trêng ®¹i häc n«ng nghiÖp hµ néi
KHOA THÚ Y
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đ TI:
KHẢO SÁT TÌNH HÌNH NHIỄM CARE Ở CHÓ
TẠI H NỘI V NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM
BỆNH LÝ CỦA CHÓ MẮC BỆNH CARE
Người thực hiện : NGUYỄN TRỌNG THANH
Lớp : TYD – K54
Người hướng dẫn : PGS. TS. NGUYỄN HỮU NAM
Bộ môn : BỆNH LÝ THÚ Y
H NỘI - 2013
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học và rèn luyện tại trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội
đã giúp em hoàn thiện hơn cả về nhân cách và trình độ dưới sự dạy dỗ tận tình
của thầy cô trường Đại học Nông Nghiệp nói chung và các thầy cô khoa Thú y
nói riêng.
Nhân dịp hoàn thành khóa luận này, cho em được bầy tỏ lòng biết ơn sâu
sắc tới thầy giáo, cô giáo.
Cho em được bầy tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Hữu Nam
trưởng bộ môn bệnh lý khoa thú y, trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội, người
đã tận tình giúp đỡ em trong suốt thời gian thực tập.
Đồng thời em xin bầy tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy giáo, cô giáo
trong bộ môn bệnh lý- khoa Thú y, trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, các
thầy cô và anh chị phòng thí nghiệm đã tạo mọi điều kiện để em hoàn thành tốt
nhiệm vụ này.
Và cho em bầy tỏ lòng biết ơn tới các anh chị tại phòng khám thú y Pet
Health 240 Âu Cơ - Tây Hồ - Hà Nội.
Cuối cùng em xin được bầy tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè.
Những người đã luôn động viên em trong suốt quá trình học tập và hoàn thành
Tuy nhiên đi cùng với sự phát triển của chăn nuôi chó là sự phát triển về
bệnh trên chó, bệnh trên chó xảy ra ngày càng nhiều và phức tạp hơn. Kẻ thù
của những chú chó đáng yêu bao gồm rất nhiều loại bệnh khác nhau: bệnh
truyền nhiễm như bệnh dại, bệnh care, bệnh tiêu chảy do Parvovirus, bệnh cúm
chó,… Một số bệnh kí sinh trùng như sán lá, sán dây, giun đũa,… Một số bệnh
nội khoa và sản khoa Trong đó nguy hiểm nhất là bệnh truyền nhiễm và đặc
biệt là bệnh Care hay còn gọi là bệnh sài sốt ở chó. Bệnh xảy ra chủ yếu ở chó
5
non với một số biểu hiện như: Sốt cao, ho, khó thở, tiêu chảy phân lẫn máu, trên
cơ thể xuất hiện các nốt sài và có triệu chứng thần kinh. Bệnh gây ra thiệt hại
năng nề với tỉ lệ chết gần như là 100% vi vậy hiện nay bệnh đang là mối quan
tâm hàng đầu của những người nuôi chó và cả những người làm công tác thú y.
Từ thực tế chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: ” Khảo sát tình hình
nhiễm Care ở chó tại Hà Nội và nghiên cứu một số đặc điểm bệnh lý của chó
mắc bệnh Care ”.
1.2. MỤC ĐÍCH Đ TI
Biết được tình hình nhiễm bệnh Care tại Hà Nội.
Làm rõ hơn một số đặc điểm bệnh lý chính của chó mắc bệnh Care.
Đưa ra một số giải pháp để phòng bệnh.
