Khảo sát và nghiên cứu một số truyện thơ tiêu biểu của người Thái ở Việt Nam - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN


L
L
Ê
ÊT
T
H
H

ỊH
H
I
I
V
V
À
ÀN
N
G
G
H
H
I
I
Ê
Ê
N
NC
C


U
U
H
H
Ơ
ƠT
T
I
I
Ê
Ê
U
UB
B
I
I


U
UC
C



V
V
I
I


T
TN
N
A
A
M
M
L
L

V
V
Ă
Ă
N
NH
H


C
C Hà Nội – 2013



N
N K
K
H
H


O
OS
S
Á
Á
T
TV


T
TS
S

ỐT
T
R
R
U
U
Y
Y


N
NT
T
H
H
Ơ


N
N
G
G
Ư
Ư


I
IT
T
H
H
Á
Á
I
IỞ
ỞV
V
I

nn
n
g
g
à
à
n
n
h
h
:
:V
V
ă
ă
n
nh
h


c


:
:6
6
2
22
2
2
23
3
6
60
0
1
1

ĨV
V
Ă
Ă
N
NH
H


C
C N
N
g
g
ư

h
o
o
a
ah
h


c
c
:
:

G
G
S
S
.
.
T
T
S
S




T
T
S
S
.
.N
N
g
g
u
u
y
y


n
nT

BẢNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT

HTTVV.Nam : Hợp tuyển thơ văn Việt Nam
HTVH.Lào : Hợp tuyển văn học Lào
KHC.Thần : Kim hồ chi thần
Nxb : Nhà xuất bản
TĐVHĐN.Á : Từ điển văn học Đông Nam Á
TTDT.Thái : Truyện thơ dân tộc Thái
TTTOT.Bắc : Truyện thơ Thái ở Tây Bắc
TTTCDG.Thái : Truyện thơ trường ca dân gian Thái
TTVHCDTTSV.Nam : Tuyển tập văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam
TTVHDGCDTTSV.Nam : Tuyển tập văn học dân gian các dân tộc thiểu số
Việt Nam
TTVHINOV.Nam : Tuyển tập văn học ít người ở Việt Nam
TTVHV.Nam : Tuyển tập văn học Việt Nam
TTVĐDTOMTN.An : Truyện thơ và đồng dao Thái ở miền Tây Nghệ An
tr. : trang
VHDGT.Lan : Văn hóa dân gian Thái Lan
VHDTI.Người : Văn học dân tộc ít người
VHTN.An : Văn hóa Thái Nghệ An
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề 3
2.1. Điểm lại việc sưu tầm, công bố truyện thơ của dân tộc Thái ở Việt Nam 3
2.2. Lịch sử nghiên cứu truyện thơ các dân tộc thiểu số Việt Nam nói chung và
truyện thơ Thái ở Việt Nam nói riêng 8

2.1.4. Mô hình kết cấu cốt truyện 90
2.2. Nhân vật truyện thơ Thái 100
2.2.1. Khảo sát loại hình nhân vật truyện thơ 100
2.2.2. Xu hướng biến đổi của nhân vật truyện thơ so với dân ca và truyện cổ 114
2.3. Ngôn ngữ truyện thơ Thái 118
2.3.1. Chất trữ tình trong ngôn ngữ truyện thơ Thái 118
2.3.2. Hiện tượng đan xen ngôn ngữ và việc sử dụng điển cố, điển tích 129
2.3.3. Công thức mở đầu – kết thúc và chuyển đoạn 134
CHƢƠNG 3: TRUYỆN THƠ THÁI Ở VIỆT NAM TRONG TƢƠNG QUAN SO
SÁNH LOẠI HÌNH VỚI TRUYỆN THƠ THÁI Ở MỘT SỐ NƢỚC 143
3.1. Truyện thơ Thái ở Vân Nam (Trung Quốc) và một số nƣớc Đông
Nam Á 143
3.1.1. Truyện thơ Thái ở Vân Nam (Trung Quốc) 143
3.1.2. Truyện thơ Thái ở Thái Lan 151
3.1.3. Truyện thơ Thái ở Lào 161
3.2. Sự tƣơng đồng và khác biệt giữa truyện thơ Thái ở Việt Nam với truyện
thơ Thái ở Vân Nam (Trung Quốc) và một số nƣớc Đông Nam Á 168
3.2.1. Nguồn đề tài cốt truyện 169
3.2.2. Kết cấu cốt truyện 175
3.2.3. Nhân vật 184
3.3. Lý giải nguyên nhân của sự tƣơng đồng và khác biệt 188
3.3.1. Lý giải nguyên nhân của sự tương đồng 189
3.3.2. Lý giải nguyên nhân của sự khác biệt 196
KẾT LUẬN 204
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ 208
TÀI LIỆU THAM KHẢO 209
PHỤ LỤC 226

