở thoại là phần mở đầu
cuộc thoại, và phần kết thoại là phần kết thúc một cuộc thoại. Ngoài hai phần cơ bản trên, cấu
trúc một cuộc thoại còn luôn bao gồm một phần chính yếu nữa là phần thân thoại. Như vậy, về
đại thể, cấu trúc chung của một cuộc thoại bao gồm ba phần: Mở thoại - Thân thoại - Kết thoại.
Tuy nhiên cũng cần thấy rằng đây không phải là cấu trúc cứng nhắc vì trên thực tế giao tiếp,
không phải bao giờ ranh giới giữa các phần này cũng được xác định rõ ràng.
1.2.2.2. Các yếu tố cấu tạo
Khi tiến hành xây dựng cấu trúc cuộc thoại nói riêng, cấu trúc hội thoại nói chung,
chúng ta cần tìm hiểu đặc trưng của các yếu tố tạo nên cấu trúc đó. Trước hết đó là lượt lời (A:
turn; P: tours). Lượt lời là đơn vị cơ bản của hội thoại, nó được xây dựng trên cơ sở những
lượt lời có trước đó. Lượt lời được xác định là một lần nói xong của một bên giao tiếp trong

dụng thông báo cho người mở thoại sự hợp tác hay không hợp tác của đối tượng. Lượt lời mở
thoại do đó trong cấu trúc hội thoại có phần ít giá trị hơn các lượt lời tiếp theo, nó có thể bị
“bỏ qua” để đi ngay vào chủ đề chính của cuộc thoại.
Tuy nhiên cũng cần phân biệt hành động trao lời với hành động tranh lời (cướp lời/
ngắt lời). Hành động tranh lời có thể được hiểu là khi người đang giữ lượt lời còn chưa nói
xong hoặc còn có ý định nói tiếp, chưa chủ động chuyển lời đã bị người kia tiếp lời, tranh lời
một cách vô tình hay cố ý. Như vậy, lượt lời đã được chuyển giao một cách bị động. Trong
giao tiếp, hành động tranh lời bị coi là vi phạm nguyên tắc hội thoại, vi phạm phép lịch sự, đặc
biệt là trong song thoại. Hành dộng tranh lời còn bao gồm cả các lời chêm xen, hùa theo người
nói, khiến lượt lời bị đứt quãng, mất tự nhiên. Khi xuất hiện lời chêm xen, mặc dù lúc này coi
như đã có sự luân phiên lượt lời nhưng về nội dung chủ đề của lượt lời bị lời chêm xen giãn
cách vẫn có sự liên kết. Việc hiểu rõ hiện tượng này sẽ liên quan đến quá trình tìm hiểu cấu
trúc hội thoại. Muốn vậy, chúng ta còn cần liên hệ hình thức nói này với văn hoá, tập quán,
tâm lý của cộng đồng sử dụng ngôn ngữ đó. Bởi trên thực tế lối nói này là do các quy tắc xã
hội, vị thế xã hội, phong tục… của những người tham gia giao tiếp đảm bảo cho nó điều kiện
xuất hiện.

- 17 -


Trong nghiên cứu cấu trúc hội thoại, một đơn vị quan trọng tiếp theo đó là cặp thoại.
Trong hội thoại, các hành vi ngôn ngữ không đứng độc lập mà liên hệ với nhau khá chặt chẽ,
hành vi này kéo theo sự xuất hiện và tồn tại hành vi kia; tương tự lượt lời này kéo thao sự xuất
hiện và tồn tại của lượt lời kia. Sự liên hệ chặt chẽ giữa các lượt lời như vậy tạo nên khái niệm
cặp thoại. Trong một cặp thoại, lượt lời thứ nhất có chức năng định hướng cho lượt lời thứ hai,
do đó cấu trúc tổ chức các lượt lời trong cặp thoại thường phải tuân theo những quy tắc chặt
chẽ. Cặp thoại thường bao gồm hai phát ngôn có quan hệ trực tiếp với nhau, giữa chúng tồn tại
một sự liên kết ngầm ẩn nhưng lại rất khăng khít: một kiểu phát ngôn đòi hỏi một kiểu phát
ngôn hồi đáp riêng tương ứng: hỏi - đáp; chào - chào; đề nghị - đáp ứng; ra lệnh - thi hành…
Hai phát ngôn trong cặp thoại sẽ do hai người khác nhau tạo ra, có thể gọi là vế thứ nhất và vế

