khảo sát tình hình bệnh parvovirus trên chó tại hà nội và nghiên cứu một số đặc điểm bệnh lý của bệnh - Pdf 22

Khóa luận tốt nghiệp Vũ Thị Nam – Ty50A
MỤC LỤC
PHẦN I - MỞ ĐẦU
1.1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Chó là giống vật nuôi được thuần hoá từ rất sớm và được nuôi rộng rãi
ở khắp các quốc gia trên thế giới. Chúng rất giàu tình cảm và được coi là
người bạn bốn chân trung thành nhất của con người cho dù lúc phú quý cũng
như cơ hàn. Ngạn ngữ có câu: “ Khuyển mã chí tình – Con không chê bố mẹ
khó, chó không chê chủ nghèo” để nói lên những đặc tính tốt đẹp của con chó.
Với những bản tính: Nhanh nhẹn, mắt tinh, tai thính, khứu giác phát triển,
thông minh và dũng cảm Chó được con người sử dụng vào rất nhiều công
việc vào những lĩnh vực khác nhau trong cuộc sống. Chúng có thể thực hiện
từ những công việc bình thường như: Giữ nhà, bắt chuột, chăn dắt gia súc,
kéo xe làm cảnh đến những công việc phức tạp khó khăn, nguy hiểm trong
các lĩnh vực như phát hiện, ma túy, bom mìn, chất nổ, tham gia săn bắt công
tác săn bắt bảo vệ an ninh quốc phòng
Chính vì chăn nuôi với mục đích đa dạng như vậy mà gần đây có rất
nhiều giống chó ngoại được nhập vào nước ta làm phong phú thêm về số
lượng và chủng loại các giống chó. Song song với sự phát triển đó thì tình
hình dịch bệnh trên đàn chó ngày càng gia tăng.
1
1
1
Khóa luận tốt nghiệp Vũ Thị Nam – Ty50A
Qua quá trình theo dõi tại phòng khám và điều trị chó mèo ở thành phố
Hà Nội chúng tôi nhận thấy rằng bệnh ở đường tiêu hoá là một trong những
bệnh gây thiệt hại nặng nề cho mọi lứa tuổi của chó và tỷ lệ chết rất cao. Một
trong những nguyên nhân gây ra bệnh ở đường tiêu hoá thì nguyên nhân do
Parvo virut chiếm một tỷ lệ không nhỏ. Đây là một bệnh truyền nhiễm rất
nguy hiểm gây chết hàng loạt chó con. Chó lớn không chết nhiều nhưng lại là
nguồn tàng trữ virut. Với tốc độ lâu lan nhanh, mạnh trong đàn và trong khu

nguồn gốc từ chó sói lớn ( chó sói lửa – counalpinus). Do ở nước ta có tập
quán nuôi chó thả rông, vì thế có sự phối giống một cách tự nhiên giữa các
giống chó, kết quả là tạo ra nhiều thế hệ con lai với nhiều đặc điểm ngoại hình
rất đa dạng từ tầm vóc đến kiểu tai, kiểu đuôi và bộ lông rất khác biệt về tên
gọi thì người dân thượng dựa vào màu sắc bộ lông và địa phương để gọi tên
như: Chó mực (nhóm chó có bộ lông màu đen), chó vàng (nhóm chó có bộ
lông màu vàng) và chó ở vùng núi nào thì gọi tên của địa phương đó như
chó Lào, chó H’Mông vì thế nên được xếp chung vào một nhóm chó ta. Chó
ta có tầm vóc lớn trung bình, chó cái thường nhỏ hơn chó đực không đáng kể,
thể trọng bình quân lúc 12-15 tháng tuổi đạt 9,83 – 11,01kg, đầu to vừa phải,
mình thon nhỏ, cấu trúc cơ thể có dạng hình chữ nhật, cao vai trung bình
3
3
3
Khóa luận tốt nghiệp Vũ Thị Nam – Ty50A
38.8cm. Đường lưng thẳng, ngực khá sâu, bộ lông ngắn ôm sát thân, sợi lông
hơi thô và thẳng, màu sắc thay đổi 1 hoặc nhiều màu: vàng, đen, trắng và vện.
Đuôi dài 22,16cm thường là uốn cong trên lưng chiếm 61,16%.
b. Chó Phú Quốc.
Chó Phú Quốc là giống chó sinh sống phổ biến trên đảo Phú Quốc
thuộc tỉnh Kiên Giang – Việt Nam. Hình dạng tổng thể bên ngoài của một con
chó săn. Đầu khá dài, sọ hơi gồ, da có nếp nhăn, mõm khá lớn. Mắt màu hung
ánh lên vẻ hoang dã. Mũi đen, lỗ mũi hơi rộng. Quai hàm khoẻ và dài, môi
đen, hàm răng phát triển tốt và cắn rất khít. Tai thẳng, hình dáng giống như vỏ
ốc lật ngược, dựng đứng nhưng không nhọn lắm, mặt trong của tai ít lông. Cổ
rất dài và mềm mại, rộng dần về phía vai. Bụng thon, đùi cơ bắp, cẳng chân
dài và khoeo khá thẳng. Bàn chân duỗi ra, ngón ít cong, đế chân cứng. Đuôi
rất linh hoạt và ngắn, cong tròn lên lưng, chót đuôi gần như chạm vào lưng.
Lông rất ngắn và mọc rậm trên khắp cơ thể, ở giữa lưng và từ vùng thắt lưng
đến vai, lông mọc ngược thành một dải dài.