2
) do dịch giả Điêu Chính Ngâu thực hiện
vào năm 1957. Tiếp nối hành trình của Điêu Chính Ngâu, nhiều truyện thơ Thái
sau đó lần lượt được sưu tầm, biên dịch bởi các nhà sưu tầm, các dịch giả giàu

1
Trước đây có tên là Truyện Nôm – nguồn gốc và bản chất thể loại (1992)
2
Tên tác phẩm là chữ dùng của dịch giả Điêu Chính Ngâu 2
tâm huyết như: Mạc Phi, Lò Văn Cậy, Vương Trung, Quán Vi Miên (La Quán
Miên), Tô Hợp, Đỗ Thị Tấc,… Đó là chưa kể đến những công trình nghiên cứu
có ý nghĩa quan trọng như: luận án Tiến sĩ Đặc điểm thi pháp truyện thơ các dân
tộc thiểu số của PGS. Lê Trường Phát, luận văn cao học của tác giả Lò Bình
Ninh, Ngô Thị Thanh Quý, Lò Xuân Dừa, Nguyễn Ngọc Anh… Những đề tài
nghiên cứu này đã góp phần khẳng định truyện thơ Thái có ý nghĩa quan trọng, là
một bộ phận không thể thiếu của văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam. Tuy
nhiên, việc nghiên cứu truyện thơ Thái từ trước đến nay đang còn khiêm tốn so
với tầm vóc của nó trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam. Chúng tôi nhận
thấy rằng truyện thơ của dân tộc Thái nhìn chung vẫn là một đối tượng có sức
hấp dẫn mạnh mẽ để đi sâu nghiên cứu. Bằng việc nghiên cứu truyện thơ Thái
thông qua một số tác phẩm tiêu biểu, chúng tôi muốn góp phần nhỏ bé của mình
trong hành trình đi chinh phục và tìm kiếm những giá trị đích thực của cuộc sống.
1.4. Hiện nay, thể loại truyện thơ của dân tộc Thái ở Việt Nam được sưu tầm và
công bố với một số lượng lớn tác phẩm. Tuy nhiên, khoảng nửa số lượng tác
phẩm ấy vẫn chưa được dịch sang tiếng phổ thông. Do vậy, đề tài luận án chỉ
giới hạn nghiên cứu qua một số tác phẩm tiêu biểu (cụ thể là những tác phẩm đã
được dịch sang tiếng phổ thông). Việc nghiên cứu truyện thơ của dân tộc Thái ở

soạn bản Xống chụ xon xao (tiếng Thái). Ở bản này những chỗ lầm lẫn trong tác
phẩm đã được chỉnh sửa lại, cho nên diễn biến và tình tiết truyện có sự nhất quán
từ đầu đến cuối tác phẩm. Tiếp năm sau đó, dựa vào bản tiếng Thái in năm 1960
Nxb Văn hóa (Hà Nội) đã công bố bản dịch tiếng Việt, ở bản dịch này nhà văn
Mạc Phi đã khảo dị và chú thích hết sức cẩn thận và kĩ lưỡng.
Năm 1962, truyện thơ Thái thứ hai được trích dịch đó là Khun Lú nàng Ủa
(Mạc Phi trích dịch). Bản truyện thơ này cùng với truyện Xống chụ xon xao được
đưa vào phần Văn học thiểu số trong bộ Hợp tuyển thơ văn Việt Nam do Nông
Quốc Chấn, Nông Minh Châu, Mạc Phi, Hoàng Thao, Hà Văn Thư biên soạn.
Đến tháng 8/1962 Sở Văn hóa khu tự trị Thái Mèo đã cho công bố một văn bản
Khun Lú nàng Ủa in máy, nguyên văn tiếng Thái, dài 1912 câu. Văn bản này
được sưu tầm ở huyện Mường La – Sơn La. 4
Năm 1964, bản dịch Chàng Lú nàng Ủa của Mạc Phi được xuất bản tại
Nxb Văn học, Hà Nội. Ở cuốn sách này, Mạc Phi đã khảo dị, chú thích rất kĩ
lưỡng, cẩn thận và đặc biệt là phần phụ lục tác giả đã đưa thêm truyện cổ cùng
tên của dân tộc Xá để bạn đọc có điều kiện so sánh, đối chiếu.
Năm 1973, truyện thơ Khăm Panh xuất bản lần đầu tiên bởi Ty Văn hóa
Thanh Hóa năm 1973, xuất bản lần tiếp theo bởi Nxb Văn hóa dân tộc năm 1977.
Ở cuốn sách này có cả phần phiên âm tiếng Thái và bản dịch sang ngôn ngữ phổ
thông, do Bùi Văn Tiên, Vương Anh, Hoàng Anh Nhân đảm nhiệm, Vũ Ngọc
Khánh viết lời giới thiệu.
Năm 1973, truyện thơ Xống chụ xon xao (Mạc Phi dịch) được Nxb Văn
học tái bản, có sửa chữa cẩn thận. Tuy nhiên, ở cuốn sách này chỉ có bản dịch
sang ngôn ngữ phổ thông, không có phần phiên âm.
Năm 1977, Nxb Văn hóa dân tộc tái bản Xống chụ xon xao (dùng bản dịch
của Mạc Phi) và Khăm Panh (dùng bản dịch của Bùi Văn Tiên, Vương Anh,
Hoàng Anh Nhân đã xuất bản năm 1973).