hiện một cuộc thoại mới hoặc báo hiệu sự tiếp diễn của cuộc thoại. Cũng như vậy, lượt lời “ưa
dùng” có thể gọi là lượt lời “không được đánh dấu” do nó báo hiệu sự kết thúc hoặc sắp kết
thúc cuộc thoại đó. Trong thực tế hội thoại, những lượt lời ưa dùng thường thấy như: đề nghị đáp ứng; xin lỗi - chấp nhận; mời - nhận lời…; trong khi đó những lượt lời “ít dùng” thường
gặp như: yêu cầu - từ chối; buộc tội - thanh minh; ra lệnh - không thi hành…
Bên cạnh các lượt lời chủ yếu như trên, trong thực tế giao tiếp còn có thể xuất hiện một
loại lượt lời đặc biệt nữa, đó là lượt lời chêm xen. Loại lượt lời này có thể có nội dung hoàn
toàn không tương thích với chủ đề hội thoại song nó lại được coi là cần thiết trong những
không gian và thời gian cụ thể nhất định. Việc tạo ra lời chêm xen có thể do người đang trực
tiếp giữ lượt lời tạo nên, cũng có thể do người kia tạo nên, nhưng nó có tác dụng góp phần duy
trì không khí hội thoại, hoặc để bào chữa cho một hiện tượng, sự kiện nào vừa chen ngang
cuộc thoại, cũng có thể nó nhằm củng cố cho một nội dung được bàn đến trong hội thoại. Sự
xuất hiện của những lời chêm xen này đặc biệt hữu ích trong trường hợp cuộc hội thoại giữa
những người không đối diện trực tiếp, như gọi điện thoại,… Mặt khác trong nghiên cứu hội
thoại, nhiều trường hợp lời chêm xen còn là dụng ý của người giao tiếp, là một trong các chiến
lược giao tiếp quan trọng.
1.2.3. Một số vấn đề về “phân tích diễn ngôn hội thoại”
1.2.3.1. Ngữ cảnh
Có thể nói, ngữ cảnh là một trong những nhân tố giao tiếp quan trọng không thể bỏ qua
trong phân tích diễn ngôn, đặc biệt là phân tích diễn ngôn hội thoại. Cho đến nay cũng còn tồn
tại nhiều quan điểm khác nhau về ngữ cảnh. Theo tác giả David Nunan, ngữ cảnh có nhiệm vụ

- 19 -


quy chiếu tình hướng gây ra diễn ngôn và tình huống trong đó diễn ngôn được gắn vào. Theo
đó ngữ cảnh bao gồm hai kiểu: một là ngữ cảnh ngôn ngữ, tức là gồm tất cả các yếu tố ngôn
ngữ bao quanh hoặc đi kèm với sản phẩm diễn ngôn đang được phân tích; hai là kiểu ngữ cảnh
phi ngôn ngữ, bao gồm tất cả các yêu tố ngoài ngôn ngữ tạo nên môi trường nền rộng mà diễn
ngôn xuất hiện như các kiểu sự kiện giao tiếp, đề tài, mục đích giao tiếp, những người tham
dự… và những hiểu biết cơ sở, những giả định làm cơ sở cho sự kiện giao tiếp.

huống giao tiếp”. Theo tác giả, ngữ cảnh là một khái niệm động, do đó khi tất cả các yếu tố tạo
nên ngữ cảnh có sự tác động tổng hợp ở vào một thời điểm nhất định của cuộc giao tiếp và
được nhân vật giao tiếp ý thức được thì tạo nên ngữ huống giao tiếp. Thông qua ngữ huống mà
ngữ cảnh chi phối diễn ngôn; có thể nói rõ hơn tức là, bất kỳ sự thay đổi nào của các yếu tố tạo
nên ngữ cảnh được người đang giao tiếp chú ý và hành động theo thì sẽ tạo nên ngữ huống
giao tiếp. Bên cạnh đó, tác giả này cũng quan niệm ngữ cảnh được hiểu theo nghĩa khá rộng:
ngữ cảnh bao gồm các nhân tố có mặt trong một cuộc thoại nhưng nằm ngoài diễn ngôn. Theo
đó, ông cho rằng ngữ cảnh sẽ bao gồm rất nhiều yếu tố như nhân vật giao tiếp, hiện thực ngoài
diễn ngôn (đề tài diễn ngôn - thế giới khả hữu và hệ quy chiếu, hoàn cảnh giao tiếp, thoại
trường, ngữ huống giao tiếp).
Đến đây có thể thấy, mặc dù là một khái niệm quan trọng và thường gặp trong phân
tích diễn ngôn, song ngữ cảnh vẫn được quan niệm theo nhiều hướng khác nhau tuỳ theo góc
độ của người nghiên cứu. Tuy nhiên tựu trung lại có thể hiểu ngữ cảnh theo hai cách: Theo
nghĩa rộng, ngữ cảnh bao gồm toàn bộ các yếu tố ngôn ngữ và phi ngôn ngữ bao quanh, làm
nền và cũng quy định sự xuất hiện và tồn tại của sự kiện giao tiếp; và theo nghĩa hẹp, ngữ
cảnh chỉ được hiểu là toàn bộ các yếu tố ngôn ngữ bao quanh hay đi kèm theo sự kiện ngôn
ngữ đang được xét. Như vậy, tuỳ theo mục đích nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và góc độ
nghiên cứu mà có thể lựa chọn và sử dụng khái niệm ngữ cảnh theo những cách khác nhau.
1.2.3.2. Đặc điểm các nhân vật giao tiếp
Trong một cuộc thoại, nhân vật giao tiếp có thể được hiểu là những người tham gia
giao tiếp, tương tác với nhau bằng ngôn ngữ, dùng ngôn ngữ để tạo ra các lời nói, phát ngôn
của cuộc thoại. Các nhân vât giao tiếp sẽ được xác định vai giao tiếp ngay từ khi bắt đầu cuộc
thoại, và đặc điểm các vai giao tiếp này có thể được thay đổi trong tiến trình hội thoại.
Các nhân vật giao tiếp được quy định, ràng buộc lẫn nhau bởi một quan hệ chặt chẽ, đó
là quan hệ liên nhân. Mối quan hệ này được xét theo hai trục, đó là trục dọc - trục vị thế xã hội
(còn gọi là trục quyền lực) và trục ngang - trục thân sơ. Trước hết, ta cần biết rằng vị thế xã