6
PHẦN II
TỔNG QUAN TI LIỆU
2.1. MỘT SỐ TƯ LIỆU V LOI CHÓ
2.1.1. Nguồn gốc loài chó
Vào cuối thời kì đồ đá những con chó nuôi trong nhà đã được thuần hóa từ
những con chó nhỏ. Trong thời kì này lúc đầu những đàn chó rừng đã đi theo
những người thợ săn, chúng lang thang và quanh quẩn ở nơi ăn chốn ở của con
người. Thời kì này do con người vẫn luôn bị thú dữ đe dọa vì vậy sự xuất hiện
của những con chó rừng bên cạnh lều trại luôn mang lại cho họ sự an tâm và
thoải mái, dần dần chúng trở thành những con vật canh gác và giữ lều trại cho
đực thành thục khi 14-16 tháng tuổi, chó cái khi 10-12 tháng tuổi.
d. Chó Phú Quốc:
Sinh sống phổ biến trên đảo Phú Quốc. Hình dạng tổng thể bề ngoài chó Phú
Quốc hơi giống chó săn, đầu khá dài, sọ hơi gồ và da có nhiều nếp nhăn, mõm
khá lớn chiếm phân nửa tổng thể của đầu. Mắt màu hung, mũi đen lỗ mũi hơi
rộng, quai hàm khỏe và dài, môi đen hàm răng phát triển và cắn rất khít. Tai
thẳng hình dáng giống như vỏ ốc lật ngược, dựng đứng nhưng không nhọn, mặt
trong tai ít lông. Cổ dài và mềm mại rộng dần về phía vai, bụng rất thon, đùi
khỏe, cẳng chân dài và khoeo khá thẳng. Đuôi rất linh hoạt cong tròn về phía
lưng, lông rất ngắn và mọc rậm rạp trên khắp cơ thể, đặc biệt ở giữa lưng từ
8
vùng thắt lưng đến vai lông mọc ngược thành một dải dài hướng về phía đầu,
hàng lông này dày hơn, cứng hơn và dài hơn so với phàn lông còn lại trên cơ thể
tạo thành xoáy ở lưng. Đây là đặc điểm đặc trưng của chó Phú Quốc.
Chó Phú Quốc có kích thước vừa phải cao khoảng 60-65 cm, nặng 15-25
kg. Chó Phú Quốc rất thông minh và nhanh nhẹn, chúng rất cảnh giác, bơi lội và
leo trèo giỏi. Chính vì vậy chó Phú Quốc được coi là giống chó quý của Việt
Nam. Theo Cao Minh Kim Quy thì chó Phú Quốc có 3 loại là chó Đồng Bà, Bắc
Đão và chó Ba Chạy. [Nguyễn Văn Thanh, Vũ Như Quán, Nguyễn Hoài Nam,
2012]
2.1.4. Một số giống chó ngoại tiêu biểu.
a. Giống Berger Đức:
Là giống chó có nguồn gốc từ Đức được xác định gồm berger lông ngắn và
lông dài. Theo David Alderton thì chó berger Đức khỏe mạnh, thông minh,
nhanh nhẹn và có cơ bắp phát triển. Chó Berger Đức có tính ổn định rất cao về
trí tuệ và sự hài hòa giữa phần trước và phần sau của cơ thể. Hiện nay giống
chó này được phân bố rộng rãi khắp nơi trên thế giới và có nhiều mầu khác nhau
như: Đen nâu, đen vàng, đen xám, Chó có thân hình vừa phải, con đực cao
61-66 cm, nặng 37-45kg, con cái 56-62 cm, nặng 25-32 kg.
Giống chó này rất thông minh, linh hoạt, dũng cảm, điềm tĩnh. Chúng được
ngẫu nhiên. Khi mới sinh ra chúng có bộ lông trắng toát các đốm sẫm màu thì
sau mới xuất hiện. Dalmatian có chân tròn và các ngón chân được cấu tạo hợp lí.