rằng “hai tác phẩm đầu thuộc về dân ca, không phải truyện thơ” [97, tr. 30].
Trong hai năm 1997-1998, Hội Văn học Nghệ thuật và Sở Văn hoá Thông
tin – Thể thao Sơn La công bố bộ sách Truyện thơ trƣờng ca dân gian Thái gồm
ba tập bằng tiếng Thái cổ (không có bản phiên âm tiếng Thái và bản dịch sang
ngôn ngữ phổ thông), trong đó tập 1 giới thiệu mười truyện: Xống chụ xon xao,
Khun Lú nàng Ủa, Ý Đón Ý Đăm, Ý Nọi Náng Xƣa, Náng Ý Tú, Náng Phôn Hom,
Tạo Láng Hôm Náng Hai, Hiến Hom, Tóng Đón Ăm Ca, Xông Ca Xy Cáy; tập 2
giới thiệu mười một truyện thơ: Quắm Khun Tính, Quắm Ca Đông, Quắm Kén
Kẻo, Út Ỏ, Ngú Háo, U Thến, Thi Thốn, Pha Mệt, Pha Cáng, Thi Thặt, Náng
Cống Cắm Đanh; tập 3 giới thiệu hai truyện: Trái Kắm, Tạo Sam Lƣớng và nàng
Inh Lái.
Năm 1999, truyện thơ Ý Nọi nàng Xƣa (Lò Ngọc Duyên sưu tầm và dịch)
được công bố bởi Nxb Văn hóa dân tộc. Cuốn sách gồm năm phần: Lời giới
thiệu, tóm tắt nội dung, phần dịch sang ngôn ngữ phổ thông, phần tiếng Thái,
phần chữ Thái cổ.
Cũng năm 1999, Tuyển tập Văn học dân gian Việt Nam do Viện Văn học
chủ trì đã được công bố. Công trình gồm năm tập (Nxb Giáo dục ấn hành), trong 6
đó tập V dành cho sử thi và truyện thơ. Phần truyện thơ Thái có bốn tác phẩm
được biên soạn và tuyển chọn, đó là: Khun Lú nàng Ủa, Tiễn dặn ngƣời yêu, Tạo
Hủn Lu nang Ùa Piểm (Tào Hủn Lu Náng Ông Yềm), Chim Yểng. Các truyện thơ
này được biên soạn chỉ có phần dịch thơ sang ngôn ngữ phổ thông, không có
phần phiên âm tiếng Thái và chữ Thái cổ.
Năm 2000, Tổng tập Văn học Việt Nam do Nxb Khoa học Xã hội tái bản
gồm 42 tập, phần truyện thơ các dân tộc thiểu số gồm truyện thơ Thái, trong đó
có ba tác phẩm: Tiễn dặn ngƣời yêu, Khun Lú nàng Ủa, U Thềm (những truyện
này đã được công bố năm 1996).
Cũng năm 2000, cuốn sách Tiễn dặn ngƣời yêu (Xống chụ xon xao) do