5
5
5
Khóa luận tốt nghiệp Vũ Thị Nam – Ty50A

c. Chó Boxer
Chó Boxer có nguồn gốc tại Đức được phát hiện năm 1850, chó Boxer
được miêu tả như một con chó đẹp trong cái xấu vì chó có bộ mặt xấu xí
nhưng lại rất ngoan và trung thành. Đầu cân đối với cơ thể, chán không có
nếp nhăn mặt hơi ngắn hơn sọ, hàm dưới uốn cong lên và hở xa với hàm trên.
Tai mọc ở phần cao của đầu, mũi lớn đen, chân cao khỏe, vai cao 58cm. Đuôi
mọc ở phần cao mà thường được cắt ngắn màu sắc vàng hoặc vện.
6
6
6
Khóa luận tốt nghiệp Vũ Thị Nam – Ty50A

d. Chó Chinhuahua
Đây là giống chó lâu đời nhất ở Châu Mỹ và là giống chó có thân hình
nhỏ nhất trong mọi loài chó trên thế giới. Tên của giống chó này được lấy tên
từ bang Chinhuahua của Mexico, nơi mà các nhà thám hiểm đã tìm ra chúng.
Chinhuahua có đầu tròn và mõm gắn, nó có đôi mắt to, tròn mầu sẫm gần như
đen, đôi khi là màu đỏ rubi sẫm. Đôi tai đặc biệt to luôn vểnh. Thân hình chắc
chắn, dài hơn so với chiều cao, đuôi uốn cong trên lưng hoặc vắt sang một
bên. Ở Việt Nam rất phổ biến loài lông ngắn, màu lông thường là hạt dẻ vàng
cát, màu bạc, xanh thép, nâu nhạt, chúng có lưng bằng và 4 chân thẳng chiều
cao khoảng 15 – 23cm. Cân nặng từ 1 – 3 kg.
7
7
7

C – 0,5
o
C.
2.2.2. Tần số hô hấp (số lần thở/phút)
Tần số hô hấp là số lần thở trong một phút. Tần số hô hấp phụ thuộc
vào cường độ trao đổi chất, tuổi, tầm vóc, trạng thái dinh dưỡng, trạng thái
làm việc, trạng thái sinh lý, thời tiết, khí hậu và trạng thái bệnh lý.
Ở trạng thái sinh lý bình thường, chó con có tần số hô hấp từ 18 – 20
lần/phút, chó nhỏ có tần số hô hấp 20 – 30 lần/phút .
Chó thở thể ngực và tần số hô hấp còn phụ thuộc vào các yếu tố sau:
Nhiệt độ bên ngoài môi trường: khi thời tiết quá nóng nên chó phải thở
nhanh để thải nhiệt, ở chó nhịp thở có thể lên tới 100 – 160 lần/phút.
Thời gian trong ngày: ban đêm và sáng sớm chó thở chậm hơn, buổi
trưa và buôie chiều cho thở nhanh hơn.
Tuổi: con vật càng lớn tuổi thì tần số hô hấp càng chậm.
Những con mang thai, sự sợ hãi cũng làm cho tần số hô hấp tăng lên.
2.2.3. Tần số tim (lần/phút)
Tim co bóp hoạt động liên tục trong suốt cuộc đời con vật theo một
nhịp điệu nhất định gọi là tâm trương. Tần số tim mạch được qui định bằng số
lần tim co bóp trong 1 phút. Nhịp tim thể hiện cường độ trao đổi chất, trạng
thái sinh lý, bệnh lý cơ thể cũng như của tim.
Ở trạng thái sinh lý bình thường:
Chó con: 200 – 220 lần/phút.
Chó trưởng thành: 70 – 120 lần/phút.
Chó già: 70 – 80 lần/phút
9
9
9
Khóa luận tốt nghiệp Vũ Thị Nam – Ty50A
2.3. SINH LÝ MÁU

