khảo sát tình hình nhiễm care ở chó tại hà nội và nghiên cứu một số đặc điểm bệnh lý của chó mắc bệnh care - Pdf 24

LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học và rèn luyện tại trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội
đã giúp em hoàn thiện hơn cả về nhân cách và trình độ dưới sự dạy dỗ tận tình
của thầy cô trường Đại học Nông Nghiệp nói chung và các thầy cô khoa Thú y
nói riêng.
Nhân dịp hoàn thành khóa luận này, cho em được bầy tỏ lòng biết ơn sâu
sắc tới thầy giáo, cô giáo.
Cho em được bầy tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Hữu Nam
trưởng bộ môn bệnh lý khoa thú y, trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội, người
đã tận tình giúp đỡ em trong suốt thời gian thực tập.
Đồng thời em xin bầy tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy giáo, cô giáo
trong bộ môn bệnh lý- khoa Thú y, trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, các
thầy cô và anh chị phòng thí nghiệm đã tạo mọi điều kiện để em hoàn thành tốt
nhiệm vụ này.
Và cho em bầy tỏ lòng biết ơn tới các anh chị tại phòng khám thú y Pet
Health 240 Âu Cơ - Tây Hồ - Hà Nội.
Cuối cùng em xin được bầy tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè.
Những người đã luôn động viên em trong suốt quá trình học tập và hoàn thành
khóa luận này.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 30 tháng 11 năm 2014
Sinh viên
Nguyễn Trọng Thanh
1
MỤC LỤC
2
PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Từ xa xưa chó đã trở thành loài động vật thân thiện gần gũi với con người
nhờ có giác quan nhạy bén và thông minh nên nó đã trở thành những người bạn

Biết được tình hình nhiễm bệnh Care tại Hà Nội.
Làm rõ hơn một số đặc điểm bệnh lý chính của chó mắc bệnh Care.
Đưa ra một số giải pháp để phòng bệnh.
4
Phần II
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. MỘT SỐ TƯ LIỆU VỀ LOÀI CHÓ
2.1.1. Nguồn gốc loài chó
Vào cuối thời kì đồ đá những con chó nuôi trong nhà đã được thuần hóa từ
những con chó nhỏ. Trong thời kì này lúc đầu những đàn chó rừng đã đi theo
những người thợ săn, chúng lang thang và quanh quẩn ở nơi ăn chốn ở của con
người. Thời kì này do con người vẫn luôn bị thú dữ đe dọa vì vậy sự xuất hiện
của những con chó rừng bên cạnh lều trại luôn mang lại cho họ sự an tâm và
thoải mái, dần dần chúng trở thành những con vật canh gác và giữ lều trại cho
những người thợ săn, theo thời gian ngoài nhiệm vụ canh gác chúng còn giúp đỡ
con người trong lúc đi săn. Lâu nay chúng vẫn chạy theo những người thợ săn
với hi vọng được họ dành cho những bộ phận thừa trên những con thú mà người
ta săn được. Cùng với sự phát triển của xã hội loài người, chó cũng được thuần
hóa và tham gia vào những công việc khác như giữ nhà, chăn cừu và một số gia
súc khác. Ngày nay chó còn được huấn luyện và là một phần không thể thiếu
trong đời sống con người.
2.1.2. Khái quát chung về một số giống chó được nuôi tại Việt Nam và trên
thế giới.
Căn cứ vào nguồn gốc, hình dáng, mục đích sử dụng và cá tính đặc biệt của
từng giống chó mà người ta chia các giống chó thành các nhóm khác nhau.
2.1.3. Một số giống chó nội ở Việt Nam.
Ở nước ta một số giống chó nội được người dân thuần hóa và nuôi dưỡng
cách đây khoảng 3-4 ngàn năm TCN, và có nguồn gốc từ chó sói lớn. Do nước
ta có tập quán nuôi chó thả rông nên xảy ra sự phối hợp một cách tự nhiên giữa
5