Thái cổ, phiên âm tiếng Thái và bản dịch sang tiếng phổ thông.
Năm 2011, truyện thơ Khủn Tinh (Quán Vi Miên sưu tầm và biên dịch)
được in trong cuốn Văn hóa Thái Nghệ An do Nxb Lao động ấn hành. Truyện thơ
này được Quán Vi Miên phiên âm ra tiếng Thái và dịch sang tiếng phổ thông.
Cũng năm 2011, truyện thơ Kén Kẻo (Vương Trung biên dịch) được in
trong cuốn sách Táy pú xấc – Kén Kẻo (Truyện thơ Thái ở Tây Bắc) do Nxb Lao
động ấn hành. Theo tác giả Vương Trung thì Táy pú xấc cũng là truyện thơ,
nhưng theo chúng tôi đây là tác phẩm thuộc thể loại sử thi nên chúng tôi không
đưa tác phẩm này vào đối tượng nghiên cứu. Truyện thơ Kén Kẻo được Vương
Trung phiên âm tiếng Thái và dịch sang tiếng phổ thông.
Như vậy, từ năm 1957 đến nay số lượng truyện thơ của dân tộc Thái ở
Việt Nam được sưu tầm và công bố là khá phong phú, đa dạng. Hiện nay, đã có
33 truyện thơ được công bố, trong đó 12 truyện thơ chỉ mới được công bố bằng
bản chữ Thái cổ và 21 truyện thơ được phiên âm tiếng Thái và dịch sang tiếng
phổ thông. Những truyện thơ đã được phiên âm tiếng Thái và dịch sang tiếng phổ
thông đó là: Xống chụ xon xao, Khun Lú Nàng Ủa, Hiến Hom Cầm Đôi, Tạo
Sông Ca nàng Si Cáy, Ý Nọi nàng Xƣa, Tình anh em, Tóng Đón Ăm Ca, Khăm
Panh, Ú Thêm, Tạo Hủn Lu Nang Ùa Piểm, Nàng Căm Chàng Ín, Khủn Tinh,
Kén Kẻo, Cẩu tô cốp, Chim Yểng, Chàng Đông Vinh và nàng Tiên Út, Tạo
Hoàng Tíu và nàng Công chúa, Tạo An Đức và nàng Chiêu Công, Tạo Xam
Lƣơng và nàng Anh Đài, Lang Chang Nguyên, Út Ỏ về Kinh. 8
2.2. Lịch sử nghiên cứu truyện thơ các dân tộc thiểu số Việt Nam nói chung và
truyện thơ Thái ở Việt Nam nói riêng
2.2.1. Những công trình nghiên cứu về truyện thơ các dân tộc thiểu số Việt Nam
Truyện thơ các dân tộc thiểu số là thể loại độc đáo trong bộ phận văn học
dân gian Việt Nam. Thể loại truyện thơ từ khi ra đời đã thu hút sự quan tâm của
nhiều nhà khoa học và giới nghiên cứu trong cả nước. Trong những năm 60,

Hà Nội Văn học dân gian các dân tộc ít ngƣời đã bàn về truyện thơ các dân tộc
thiểu số một cách toàn diện, tổng thể. Trong công trình này, căn cứ theo phương
thức diễn xướng, lưu truyền và nguồn gốc kế thừa của truyện thơ các dân tộc, tác
giả chia thể loại truyện thơ thành bốn nhóm lớn sau đây [150, tr. 396-540]: nhóm
truyện thơ gắn liền với sinh hoạt nghi lễ dân gian, nhóm truyện thơ kế thừa
truyền thống tự sự của truyện cổ dân gian, nhóm truyện thơ kế thừa truyền thống
trữ tình của thơ ca, nhóm truyện thơ thiên về khuynh hướng thuyết giáo đạo đức
của truyện Nôm Kinh. Sau khi phân tích một số tác phẩm cụ thể ở từng nhóm
truyện và chỉ ra đặc điểm riêng của từng nhóm, tác giả đi đến kết luận “Truyện
thơ một mặt kế thừa và phát triển truyền thống tự sự của truyện cổ dân gian và
thơ ca dân gian, một mặt tiếp thu ảnh hưởng của nền văn hóa bác học và đặc biệt
là của văn học bác học Việt… Ở một số dân tộc ít người thể loại truyện thơ đánh
dấu bước phát triển mới của văn học dân gian” [150, tr. 450]. Như vậy, với công
trình nghiên cứu này truyện thơ đã được xem xét một cách toàn diện và tổng thể
về mặt nội dung và cả phương diện thi pháp.
Việc nghiên cứu truyện thơ các dân tộc thiểu số với tư cách là thể loại độc
đáo được đánh dấu bằng công trình nghiên cứu của PGS. Lê Trường Phát Đặc
điểm thi pháp truyện thơ các dân tộc thiểu số (1997). Trong công trình nghiên
cứu của mình, sau khi xem xét truyện thơ các dân tộc thiểu số Việt Nam trong
bối cảnh truyện thơ các nước Đông Nam Á, tác giả đi sâu tìm hiểu đặc điểm thi
pháp của truyện thơ các dân tộc thiểu số qua việc khảo sát chủ yếu trên 6 truyện
thơ Thái và 14 truyện thơ Tày. Về mô hình cốt truyện của truyện thơ các dân tộc
thiểu số, tác giả đã đưa ra nhận xét: mô hình kết cấu cốt truyện có “kết thúc bi
kịch” là mô hình kết cấu phổ biến và tiêu biểu. Mô hình kết cấu cốt truyện của
truyện thơ các dân tộc thiểu số gồm với ba chặng: Gặp gỡ và yêu nhau – Bị ngăn
trở, rẽ duyên – Một hoặc cả hai đều chết. Ở tất cả các nhóm truyện, hầu như kết
cấu cốt truyện kiểu “kết thúc bi kịch” chiếm tỷ lệ lấn át kết cấu cốt truyện kiểu
“kết thúc có hậu”, riêng ở nhóm truyện thơ Tày – Nùng thì tình hình ngược lại.
Về nhân vật truyện thơ, qua việc phân tích một số truyện thơ tiêu biểu, tác giả