- 21 -



- 22 -


tiếp ở trên đã bị đảo ngược. Ví dụ này chứng tỏ vị thế giao tiếp không phải bao giờ cũng đi
liền với vị thế xã hội hay trục quyền lực.
Trong quá trình giao tiếp, các nhân vật giao tiếp thể hiện các vị thế của mình thông qua
rất nhiều dấu hiệu ngôn ngữ cũng như phi ngôn ngữ, tuy nhiên ở đây chúng ta chỉ đề cập đến
các dấu hiệu ngôn ngữ. Thứ nhất, các nhân vật giao tiếp sẽ tuỳ thuộc vào vị thế của mình mà
lựa chọn hệ thống từ xưng hô thích hợp. Có thể coi đây là một trong những dấu hiệu đầu tiên
dễ nhận biết nhất về vị thế giữa các nhân vật giao tiếp.
Thứ hai, số lượng và chất lượng các lượt lời mà các nhân vật giao tiếp thực hiện trong
quá trình hội thoại cũng bộc lộ vị thế giao tiếp của từng người. Ví dụ, người ở vị thế cao
thường có xu hướng nói nhiều hơn, dài hơn những người ở vị thế thấp hơn; đôi khi người ở vị
thế cao còn có thể tranh lời, cướp lời người đối thoại mà không gặp phải sự phản kháng nào từ
phía đối phương (trường hợp sếp khiển trách nhân viên).
Thứ ba, cách thức tổ chức cuộc thoại cũng là một dấu hiệu thể hiện vị thế của các nhân
vật giao tiếp, như việc ai là người mở đầu hay kết thúc cuộc thoại, ai thường xuyên là người
mở thoại, bắt đầu các cặp thoại…
Thứ tư, việc tuân thủ nguyên lý cộng tác và nguyên lý lịch sự hay không trong quá
trình hội thoại cũng là một dấu hiệu dễ nhận biết. Người cố tình vi phạm hoặc vi phạm nhiều
lần các nguyên lý trên trong cuộc thoại, chứng tỏ có một vị thế cao hơn so với đối phương và
ngược lại.
Như vậy, có thể nói đặc điểm của các nhân vật giao tiếp trong hội thoại có tính chất
quyết định đến việc tạo lập các lời nói, phát ngôn trong cuộc thoại. Vị thế xã hội, vị thế giao
tiếp, mức độ thân mật… tất cả các yếu tố đó đều sẽ quy định chặt chẽ việc sử dụng ngôn ngữ,
cấu trúc hội thoại. Do đó, khi nghiên cứu diễn ngôn, đặc biệt là diễn ngôn hội thoại không thể
bỏ qua nhân tố này.
1.2.3.3. Các nguyên lý giao tiếp (lịch sự - cộng tác)
Khi tiến hành phân tích diễn ngôn hội thoại, bên cạnh những nhân tố giao tiếp đã nêu
trên thì cũng không thể bỏ qua các nguyên lý giao tiếp hội thoại, đặc biệt là nguyên lý cộng tác

thoại. Mặc dù vậy, trong thực tế giao tiếp cũng cần tỉnh táo phân biệt sự vi phạm nguyên lý
cộng tác đó là vô tình hay cố ý. Bởi rất nhiều trường hợp, người tham gia giao tiếp cố tình vi
phạm một trong các phương châm hội thoại để đạt tới một hành vi ngữ dụng nào đó. Đây cũng
là một trong những chiến lược giao tiếp hay được sử dụng và đem lại hiệu quả khá cao. Lúc
này, người vi phạm nguyên lý đã cố tình sử dụng phương tiện ngôn ngữ để tạo nên hàm ý,