ra còn có Ca, Ka, P ) và các chất thải khác của cơ thể.
10
10
10
Khóa luận tốt nghiệp Vũ Thị Nam – Ty50A
2.3.2 Thành phần hữu hình
Thành phần hữu hình chiếm đến 40% thể tích máu toàn bộ. Trên lâm
sàng, thành phần này thường phản ánh bằng khái niệm Hê ma tô crít
(hematocrit), một xét nghiệm đơn giản để phát hiện thiếu máu. Thành phần
hữu hình gồm hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu đều do tủy xương tạo ra. Các tế
bào tăng lên hoàn toàn bằng cách phân bào sau đó là sự trưởng thành của mỗi
dòng tế bào. Tế bào gốc bao gồm tế bào liên võng ( liên võng thực bào, liên
võng kiểu monocyte) và kiểu Lymphocyte.
a. Hồng cầu
Các tế bào hồng cầu được biệt hóa từ nguyên bào máu của tủy xương và
phát triển kê tiếp nhau là kết quả của một quá trình phân bào phức tạp. Hồng
cầu hình đĩa, lõm hai mặt, không có nhân để tăng diện tích tiếp xúc với các
chất khí. Số lượng hồng cầu that đổi tùy loài gia súc, giống, tuổi, giới tính,
chế độ dinh dưỡng, tính chất bệnh lý Đời sống hồng cầu trung bình là 120
ngày. Hồng cầu bị phân hủy một phần ngay trong dòng máu (có từ 0,5% -
1%). Cơ thể bình thường có khả năng điều chỉnh thăng bằng giữa hai quá
trình tiêu hủy và tái sinh hồng câu để duy trì số lượng hồng cầu bình thường ở
phạm vi nhất định.
Tăng hồng cầu thường thấy ở gia súc ốm khi bị trở ngại hô hấp viêm khí
quản, phế quản hoặc một số trường hợp làm giảm trạng thái lỏng của máu như
mất nước do ỉa chảy, ra mồ hôi, nôn mửa Sự thay đổi điều kiện khí hậu, môi
trường càng làm ảnh hưởng đến số lượng hồng cầu trong cơ thể. Ở vùng núi cao,
áp suất khí quyển giảm thấp, phân áp oxy trong không khí giảm, hồng cầu tăng
lên có tác dụng bù, đảm bảo cung cấp oxy cho cơ thể. Ở cơ thể vận động mạnh,
trong môi trường nóng đột ngột, hồng cầu cũng tăng lên.

trường hợp nhiễm trùng cấp. Đôi khi trong trường hợp nhiễm trùng quá nặng
như nhiễm trùng huyết hoặc bệnh nhân suy kiệt, trẻ sơ sinh, lượng bạch cầu
này giảm xuống. Nếu giảm quá thấp thì tình trạng bệnh nhân rất nguy hiểm vì
sức chống cự vi khuẩn gây bệnh giảm sút nghiêm trọng. Bạch cầu cũng giảm
12
12
12
Khóa luận tốt nghiệp Vũ Thị Nam – Ty50A
trong những trường hợp nhiễm độc kim loại nặng như chì, arsenic, khi suy
tủy, nhiễm một số virus
Bạch cầu đa nhân ái toan: khả năng thực bào của loại này yếu, nên
không đóng vai trò quan trọng trong các bệnh nhiễm khuẩn thông thường.
Bạch cầu này tăng cao trong các trường hợp nhiễm ký sinh trùng, vì bạch cầu
này tấn công được ký sinh trùng và giải phóng ra nhiều chất để giết ký sinh
trùng. Ngoài ra bạch cầu này còn tăng cao trong các bệnh lý ngoài da như
chàm, mẩn đỏ trên da
Bạch cầu đa nhân ái kiềm: đóng vai trò quan trọng trong một số phản
ứng dị ứng.
Mono bào: là dạng chưa trưởng thành của đại thực bào trong máu vì
vậy chưa có khả năng thực bào. Đại thực bào là những tế bào có vai trò bảo
vệ bằng cách thực bào, khả năng này của nó mạnh hơn của bạch cầu đa nhân
trung tính. Chúng sẽ phân bố đến các mô của cơ thể, tồn tại tại đó hàng tháng,
hàng năm cho đến khi được huy động đi làm các chức năng bảo vệ. Vì vậy
mono bào sẽ tăng trong các bệnh nhiễm khuẩn mãn tính như lao, viêm vòi
trứng mãn
Lympho bào: đây là những tế bào có khả năng miễn dịch của cơ thể,
chúng có thể trở thành những tế bào "nhớ" sau khi tiếp xúc với tác nhân
gây bệnh và tồn tại lâu dài cho đến khi tiếp xúc lần nữa với cùng tác nhân
ấy, khi ấy chúng sẽ gây ra những phản ứng miễn dịch mạnh mẽ, nhanh và
kéo dài hơn so với lần đầu. Lympho bào tăng trong ung thư máu, nhiễm