nghiên cứu của tác giả cũng đã vạch ra cho chúng tôi hướng đi để nghiên cứu
truyện thơ của dân tộc Thái. 11
2.2.2. Lịch sử nghiên cứu truyện thơ Thái ở Việt Nam
Nghiên cứu truyện thơ của dân tộc Thái ở Việt Nam cho đến nay chỉ mới
dừng lại đa số ý kiến của những nhà sưu tầm, dịch và giới thiệu ở một số tác
phẩm lẻ tẻ chứ chưa có một công trình nghiên cứu nào xem xét truyện thơ trong
toàn cảnh của một thể loại văn học. Tuy nhiên, những ý kiến đánh giá ở góc độ
này hay góc độ khác của các nhà nghiên cứu lại là những ý kiến quý báu cho
chúng tôi khi nghiên cứu thể loại truyện thơ của dân tộc Thái ở Việt Nam dưới
góc độ thi pháp.
Lịch sử nghiên cứu truyện thơ Thái ở Việt Nam được bắt đầu với bài giới
thiệu về truyện thơ Tiễn dặn ngƣời yêu của Điêu Chính Ngâu vào năm 1957. Bài
viết đề cập đến truyện thơ Tiễn dặn ngƣời yêu ở nhiều khía cạnh khác nhau. Về
hoàn cảnh ra đời của truyện thơ, Tiễn dặn ngƣời yêu được “ức đoán” có thể được
sáng tác từ thời kỳ dân tộc Thái đã yên cư ở Tây Bắc Việt Nam và bắt đầu phồn
thịnh, nghĩa là tác phẩm được hình thành trong không gian và thời gian bản địa
Việt Nam. Dù chỉ dừng lại ở việc “ức đoán” nhưng phần nào tác giả cũng đã
khẳng định về tính dân tộc của tác phẩm. Vấn đề thứ hai lời giới thiệu đề cập đến
là tình cảm yêu mến trân trọng của nhân dân đối với tác phẩm. Lời giới thiệu cho
biết rằng nhiều người đã thuộc lầu toàn bộ truyện thơ này và khi hát lên những
lời thơ trong tác phẩm thì “chị hái rau quên bẵng hái rau, anh cày ruộng buông
tay cày”, rằng những ai chép hộ Tiễn dặn ngƣời yêu có thể được trả công “bằng
giá một con trâu”. Vấn đề thứ ba là tác phẩm chủ yếu được lưu truyền bằng con
đường truyền miệng, được hát lên trong sinh hoạt văn nghệ dân gian, được trích
ra từng đoạn để hát lên trong sinh hoạt văn nghệ dân gian. Vấn đề thứ tư mà lời
giới thiệu đã nêu lên là giá trị phản ánh xã hội của tác phẩm và giá trị về nghệ
thuật sử dụng ngôn ngữ của tác phẩm. Đó là thứ ngôn ngữ giản dị mà trau chuốt,