leo trèo giỏi. Chính vì vậy chó Phú Quốc được coi là giống chó quý của Việt
Nam. Theo Cao Minh Kim Quy thì chó Phú Quốc có 3 loại là chó Đồng Bà, Bắc
Đão và chó Ba Chạy. [Nguyễn Văn Thanh, Vũ Như Quán, Nguyễn Hoài Nam,
2012]
2.1.4. Một số giống chó ngoại tiêu biểu.
a. Giống Berger Đức:
Là giống chó có nguồn gốc từ Đức được xác định gồm berger lông ngắn và
lông dài. Theo David Alderton thì chó berger Đức khỏe mạnh,thông minh ,
nhanh nhẹn và có cơ bắp phát triển. Chó Berger Đức có tính ổn định rất cao về
trí tuệ và sự hài hòa giữa phần trước và phần sau của cơ thể. Hiện nay giống
chó này được phân bố rộng rãi khắp nơi trên thế giới và có nhiều mầu khác nhau
như: Đen nâu, đen vàng, đen xám, Chó có thân hình vừa phải, con đực cao
61-66 cm, nặng 37-45kg, con cái 56-62 cm, nặng 25-32 kg.
Giống chó này rất thông minh, linh hoạt, dũng cảm, điềm tĩnh. Chúng được
huấn luyện và sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau như: Tìm kiếm, cứu hộ,
trinh sát, bảo vệ…
b. Giống Rottweiler:
Hay còn có tên là Rottweiler Metzgerhund ( Butcher Dog). Giống chó này
thường có bộ lông màu đen với những đốm vàng trên má, trên mắt, bên dưới cổ,
ngực trước, chân và gần ngón chân. Đầu khỏe rộng, và lồi ở mức vừa phải, mũi
rộng, thẳng, hàm khỏe, môi sát, mắt hình quả hạnh đào, tai rũ xuống,… Thân
hình rắn chắc, cổ chắc, ngực rộng, hệ cơ bắp phát triển rất tốt.
Chó có thân hình to lớn và mạnh mẽ. Con đực cao 61-69 cm, nặng 43-59 kg.
Con cái cao 56-63 cm, nặng 38-52 kg.
c. Giống Labrado:
7
Là giống chó được nuôi phổ biến ở Mỹ và Anh, tổ tiên của chúng là
Newfuondland ở Canada. Chúng có thân hình khá dài, khỏe, rắn chắc và bộ lông
cứng, thẳng mịn không gợn sóng, đầu rộng, mũi dày và hàm sắc bén, mắt màu
hạt dẻ hoặc màu nâu đỏ. Chúng phổ biến với màu đen, vàng và socola. Con đực

ngắn thẳng và có thể xoắn lại.
h. Giống chó irish Setter:
Là giống chó có nguồn gốc từ Ireland, con đực cao 54-62 cm, nặng 18-22 kg.
con cái cao 52-60 cm nặng 15-22 kg. Chó có bộ lông vàng và sáng bạc dài và
mềm. Mõm dài bằng ½ chiều dài của toàn bộ đầu, có sống mũi thẳng màu đen
và sống mũi thẳng màu đen, mắt màu hạt giẻ hoặc màu nâu sẫm, tai chia thành
hình tam giác mềm mỏng, ức sâu và thuôn, ngực hẹp.
i. Giống chó Cavalier King Charles Spanniel:
Thường gọi tắt là Spaniel, có nguồn gốc từ Tây Ban Nha. Chó được nuôi với
mục đích giữ nhà và làm cảnh. Chó có tầm vóc nhỏ cao 36 cm nặng 5-8 kg. chó
có bộ lông xù dài , bộ lông màu nâu sẫm xen các điểm nâu nhạt ở đầu và 4
chân. Chó có đầu dài thô, mõm rộng tai dài và cụp, cổ thẳng, ngực sâu nở, bụng
thon, đuôi cọc, bàn chân chụm.
j. Giống chó Pug:
Có nguồn gốc là giống chó cảnh ở vùng viễn đông. Chó có tầm vóc nhỏ, cao
30-33, dài 50-55 cm, nặng 5-8 kg.
Chó có bộ lông mịn mầu nâu nhạt hoặc mầu vàng sẫm, khoang mắt chia
thùy, tai cụp, ngực sâu, đuôi ngắn và cuộn.
k. Giống chó Chihuahua:
Chihuahua được nuôi tại cung đình và quý tộc xưa ở Trung Quốc từ lâu đời.
Ngày nay chúng được nuôi làm cảnh ở nhiều nước trên thế giới, chó còn có tên
gọi là Fok hươu vì có kích thước nhỏ nhưng hình dáng giống con hươu.
9
Chó có tầm vóc khá nhỏ nhắn. Cao 16-20 cm dài 30 cm, nặng 2.1-2.7 kg là
một trong những giống chó nhỏ nhất thế giới. Chó có bộ lông vàng sẫm hoặc
nâu nhạt, tai mõm thường sẫm hơn. Về ngoại hình, Chihuahua có thân hình
thanh mảnh, mõm dài và tai dựng đứng, ngực nở, bụng thon nhỏ, đuôi ngắn.
Chó đực có thể phối giống khi 14 tháng tuổi, chó cái có thể phối giống khi 9-10
tháng tuổi.[Đỗ Hiệp,1994 ;Nguyễn Văn Thanh, Vũ Như Quán, Nguyễn Hoài
Nam, 2012]