thế giới. Bệnh thường xảy ra ở dạng dịch địa phương hoặc ở nhiều ổ dịch xảy
ra cùng một lúc. Theo Trần Thanh Phong (1996), bệnh xuất hiện vào mùa thu
năm 1977 ở Texas và đến mùa hè năm 1978 đã xảy ra nhiều vùng khác nhau
ở Hoa Kỳ và Canada. Đầu năm 1979 bệnh đã xuất hiện ở Úc, Hà Lan, Bỉ,
Anh, Pháp bệnh đã được ghi nhận lần đầu tiên ở nước ta vào năm 1990 trên
chó nghiệp vụ.
Giống Parvovirus chỉ gây nhiễm cho họ chó: Chó nhà, chó sói, chó có
lông bờm cổ, cáo ăn cua, gấu mèo Mỹ.
Chó ở mọi lứa tuổi đều nhạy cảm với bệnh. Thông thường hầu hết các
con trưởng thành đều có kháng thể, tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ tử vong trên chó
14
14
14
Khóa luận tốt nghiệp Vũ Thị Nam – Ty50A
con từ 6 - `12 tuần tuổi rất đáng kể do có sự huỷ bỏ kháng thể mẹ truyền.
Bệnh có khả năng gây lan nhanh. Tỷ lệ mắc bệnh có thể lên đến 50%, tỷ lệ tử
vong trên chó con từ 50 – 100% (Trần Thanh Phong,1996)
2.4.2. Phân loại và một số đặc tính sinh học của virus
a. Phân loại
Họ: Parvoviridae
Giống: Parvovirus
Loài: Canine Parvovirus type 2
b. Các đặc tính sinh học của Parvovirus
* Hình thái và cấu trúc
Là một DNA đơn virus không có vỏ bọc, có đường kính 20nm, 32 capsome.
* Sức đề kháng với môi trường bên ngoài:
Parvovirus đề kháng mạnh với môi trường bên ngoài. Trong phân thì
virus có thể tồn tại hơn 6 tháng ở nhiệt độ phòng. Nó đề kháng với tác động của
ete, chloroforme, acide và nhiệt độ (56
o