ngữ truyện thơ được xây dựng trên cơ sở ngôn ngữ vùng chín châu giữa, đó là
thứ ngôn ngữ hàng ngày của nhân dân được nâng cao lên, trau chuốt thêm, ngôn
ngữ giàu hình ảnh “những hình ảnh gần gũi, cụ thể, đậm đà màu sắc dân tộc”
[154, tr. 50]. Như vậy, bài viết đã đi sâu phân tích một cách khá toàn diện và
tổng thể về truyện thơ ở hai phương diện: giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật.
Cũng tiếp tục nghiên cứu về truyện thơ Xống chụ xon xao, đáng chú ý là
bài viết Đôi lời về Xống chụ xon xao của tác giả Nguyễn Khôi, sau khi cho ra mắt
độc giả với cuốn sách Tiễn dặn ngƣời yêu bằng thể song thất lục bát. Theo tác 13
giả, nhan đề truyện thơ đúng ra phải gọi là “Tiễn dặn bạn tình”, còn dịch Xống
chụ xon xao thành Tiễn dặn ngƣời yêu cũng chưa lột tả hết ý nghĩa hàm ẩn. Chữ
“chụ” của người Thái có nghĩa là “người tình” mà không phải là vợ hoặc chồng.
Từ “xon” có nghĩa là “dặn” nhưng còn có nghĩa là “học, bài học”; nghĩa sau mới
là nghĩa chính. Tuy nhiên, với cách mà tác giả diễn xuôi truyện Xống chụ xon
xao thành thể thơ song thất lục bát mặc dù giúp cho người đọc dễ nhớ, dễ nghe
nhưng đã vô tình làm mất đi những giá trị độc đáo cũng như những cái hay, cái
đẹp của tác phẩm vốn là sản phẩm tinh thần quý báu nhất của dân tộc Thái.
Năm 1964, truyện thơ Khun Lú nàng Ủa ra mắt bạn đọc cùng với lời giới
thiệu của Mạc Phi, viết ở Chiềng Cơi – Lai Châu tháng 5/1964. Trong lời giới
thiệu về vấn đề văn bản, tác giả khẳng định bản sách Khun Lú nàng Ủa trọn vẹn
từ trang đầu đến trang cuối “được lưu trữ ở Sở Văn hóa Thông tin Khu tự trị Tây
Bắc có tới trên 20 bản” [156, tr. 5]. Tuy nhiên, những bản sách này có hai loại:
một bản không có phần đầu, vào truyện bằng ngay sự việc xảy ra dưới trần thế;
một loại bản gồm một đoạn lời nói trước của tác giả và thêm 21 câu đầu truyện
trước khi vào phần truyện miêu tả mối tình Lú - Ủa dưới trần thế. Bản thứ hai là
bản mà Mạc Phi sử dụng để dịch sang ngôn ngữ phổ thông. Lời giới thiệu cũng
đề cập đến nội dung tác phẩm, theo Mạc Phi “Chàng Lú nàng Ủa là truyện một
mối tình xảy ra giữa một đôi trai gái thuộc dòng dõi tạo nàng quyền quý. Đôi trai

mường thanh bình, trù phú. Về xuất xứ và thời thời điểm ra đời của truyện thơ
Khun Lú nàng Ủa cho đến nay vẫn chỉ dừng lại ở những ý kiến đó của Mạc Phi.
Thiết nghĩ rằng ý kiến của Mạc Phi là hợp lý. Tuy nhiên, người đọc mong muốn
tác giả có những bằng chứng lập luận chặt chẽ và thuyết phục hơn để khẳng
định luận điểm của mình trong tình hình hiện nay. Lời giới thiệu của Mạc Phi
dù chỉ giới hạn trong một bài viết nhưng lại xem xét, phân tích khá toàn diện và
tổng thể về nhiều mặt của truyện thơ. Những ý kiến mà tác giả đưa ra trong bài
viết là những ý kiến mà luận án có thể kế thừa khi nghiên cứu thể loại truyện thơ.
Truyện thơ Khăm Panh được xuất bản lần đầu bởi Ty Văn hóa Thanh Hóa
vào năm 1973 kèm theo lời giới thiệu của PGS. Vũ Ngọc Khánh. Lời giới thiệu
có nhắc đến những dấu vết còn lại ngoài đời thực của tác phẩm (ở vùng Cổ Lũng,
Bá Thước, Thanh Hóa). Tuy nhiên, tác giả cũng cho rằng “có lẽ đây là một câu
chuyện cổ bắt nguồn từ một sự thực lịch sử, xã hội nào chăng? Điều đáng chú ý
là câu chuyện không mang màu sắc cổ kính của những truyền thuyết hay thần 15
thoại như nhiều truyện cổ hoang đường vẫn phổ biến. Khăm Panh hoàn toàn là
một truyện cổ thế sự, trong đó yếu tố thần kỳ nhạt hẳn đi so với yếu tố đấu tranh
xã hội” [172, tr. 7]. Cũng theo PGS. Vũ Ngọc Khánh thì “Khăm Panh là một
truyện thơ tự sự. Xét theo nghiêm cách thì đây chưa phải là một tác phẩm toàn
bích” bởi vì “mạch tự sự thường không đọng lại mà cứ lan tỏa ra chiều ngang,
sẵn sàng sa vào nhiều chi tiết, ngổn ngang chen chúc như nhiều mảnh đời ráp lại”
[172, tr. 9].
Trong tạp chí Văn hóa dân gian, số 2, năm 1984, tác giả Đỗ Hồng Kỳ có
bài “Truyện thơ Khăm Panh – Khúc ca bi tráng của đồng bào Thái chống chủ
nghĩa bành trƣớng Đại Hán”. Tác giả cho rằng “Truyện thơ Khăm Panh đã tái
hiện khá sinh động cuộc chiến đấu bền bỉ và anh dũng của đồng bào Thái chống
sự xâm lược của bọn phong kiến Hán và tôi tớ của chúng, để bảo vệ cộng đồng
dân tộc, bảo vệ cuộc sống yên vui hạnh phúc của mình” [99, tr. 29]. Rõ ràng, nếu