Chó đực cao 55-60cm, chó cái cao khoảng 50-55 cm, nặng khoảng 25 kg.
f. Giống chó Great Dane:
Là giống chó to lớn, con đực 80-90 cm nặng 50-70 kg. con cái cao 70-80 cm,
nặng 45-60 kg. Chúng có đầu thon dài, trán gồ và mũi lớn, bắp đùi cuồn cuộn
chân tròn và móng chân ngắn sẫm màu, mắt to tròn và tai buông thõng tự nhiên,
10
hàm răng sắc nhọn và rất khỏe. Tuy là giống chó khổng lồ nhưng Great Dane lại
khá dịu dàng và trang nhã.
g. Giống chó English Bulldog:
Có nguồn gốc từ Châu Á, tuy nhiên được phát triển mạnh ở Anh. English
Bulldog có thân hình chắc nịch nhưng thấp, chó chỉ cao 30-40 cm, con đực
nặng 25-28 kg, con cái nặng 20-22 kg. yếm dầy vai rộng, cơ bắp hướng về phía
trước, đầu to và rộng, khuôn mặt ngắn với nhiều nếp gấp bùng nhùng, mõm
ngắn hếch to và thường có màu đen, hai tai mọc cao, bốn chân chắc khỏe, đuôi
ngắn thẳng và có thể xoắn lại.
h. Giống chó irish Setter:
Là giống chó có nguồn gốc từ Ireland, con đực cao 54-62 cm, nặng 18-22 kg.
con cái cao 52-60 cm nặng 15-22 kg. Chó có bộ lông vàng và sáng bạc dài và
mềm. Mõm dài bằng ½ chiều dài của toàn bộ đầu, có sống mũi thẳng màu đen
và sống mũi thẳng màu đen, mắt màu hạt giẻ hoặc màu nâu sẫm, tai chia thành
hình tam giác mềm mỏng, ức sâu và thuôn, ngực hẹp.
i. Giống chó Cavalier King Charles Spanniel:
Thường gọi tắt là Spaniel, có nguồn gốc từ Tây Ban Nha. Chó được nuôi với
mục đích giữ nhà và làm cảnh. Chó có tầm vóc nhỏ cao 36 cm nặng 5-8 kg. Chó
có bộ lông xù dài, bộ lông màu nâu sẫm xen các điểm nâu nhạt ở đầu và 4 chân.
Chó có đầu dài thô, mõm rộng tai dài và cụp, cổ thẳng, ngực sâu nở, bụng thon,
đuôi cọc, bàn chân chụm.
j. Giống chó Pug:
2 bên đầu.
n. Giống chó Fox:
12
Là loại chó nhỏ gọn. Con đực có chiều cao 25-30cm, cân nặng 4-5 kg, con
đực trưởng thành có thể phối giống khi 13-15 tháng tuổi. Con cái cao 25-28 cm,
cân nặng khoảng 3-4 kg, con cái có thể cho sinh sản khi 10-12 tháng tuổi.
Chó Fox có bộ lông bóng mượt, và cơ thể cân đối với các đường nét cân đối.
Hai chân trước thẳng có treo ngón huyền đề, bàn chân nhỏ và mềm mại. Hàm
răng sắc và mõm rất khỏe, mắt hình ô van và có sẫm mầu.[Nguyễn Văn Thanh,
Vũ Như Quán, Nguyễn Hoài Nam, 2012]
2.2. Đặc điểm sinh lý của chó.
2.2.1. Đặc điểm thân nhiệt của loài chó.
Thân nhiệt là giá trị biểu thị cho nhiệt độ của cơ thể. Nhiệt độ cơ thể có thể
thay đổi theo nhiệt độ môi trường ở động vật biến nhiệt hoặc không thay đổi
theo nhiệt độ môi trường ở động vật hằng nhiệt.
Thân nhiệt cơ thể ảnh hưởng rất lớn đến tình trạng của cơ thể do ảnh hưởng
đến quá trình hoạt động của các ezym trong cơ thể, ảnh hưởng đến quá trình
trao đổi chất, tuần hoàn của cơ thể.