ứng HI. Mặc dù có sự tương đồng kháng nguyên nhưng nó có những giới hạn
riêng biệt trong tự nhiên. FPV chỉ gây nhiễm cho mèo MEV chỉ gây nhiễm
cho chồn và CPV chỉ gây nhiễm cho chó.
2.4.3. Dịch tễ học
Chất chứa căn bệnh: Phân, nước tiểu, nước bọt nhưng quan trọng nhất
là phân.
Sức đề kháng tự nhiên khoảng 6 tháng ở nhiệt độ phòng, dễ bị tiêu diệt
bởi ánh sáng mặt trời, tồn tại kéo dài vào mùa đông (ôn đới).
Cách truyền lây: Lây gián tiếp qua sự tiếp xúc tới môi trường vấy bẩn
phân thú hoặc trực tiếp từ chó bệnh sang chó khỏe.
Đường xâm nhập: Chủ yếu bằng đường miệng.
16
16
16
Khóa luận tốt nghiệp Vũ Thị Nam – Ty50A
Vật cảm thụ: Chó ở mọi lứa tuổi, chủ yếu là chó non từ 1 – 5 tháng tuổi.
Tính cảm thụ: 100% đối với những quần thể chó chưa nhiễm, những
cho lớn có miễn dịch do sự tiêm phòng hay cảm nhiễm tự nhiên. Bệnh thường
được biểu hiện trên chó con từ 1 – 5 tháng tuổi.
Sự miễn dịch mẹ truyền qua sữa đầu giúp thú phòng chống bệnh.
Những kháng thể này sẽ được loại thải hết trong khoảng 6 – 10 tuần tuổi, lúc
này chó con sẽ trở nên thụ cảm nhất. Sự giảm dần kháng thể mẹ truyền cũng
liên quan trực tiếp đến tốc độ tăng trưởng của chó con; những chó con đẹp
nhất, tăng trưởng tốt nhất thường nhiễm bệnh đầu tiên .
2.4.4. Cách sinh bệnh
Virus xâm nhập bằng đường bệnh và mũi, thải ra ngoài qua phân. Sau
khi xâm nhập đầu tiên virus nhân lên tại các mô lympho, gây nhiễm trùng
huyết vào ngày thứ 2 và ngày thứ 5, từ đó tạo phản ứng miễn dịch và kháng
thể có thể xuất hiện vào ngày thứ 5 và thứ 6. Trong thời gian này virus có thể
được thải ra ngoài qua phân vào ngày thứ 4, tối đa là vào ngày thứ 5, sau đó

hai tháng tuổi. Chó nhiễm bệnh thường chết đột ngột do suy hô hấp trong thời
gian ngắn vì phù thũng phổi. Do những biến đổi về bệnh tích ở van tim và cơ
tim, từ đó xuất hiện những tạp âm ở tim hay những biến đổi về điện tim đồ
c. Dạng thầm lặng
Những nghiên cứu huyết thanh học cho thấy một số chó mẫn cảm với
bệnh nhưng không biểu hiện triệu chứng.
18
18
18
Khóa luận tốt nghiệp Vũ Thị Nam – Ty50A
2.4.5. Bệnh tích
a. Bệnh tích đại thể
Niêm mạc ruột: sung huyết, xuất huyết, lớp nhung mao ruột bị bào mòn
nhất là ở không tràng.
Lách có màu sắc và hình dạng không đồng nhất.
Dạ dày: Niêm mạc xuất huyết một phần hay toàn bộ.
Gan: Có thể sưng, túi mật căng.
Hạch bạch huyết: Phù thũng, xuất huyết.
Thể tim: Phù thũng phổi, viêm cơ tim
b. Bệnh tích vi thể
Ruột: Hoại tử biểu mô tuyến Lieberkun, toàn bộ nhung mao ruột bị
bào mòn.
Cơ quan lympho: Hoại tử và tiêu huỷ những tế bào lympho trong mảng
payer, trong trung tâm mầm, trong hạch bạch huyết màng treo ruột và những
hạch bạch huyết ở lách.
Dạng tim: Viêm cơ tim khởi phát, phân tán nặng nề.
2.4.6. Chẩn đoán
a. Chẩn đoán lâm sàng
* Dựa trên triệu chứng, bệnh tích và yếu tố dịch tễ. Chủ yếu dựa vào
các đặc điểm:

virus nhược độc dẫn đến bài virus trong 4 – 10 ngày, tuy yếu nhưng sự bài
thải này có thể dẫn đến kết quả dương tính giả.
- Chẩn đoán mô học: bất triển nhung mao ruột.
- Chẩn đoán huyết thanh học: Dùng phản ứng HI (dễ thực hiện, cho kết
quả tương đối chính xác). Kháng thể xuất hiện trong máu khi bắt đầu tiêu
chảy nhưng với hiệu giá thấp trên thực tế người ta thường dùng test ELISA để
chẩn đoán.
20
20
20
Khóa luận tốt nghiệp Vũ Thị Nam – Ty50A
- Chẩn đoán bằng test CPV (Canine Parvovirus One – step Test Kit):
Phát hiện kháng nguyên virus Parvo trong các mẫu phân. Thời gian cho kết
quả chỉ từ 5 – 10 phút.
Tóm lại, ở chó bị bệnh thì ta có thể tìm virus trong phân ở chó bệnh bị
chết ta tiến hành chẩn đoán mô học (ruột và cơ quan lympho).
2.4.7. Điều trị
Việc chữa trị hiệu quả rất thấp, đặc biệt với chó non vì chúng chịu nhiều
stress môi trường xung quanh, nhiễm ký sinh trùng đường ruột, thường bị
ghép kế phát các bệnh vi khuẩn, virus khác như: care, coronavirus
Không có thuốc điều trị đặc hiệu, chủ yếu điều trị triệu chứng, bù dịch
cân bằng điện giải và chống các nhiễm trùng kế phát bằng kháng sinh.
Sử dụng các biện pháp sau:
- Truyền dịch nhằm bù đắp lại lượng nước mất do nôn mửa, tiêu chảy
và tuỳ theo biểu hiện lâm sàng (nếp gấp ở da, hốc mắt trũng sâu) và sinh
học (hematocrite, protein ). Việc bù đắp lượng nước phải có tính hệ thống
và truyền qua đường tĩnh mạch hoặc đường dưới da. Dung dịch này gồm
nước sinh lý mặn để điều chỉnh lượng nước ngoại tế bào và nước sinh lý
ngọt, acid amin thiết yếu để cung cấp năng lượng và protein. Việc bù đắp
lượng nước phải đầy đủ, ít nhất là 40 – 60 ml nước/kg thể trọng dùng trong