viết “Thử tìm nguồn gốc của truyện U Thềm của ngƣời Thái ở Việt Nam” (truyện
thơ Ú Thêm còn có tên khác là U Thềm). Bài viết đã đưa ra cách tiếp cận truyện
thơ trong mối quan hệ khu vực. Ông phát hiện ra rằng truyện thơ là sự kết hợp
hai type: type truyện chàng Rothixen (hay type quỷ móc mắt các bà hoàng hậu)
và type truyện người trần lấy vợ tiên (type con gái thượng giới xuống trần tắm bị
người trần bắt giữ lại làm vợ, sau đó bỏ về trời và người vợ đi tìm trên thượng
giới). Qua việc so sánh với các kiểu truyện cùng thể loại của năm nước Đông
Nam Á, tác giả đưa ra nhận xét “tuy cùng tiếp nhận từ hai type truyện của Ấn
Độ, các bản của Lào, Cămpuchia, Thái Lan, Miến Điện đã giữ gần nguyên vẹn
vũ trụ, văn hóa Ấn Độ và hệ thống type, tiết – motif của từng truyện; trong khi đó
người Thái ở Việt Nam lại có xu hướng tước bỏ nhiều yếu tố đặc trưng của vũ trụ
và văn hóa Ấn Độ và mức thay đổi một số tiết, motif cũng lớn hơn” [50, tr. 13].
Tác giả bài báo đã giải thích nguyên nhân của việc xử lý ấy là vì người Thái ở
Việt Nam đã biến đổi các type đó cho phù hợp với quan niệm đạo đức, vũ trụ,
văn hóa của mình; trong khi đó các nước khác lại tiếp nhận nó cùng với cả nền
văn hóa, tôn giáo Ấn Độ.
Bài giới thiệu của tác giả Vương Anh trong cuốn sách Tiếp cận văn hóa
bản Thái xứ Thanh đã đi sâu phân tích cốt truyện Ú Thêm để từ đó đưa ra kết
luận về mối giao lưu văn hóa Thái với văn hóa Đông Nam Á. Ở đây, chúng ta
thấy có sự đồng nhất trong quan điểm của tác giả với Đặng Nghiêm Vạn khi cho 17
rằng truyện Ú Thêm dựa vào nội dung hai câu chuyện U Thến và Tạo Thi Thốn.
Phân tích nhân vật Ú Thêm, Vương Anh nhận xét nhân vật đó mang dáng dấp
của người anh hùng Ramayana (Ấn Độ), Thi Thốn (Lào)… đó là những chàng
trai tuấn tú, tài hoa, ngay thẳng, dũng cảm, hiếu thảo, thủy chung [10].
Nhìn chung, trong mỗi lần công bố một tác phẩm truyện thơ thường có bài
bình luận, giới thiệu về nội dung, nghệ thuật; đồng thời giới thiệu về thời điểm,
xuất xứ, hạn chế của tác phẩm. Đúng như ý kiến của PGS. Lê Trường Phát đã