Ở trạng thái sinh lý bình thường thân nhiệt của chó đo ở trực tràng dao
động từ 38,5 đến 39,5ᵒC, thường cao hơn ở chó non và thấp dần ở chó già, do ở
chó non quá trình trao đổi chất diễn ra mạnh hơn làm nhiệt độ cơ thể cao hơn.
[ Nguyễn Văn Thanh, Vũ Như Quán, Nguyễn Hoài Nam, 2012]
Thân nhiệt của chó phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Tình trạng sức khỏe
của cơ thể, tuổi tác, giới tính, sự vận động, thời gian trong ngày. Thông thường
nhiệt độ cơ thể chó vào buổi sáng thấp hơn buổi chiều, sự chênh lệch này dao
động từ 0,2-0,5ᵒC. Ngoài ra tình trạng bệnh lý cũng ảnh hưởng rất lớn đến nhiệt
độ cơ thể chó, sự thay đổi này phụ thuộc vào mức độ và tính chất của bệnh.
[Nguyễn Như Pho, 1995]
13
2.2.2. Tần số hô hấp.
+ Tuyến nước bọt: Nước bọt đóng vai trò quan trọng trong quá trình tiêu
hóa ở chó. Trong 1 ngày đêm một con chó trưởng thành có thể liên tục tiết ra 1,5
lít nước bọt. Tỉ trọng nước bọt của chó là 1,005-1,008, hàm lượng nước 98-
99%, pH: 7,56.
Trong nước bọt có thành phần vô cơ (các muối clorua, photphat;
hidrocacbonat của kali, canxi, natri, magie) và các thành phần hữu cơ (albumin,
globulin,muxin,amilaza, maltaza). Trong nước bọt của chó có lizozym, nó có
tính sát khuẩn rất mạnh, vì vậy sự liếm vết thương ở động vật này có khả năng
làm cho vết thương mau lành.
+ Tiêu hóa ở dạ dày: Khối lượng dịch dạ dày ở chó dao động mạnh phụ
thuộc vào loại thức ăn và thành phần, thường dao động 0,3 – 0,9 lit/1 lần tiếp
nhận thức ăn. Dịch dạ dày chó có pH: 0.8-1 tỉ trọng là 1,002- 1,006. Gồm những
thành phần hữu cơ như: Muxi, pepsin, kimosin, lipaza. Các chất vô cơ như:
Axit clohidric, các muối clorua, photphat, sulphat của canxi, nattri, kali, magie.
+ Tiêu hóa ở ruột: Ruột chó có chiều dài 2,3-7,3 m. Chiều dài của ruột chó
có tương quan với chiều dài của cơ thể là 1/5. Tốc độ vận chuyển thức ăn trong
ruột là 7,7cm/ giờ. Trong ruột có dịch ruột được tiết ra trong giới hạn 100ml/
ngày đêm. Với pH là 8,3, trong dịch ruột có phần vô cơ và hữu cơ. Trong đó
phần vô cơ bao gồm các muối: Clorua, carbonat, hydroccarbonat, phần hữu cơ
bao gồm: Muxin, các men pepsin, amylaza, lipaza [Nguyễn Văn Thanh, Vũ Như
Quán, Nguyễn Hoài Nam, 2012]
+ Một số tuyến tiêu hóa khác.
- Tuyến tụy: Tiết ra dịch tụy với 1-35 ml/ ngày. Trong dịch tụy bao gồm
các thành phần như: Albumin, globulin, muxin, các men (tripsin,
maltalaza, lipaza,…) và một số thành phần vô cơ ( các muối carbonat,
hydrocarbornnat của kali, natri, magie).