22
22
Khóa luận tốt nghiệp Vũ Thị Nam – Ty50A
PHẦN III: ĐỐI TƯỢNG - NỘI DUNG - ĐỊA ĐIỂM –
NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu
* Các giống chó ở mọi lứa tuổi đến khám và điều trị tại Bệnh xá thú y -
Viện thú y Quốc Gia, Phòng khám thú y Animal care – 16/424 Thụy Khuê.
* Chó mắc bệnh Parvovirus tại Bệnh xá thú y - Viện thú y Quốc Gia,
Phòng khám thú y Animal care – 16/424 Thụy Khuê.
3.1.2. Địa điểm nghiên cứu
- Bệnh xá thú y - Viện thú y Quốc Gia. Địa điểm: 86 - Trường Chinh -
Quận Đống Đa – Hà Nội
- Phòng khám thú y Animal care. Địa điểm: số nhà 16 ngõ 424
Thuỵ Khuê
- Phòng thí nghiệm bộ môn Vi sinh vật – Truyền nhiễm - Bệnh lý khoa
Thú y Trường ĐHNN Hà Nội.
3.2. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
3.2.1. Khảo sát tỷ lệ mắc bệnh Parvovirus ở chó theo giống, lứa tuổi và
mùa
3.2.2. Xác định các triệu chứng lâm sàng chủ yếu trên chó mắc bệnh
Parvovirus
- Thân nhiệt
- Tần số hô hấp
- Tần số tim mạch
3.2.3. Xác định một số chỉ tiêu sinh lý máu trên chó mắc bệnh Parvovirus
3.2.4. Nghiên cứu các biến đổi bệnh lý đại thể, vi thể của một số cơ quan
ở chó mắc bệnh
23

nghe lại hai lần và lấy kết quả trung bình của ba lần nghe.
24
24
24
Khóa luận tốt nghiệp Vũ Thị Nam – Ty50A
- Tần số tim mạch (lần/phút): dùng ống nghe nghe vùng tim bên trái
đếm số lần tim mạch trong một phút, nghe lại hai lần và lấy kết quả trung bình
của ba lần nghe.
3.3.4. Các chỉ tiêu sinh lý máu
Dùng xilanh chuyên dụng lấy khoảng 1,5ml máu ở tĩnh mạch đầu của
xương cẳng tay. Nhanh chóng đưa máu từ xi lanh và ống lấy máu chuyên
dụng đã có sẵn chất chống đông. Xét nghiệm mẫu máu bằng máy đo huyết áp
18 chỉ tiêu.
Các chỉ tiêu sinh lý máu cần xét nghiệm:
- Số lượng hồng cầu (triệu/mm
3
)
- Hàm lượng huyết sắc tố (g%)
- Tỷ khối hồng cầu (%)
- Thể tích trung bình của hồng cầu (µm
3
)
- Lượng huyết sắc tố trung bình của hồng cầu (Pg)
- Nồng độ huyết sắc tố trung bình của hồng cầu (%)
- Sức kháng của hồng cầu (% NaCl)
- Số lượng bạch cầu (nghìn/mm
3
) và công thức bạch cầu (%)
3.3.5. Nghiên cứu các tổn thương bệnh lý đại thể và vi thể của chó mắc
bệnh Parvovirus


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status