Như vậy, chúng tôi vừa điểm lại toàn bộ lịch sử của công tác sưu tầm và
nghiên cứu truyện thơ của dân tộc Thái ở Việt Nam từ trước đến nay ở tất cả các
phương diện. Chúng tôi có một số nhận xét như sau:
Về công tác sưu tầm biên dịch: các nhà sưu tầm, các dịch giả giàu tâm
huyết như: Điêu Chính Ngâu, Mạc Phi, Hà Văn Ban, Vương Anh, Lò Văn Cậy,
Quán Vi Miên, chúng tôi đánh giá rất cao đóng góp lớn lao của họ. Nếu không
có những người luôn nặng lòng với cội nguồn dân tộc, luôn có ý thức gìn giữ trân
trọng nguồn văn hóa truyền thống dân tộc, không có ý chí quyết tâm và nghị lực
phi thường thì làm sao có những bản Xống chụ xon xao, Khun Lú nàng Ủa, Ú
Thêm… như ngày hôm nay. Chính họ là những người đã đặt bàn chân đầu tiên đi
khám phá nền văn hóa độc đáo và giàu bản sắc dân tộc của người Thái, để đến
hôm nay chúng tôi mới có điều kiện tiếp nối công việc đầy ý nghĩa và giá trị này.
Về lịch sử nghiên cứu truyện thơ các dân tộc thiểu số Việt Nam nói chung
và truyện thơ của dân tộc Thái nói riêng, nhìn chung đã đạt được những thành
tựu bước đầu. Từ những bài giới thiệu trong các cuốn sách, tuyển tập… đến
những bài viết được công bố ở các tập san, tạp chí cho đến những luận án Tiến sĩ,
Thạc sĩ đều tập trung xem xét và nghiên cứu truyện thơ Thái ở nhiều khía cạnh
khác nhau. Những công trình nghiên cứu này đã có ý nghĩa quan trọng mở ra cho
chúng ta con đường để tiếp cận văn học dân gian nói chung. Đáng ghi nhận là
công lao của các nhà nghiên cứu như GS. TSKH Phan Đăng Nhật, PGS. Võ
Quang Nhơn, PGS. Lê Trường Phát, PGS. Vũ Anh Tuấn… Họ là những người có
các công trình nghiên cứu có chất lượng cao và có giá trị khoa học thực sự. Tuy
nhiên, so với số lượng công trình nghiên cứu về các thể loại khác như: truyện cổ
tích, sử thi, dân ca thì số lượng công trình nghiên cứu về thể loại truyện thơ trong
đó có truyện thơ Thái còn khá khiêm tốn. Mặt khác, đối với việc khảo sát, nghiên
cứu một cách toàn diện và đầy đủ về truyện thơ của dân tộc Thái ở Việt Nam thì 19
chưa có một công trình nào, có chăng chỉ là việc khảo sát từng tác phẩm lẻ tẻ,


3
Chữ dùng của PGS. Lê Trường Phát trong bài viết “Hiện tượng đan xen ngôn ngữ trong
truyện thơ các dân tộc thiểu số”, Tạp chí Ngôn ngữ và Đời sống (số 1), 1998. 20
truyện thơ của dân tộc Thái ở Lào, Thái Lan và Vân Nam (Trung Quốc) về
nguồn khai thác đề tài cốt truyện, kết cấu cốt truyện và nhân vật truyện thơ.
3.3. Phạm vi tư liệu khảo sát
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi đã sử dụng nhiều nguồn tư liệu khác nhau:
- Chúng tôi sử dụng tư liệu về truyện thơ Thái ở Việt Nam trong các công trình
sưu tầm, biên soạn đã xuất bản. Bộ phận tư liệu này bao gồm các truyện thơ được
công bố trong các tuyển tập như: Truyện thơ, trƣờng ca dân gian Thái (gồm ba
tập) do Hội Văn học Nghệ thuật và Sở Văn hóa Thông tin – Thể thao Sơn La
biên soạn; Tuyển tập văn học ít ngƣời ở Việt Nam do GS. Đặng Nghiêm Vạn
(chủ biên) biên soạn cùng các cộng sự; Tuyển tập văn học dân tộc ít ngƣời do
Nông Quốc Chấn (chủ biên) biên soạn cùng các cộng sự; Truyện thơ và đồng dao
Thái ở miền Tây Nghệ An do La Quán Miên sưu tầm và giới thiệu; Truyện thơ
dân tộc Thái (gồm ba tập) do Đỗ Thị Tấc chủ biên, Điêu Văn Thuyên sưu tầm và
biên dịch… Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng tư liệu là các truyện thơ được công
bố một cách riêng lẻ như: truyện Khăm Panh do Bùi Văn Tiên, Vương Anh,
Hoàng Anh Nhân biên soạn (1977); Ú Thêm do Hà Văn Ban, Hoàng Anh Nhân
biên soạn (1990), truyện thơ Ý Nọi nàng Xƣa do Lò Ngọc Duyên sưu tầm và giới
thiệu (1999), truyện Cẩu tô cốp do Vi Hoàng Sương sưu tầm và biên dịch (2009),
truyện thơ Kén Kẻo do Vương Trung sưu tầm và biên dịch (2011),… Ngoài ra,
chúng tôi sử dụng các tư liệu đã điền dã, sưu tầm tại các địa phương ở vùng Tây
Bắc và miền núi hai tỉnh Thanh Hóa – Nghệ An. Cụ thể là vào tháng 12 năm
2010, chúng tôi tiếp xúc với nhà Thái học Quán Vi Miên và sưu tầm được truyện
thơ Tạo Láng Xôm lưu truyền ở Nghệ An. Vào tháng 6 năm 2011, tại thành phố


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status