15
Dịch mật: Đóng vai trò quan trọng trong quá trình tiêu hóa. Ở những con
chó lớn mỗi ngày tiết ra 250 ml/1 ngày đêm. Dịch mật có pH : 5,33- 7,08. Trong
dịch mật có một số thành phần chính như: Muối clorua, carbonat, phốt phat,
Văn Thanh, Vũ Như Quán, Nguyễn Hoài Nam, 2012]
16
2.3.1. Lịch sử căn bệnh và phân bố địa lí.
Bệnh care được báo cáo lần đầu tiên ở châu âu năm 1760[Appel và
Gillespie, 1972(1)]. Các triệu chứng lâm sàng và tiến triển của bệnh đã được mô
tả năm 1809 bởi Edwadjenner [Appel và Gillespie, 1972(2)] [Shufl 1990].
Năm 1905 căn bệnh được phân lập từ nước mũi của chó bị bệnh bởi bác sỹ
Thú y người pháp Henri Care. Ông đem lọc mẫu bệnh phẩm qua màng lọc vi
khuẩn và đem gây bệnh cho chó khỏe mạnh khác thì thấy vẫn gây bệnh được. Vì
thế ông kết luận nguyên nhân của bệnh là do virus. Sau này người ta lấy tên ông
đặt tên cho mầm bệnh và tên bệnh[ David và Martin, 1979]. Sau đó vào năm
1923 Putoni đã chế được vacxine vô hoạt từ chất nghiền bệnh phẩm. [I.A.
Merchant và cs]
Qua thống kê cho thấy bệnh care góp phần vào sự tuyệt chủng của chồn
chân đen. Và là nguyên nhân gây tử vong định kì của chó hoang dã châu phi.
[ Assesment, 2005]. Năm 1991 bệnh xảy ra trên quần thể sư tử Serengeti ở
Tanzania, làm giảm 20% số lượng toàn đàn [Timothy và cs, 2009]. Đặc biệt
virus Care đã biến đổi có khả năng gây bệnh cho một số động vật biển [Kennedy
và cs 1989].
Ở Việt Nam bệnh được phát hiện năm 1920 bệnh xảy ra ở hầu hết các tỉnh và
cho tỉ lệ tử vong cao [Lê Thị Tài, 2006]. Nguyễn Thị Lan và cộng sự đã nghiên
cứu thành công đặc điểm sinh trưởng của chủng CDV trên tế bào vero có gắn
receptor tương ứng với virus Care, qua đó tác giả cũng chỉ ra tế bào vero DST là
tế bào thích hợp có khả năng phân lập và đánh giá hiệu giá virus.[ Lan NT và cs,
2005]
a. Căn bệnh.
Canine Distemper Virus (CDV) là thành viên của giống Morbillivirus thuộc
họ Paramixoviridea các thành viên khác của giống như virus gây bệnh sởi trên
người, virus gây dịch tả trâu bò (RPV), virus gây bệnh trên động vật nhai lại nhỏ
17
18
Phosphoprotein ( P ): Có khối lượng phân tử 73-80 Kdal. Đóng vai trò
quan trọng trong quá trình sao chép ARN. Nhạy cảm với những yếu tố phân giải
protein.
Membrane ( M ) hay còn gọi là protein màng có trọng lượng phân tử dao
động 34-39 Kdal. Đóng vai trò quan trọng trong sự trưởng thành của virus và
nối Nuclecapsit với protein vỏ bọc.
Fusion ( F ): Có trọng lượng phân tử 59-62 Kdal, là protein kết hợp virus
với thụ thể màng tế bào cảm nhiễm, làm tan màng dẫn đến sự kết hợp nhiều tế
bào cảm nhiễm còn gọi là hiện tượng hợp bào.
Hemagglutinin ( H ): Là protein ngưng kết hồng cầu hay gọi là yếu tố kết
dính, là Glycoprotein thứ hai của vỏ bọc. Trọng lượng phân tử 76-80 Kdal,
chúng thể hiện tính chuyên biệt của mỗi loài virus. Chúng không hấp phụ hồng
cầu cũng không gây ngưng kết hồng cầu.