- 24 -


hoặc để tạo nên một tác động mới vào đối tượng tiếp nhận. Như vậy, khi một người “không
tuân thủ” một phương châm hội thoại nào đó, ta cần suy xét xem liệu người đó có muốn đạt
tới một điều gì với hành vi ngôn ngữ đó không; tức là sự vi phạm có chủ đích đó có nhằm tới
một hiệu quả ngữ dụng hay không.
Tuy nhiên, khi đưa ra các phương châm hội thoại này, bản thân Grice cũng thừa nhận
rằng trong thực tế giao tiếp hoàn toàn có thể bổ sung thêm những phương châm khác. Đồng
thời ông cũng lưu ý rằng giá trị của những phương châm này không phải đều như nhau mà có
những phương châm cần được chú ý, tôn trọng hơn các phương châm kia. Bên cạnh đó, cũng
cần thấy rằng, các yếu tố mà Grice đưa ra không phải là bất di bất dịch và có tính phổ quát,
đúng với toàn bộ các ngôn ngữ thuộc mọi nơi trên thế giới. Bởi ngôn ngữ phản ánh văn hoá,
mà văn hoá của mỗi cộng đồng, mỗi dân tộc đều có những bản sắc riêng, khu biệt, do đó
nguyên lý cộng tác của Grice cũng có thể thay đổi theo từng nền văn hoá. Chúng ta chỉ có thể
thừa nhận rằng, những phương châm của Grice có thể xem là những chuẩn cứ để ta dựa vào đó
mà nhận ra đặc trưng của những nguyên tắc hội thoại có hiệu lực chi phối các cuộc hội thoại ở
những nền văn hoá khác nhau.
Như vậy, mặc dù không phải không có những hạn chế nhất định và không tránh khỏi
còn tồn tại nhiều ngộ nhận, phê phán lý thuyết của Grice song chúng ta vẫn cần nhìn nhận
đúng giá trị của lý thuyết này. Nguyên lý và những phương châm cộng tác của ông có tác dụng
giúp nhận biết và lý giải những hàm ngôn của phát ngôn. Nói cách khác, lý thuyết này đã cố
gắng lý giải cách người nghe làm thế nào có thể đi từ bình diện những cái được nói ra sang
bình diện của các nghĩa hàm ẩn.

Levinson. Trong công trình nghiên cứu của mình (1978), Brown và Levinson đã chủ trương
phân biệt thể diện âm tính và thể diện dương tính, còn gọi là thể diện tiêu cực và thể diện tích
cực. Có thể hiểu một cách đơn giản rằng thể diện âm tính là nhu cầu được độc lập, còn thể
diện dương tính là nhu cầu được liên thông với người khác. Hai hình thức âm tính và dương
tính của thể diện có quan hệ chặt chẽ, thậm chí là cộng sinh nhau trong cuộc thoại. Do đó một
người nếu vi phạm thể diện âm tính của dối phương cũng có nguy cơ xâm phạm thể diện
dương tính của họ. Tuy nhiên cũng không ngoại trừ trường hợp một người cố tình làm tổn hại
lịch sự âm tính của mình sẽ đồng thời có khả năng làm tăng thể diện dương tính của mình (nếu
hành động đó được đối phương chấp nhận) hay làm mất nốt thể diện dương tính của mình (nếu
hành động đó bị đối phương từ chối).

- 26 -


Trích đoạn Biểu hiện của quan hệ quyền thế trong hội thoại thông qua các tiểu từ tình thái trong tiếng Việt Biểu hiện của quan hệ quyền thế thông qua các kiểu phát ngôn mệnh lệnh, cầu khiến, vô nhân xưng Biểu hiện của quan hệ quyền thế thông qua các kiểu câu chủ động/bị động, cách nói trực tiếp/gián tiếp, câu đưa đẩy Biểu hiện của quan hệ quyền thế thông qua sự xuất hiện các lối nói chêm xen, hiện tượng tranh lời/cướp lời… Biểu hiện của quan hệ quyền thế thông qua việc tuân thủ các nguyên lý hội thoại (nguyên lý cộng tác, nguyên lý lịch sự)
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status