Lage protein ( L ): Có trọng lượng phân tử > 200 Kdal [Trần Thanh Phong,
1996], [David T. Swit , Donald S.Martin, 1979]
+ Sức đề kháng của virus:
Trong điều kiện hoang dã virus sống ít nhất 1 năm ở điều kiện 7
0
C. Trong
Nitrogen không có oxy virus sống được 1 năm và trong môi trường đông khô
virus sống được nửa năm. Ở điều kiện bên ngoài virus rất dễ bị vô hoạt và phá
hủy vì vậy việc lây nhiễm gián tiếp là rất hiếm gặp.
Sự vô hoạt đối với nhiệt độ của virus còn phụ thuộc vào cơ chất, đậm độ
virus, chủng virus. Trong môi trường lỏng virus rất dễ bị vô hoạt bởi tia cực tím,
tia gama.
Với pH: Virus ổn định ở 7,2-8.
Với các tác nhân hóa học: Rất dễ bị bất hoạt bởi các chất hòa tan lipid như
ete, chloroforme, hay những chất hóa học khác như formalin 0,1 % trong 1-2
giờ, phenol 0,5 % trong 48- 72 giờ.[Trần Thanh Phong, 1996]
20
ít mắc vì thu được miễn dịch thụ động qua sữa đầu. Việc gây bệnh thực
nghiệm trên chó 6 tháng tuổi dễ hơn chó dưới 3 tháng tuổi. [T.Smith và
S.Martin,1997;Nguyễn Văn Thanh, Vũ Như Quán, Nguyễn Hoài Nam, 2012].
Chó trưởng thành thường mang virus nhưng không biểu hiện bệnh nên
thường trở thành nguồn tàng trữ mầm bệnh.
+ Mùa vụ mắc bệnh: Bệnh thường xảy ra quanh năm nhưng thường xuất
hiện nhiều khi có sự thay đổi của thời tiết, đặc biệt trong thời gian mưa nhiều độ
ẩm cao. [Nguyễn Văn Thanh, Vũ Như Quán, Nguyễn Hoài Nam, 2012].
+ Chất chứa virus: Trong chó bệnh, virus thường có trong máu, phủ tạng,
óc, lách, hạch, tủy xương, đặc biệt trong nước tiểu thường xuyên có virus bài
thải ra ngoài môi trường.
+ Đường xâm nhập: Mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể thông qua đường hô
hấp, đường tiêu hóa và niêm mạc mắt là chủ yếu tuy nhiên cũng có thể xâm
nhập qua da. Trong thực nghiệm có thể tiêm, bôi niêm mạc mũi hoặc cho uống
đều có thể gây bệnh.
+ Phương thức truyền lây:
- Lây trực tiếp do sự tiếp xúc giữa con khỏe và con ốm, nhưng phổ biến
hơn là qua thức ăn nước uống vấy nhiễm các chất bài tiết của con vật ốm như
nước mũi, nước tiểu.
- Lây qua đường hô hấp do con khỏe hít phải bụi hoặc chất bẩn có nhiễm
mầm bệnh từ con vật ốm tiết ra.
2.3.3. Cơ chế sinh bệnh.
Sau khi virus xâm nhập vào cơ thể con vật chúng bắt đầu xâm nhập vào
các đại thực bào rồi vào dịch bạch huyết rồi đến các hạch lympho tại đó chúng
nhân lên về số lượng và tăng cường về độc lực.
Sau đó virus vào máu và di chuyển đến các cơ quan và khi đó bắt đầu gây
sốt, cơn sốt kéo dài từ 1 cho đến 2 ngày.
21
Do cơ thể suy yếu, sức đề kháng của con vật giảm sút, một số vi khuẩn kí
- Chó bị viêm mũi, thanh quản, phế quản rồi viêm phổi làm chó khó thở,
nhịp thở tăng, nghe phổi có tiếng ran ướt, chó thở gấp, thè lưỡi ra mà thở.
- Chó chảy nhiều nước mũi lúc đầu loãng sau đục và đặc dần đôi khi có
lẫn mủ xanh hoặc có màu đen.
- Chó bị ho lúc đầu ho khan sau đó ho ướt.
+ Triệu chứng trên da:
- Đặc trưng của bệnh biểu hiện trên da là sự xuất hiện các nốt sài ở bụng,
ở bẹn, ngực và mặt trong đùi. Đầu tiên chỉ là những chấm đỏ trên da sau đó biến
thành các nốt sài to bằng hạt đỗ xanh, hạt gạo, sau đó do bội nhiễm vi khuẩn nên
mềm ra, có mủ. Khi các nốt sài vỡ bết vào lông và làm cho có mùi hôi. Các nốt
sài có thể không bị vỡ mà đóng vảy rồi bong ra để lại vết thương chóng lành.
- Da tăng sinh: Sau khi bị bệnh 10-15 ngày, khoảng 80-90% số chó bị
bệnh tăng sinh ở gan bàn chân làm gan bàn chân dầy lên và đôi khi bị nứt ra làm
chó đi khập khiễng.
+ Triệu chứng thần kinh:
- Chó bệnh ủ rũ buồn rầu hoặc hung dữ, sau đó xuất hiện các cơn co giật
đều đặn ở bắp thịt, mũi, tai, chân và đôi khi là toàn thân.
- Con vật đi loạng choạng, đi đứng không vững, đôi khi đâm sầm vào
tường, sùi bọt mép. Cuối cùng chó bị liệt, chó nằm bệt. Chó bị loạn nhịp tim,
thân nhiệt hạ và chết. Tỉ lệ chết có thể lên đến 60%, bệnh kéo dài trong 2-3 tuần.
Một số con lành bệnh thường có di chứng gầy còm, đi đứng xiêu vẹo, mù và
điếc… [Nguyễn Văn Thanh, Vũ Như Quán, Nguyễn Hoài Nam, 2012]
b. Bệnh tích chung:
+ Bệnh tích đại thể: Con vật chết gầy còm, lông bẩn và có mùi hôi, niêm
mạc mắt trũng sâu, niêm mạc mũi, miệng viêm cata và có nhiều chất nhớt.
Có thể gặp sừng hóa gan bàn chân và mõm. Tùy theo mức độ nhiễm vi
trùng có thể gây viêm phế quản phổi, viêm ruột, mụn ở da,… [Trần Thanh
Phong, 1996]
23
Bệnh tích thường gặp ở đường tiêu hóa là viêm cata ruột, loét ruột, hạch
b. Chẩn đoán phòng thí nghiệm:
+ Chẩn đoán virus học:
- Phân lập virus, tiêm động vật thí nghiệm:
Bệnh phẩm thường lấy là máu, lách, phổi và chất bài tiết của chó nghi mắc
bệnh đem chế th
ành huyễn dịch rồi đem tiêm cho chồn hoặc chó non. Ngoài ra có thể tiêm
cho chuột lang hoặc thỏ.
Quan sát tiến triển của bệnh trên động vật thí nghiệm, khi động vật thí
nghiệm chết thì tiến hành mổ khám để quan sát bệnh tích đại thể và kết luận
bệnh.
- Gây bệnh tích tế bào:
Lấy mẫu bệnh phẩm đem nghiền nát thành huyễn dịch rồi xử lý bằng
kháng sinh, ly tâm lấy nước trong và lọc qua màng lọc vi khuẩn rồi đem gây
nhiễm lên môi trường tế bào thích hợp, thường là các tế bào vero, MV1.
Bệnh tích tế bào quan sát được thường là những thể hợp bào và các thể vùi
trong nguyên sinh chất bắt màu đỏ Eosin.
+ Chẩn đoán huyết thanh học:
Phản ứng ELISA
Phương pháp kháng thể huỳnh quang trực tiếp.
+ Chẩn đoán bằng phản ứng RT-PCR.
+ Test chẩn đoán nhanh bệnh care.
25