đến quá trình hoạt động của các ezym trong cơ thể, ảnh hưởng đến quá trình
trao đổi chất, tuần hoàn của cơ thể.
Ở trạng thái sinh lý bình thường thân nhiệt của chó đo ở trực tràng dao
động từ 38,5 đến 39,5ᵒC, thường cao hơn ở chó non và thấp dần ở chó già, do ở
chó non quá trình trao đổi chất diễn ra mạnh hơn làm nhiệt độ cơ thể cao hơn.
[ Nguyễn Văn Thanh, Vũ Như Quán, Nguyễn Hoài Nam, 2012]
Thân nhiệt của chó phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Tình trạng sức khỏe
của cơ thể, tuổi tác, giới tính, sự vận động, thời gian trong ngày. Thông thường
nhiệt độ cơ thể chó vào buổi sáng thấp hơn buổi chiều, sự chênh lệch này dao
động từ 0.2-0.5ᵒC. Ngoài ra tình trạng bệnh lý cũng ảnh hưởng rất lớn đến nhiệt
độ cơ thể chó, sự thay đổi này phụ thuộc vào mức độ và tính chất của bệnh.
[Nguyễn Như Pho, 1995]
2.2.2. Tần số hô hấp.
Tần số hô hấp được tính bằng số lần hít vào( hoặc thở ra) / phút. Tần số hô
hấp phụ thuộc vào nhiều yếu tố như cường độ trao đổi chất, tuổi tác, tầm vóc,
trạng thái sinh lý và trạng thái bệnh lý…
Ở trạng thái sinh lí bình thường chó có tần số hô hấp10-30 lần/ phút.
[Nguyễn Xuân Tịnh, Tiết Hồng Ngân, Nguyễn Bá Mùi, Lê Mộng Loan, 1996].
Trong đó chó con 18-20 lần một phút. Chó trưởng thành có tần số hô hấp phụ
thuộc vào trọng lương của cơ thể, với chó có tầm vóc lớn thì có tần số hô hấp
11
10-20 lần mỗi phút, với chó có tầm vóc bé thì có tần số hô hấp là 20-30 lần mỗi
phút.
Tần số hô hấp phụ thuộc và nhiều yếu tố khác nhau như môi trường, tuổi tác:
- Nhiệt độ bên ngoài: Chó thải nhiệt qua đường hô hấp nên khi thời tiết
quá nóng thì chúng phải thở nhanh để thải nhiệt, khi đó nhịp thở của chúng có
thể lên đến 100-160 lần mỗi phút.
- Thời gian trong ngày: Do thời gian trong ngày chịu ảnh hưởng khác nhau
của thời tiết, vì vậy thời gian trong ngày khác nhau thì tần số hô hấp của chó
cũng khác nhau. Vào ban đêm và sáng sớm chó thở chậm hơn so với buổi trưa

có tương quan với chiều dài của cơ thể là 1/5. Tốc độ vận chuyển thức ăn trong
ruột là 7,7cm/ giờ. Trong ruột có dịch ruột được tiết ra trong giới hạn 100ml/
ngày đêm. Với pH là 8,3, trong dịch ruột có phần vô cơ và hữu cơ. Trong đó
phần vô cơ bao gồm các muối: Clorua, carbonat, hydroccarbonat, phần hữu cơ
bao gồm : Muxin, các men pepsin, amylaza, lipaza [Nguyễn Văn Thanh, Vũ
Như Quán, Nguyễn Hoài Nam, 2012]
+ Một số tuyến tiêu hóa khác.
- Tuyến tụy: Tiết ra dịch tụy với 1-35 ml/ ngày. Trong dịch tụy bao gồm
các thành phần như: Albumin, globulin, muxin, các men (tripsin,
maltalaza, lipaza,…) và một số thành phần vô cơ ( các muối carbonat,
hydrocarbornnat của kali, natri, magie).
Dịch mật: Đóng vai trò quan trọng trong quá trình tiêu hóa. Ở những con
chó lớn mỗi ngày tiết ra 250 ml/1 ngày đêm.dịch mật có pH : 5,33- 7,08. Trong
dịch mật có một số thành phần chính như: muối clorua, carbonat, phốt phat ,
sulphat của canxi, kali, magie và sắt.[Nguyễn Văn Thanh, Vũ Như Quán,
Nguyễn Hoài Nam, 2012]
13
2.2.5. Đặc diểm sinh dục và chu kì lên giống.
Tùy từng loại chó khác nhau mà có tuổi thành thục khác nhau, giống chó
nhỏ có tuổi thành thục sinh dục ngắn hơn so với chó to.
Thời gian thành thục bình thường của chó:
+ Với chó đực: Chó đực thành thục sinh dục vào khoảng 8-10 tháng tuổi,
tuy nhiên việc cho nó sinh sản nên bắt đầu khi đủ 10-15 tháng tuổi.
+ Với chó cái: Thường từ 9-15 tháng tuổi, tùy vào từng loại chó mà thời
gian có thể lên đến 24 tháng tuổi.
+ Một vài chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu trên chó trưởng thành.
Bảng số liệu thể hiện một số chỉ tiêu sinh lý máu của chó khỏe
Chỉ tiêu Đơn vị tính Trị số
Hồng cầu 10
3

[ Assesment, 2005]. Năm 1991 bệnh xảy ra trên quần thể sư tử serengeti ở
Tanzania, làm giảm 20% số lượng toàn đàn [timothy và cs, 2009].Đặc biệt virus
Care đã biến đổi có khả năng gây bệnh cho một số động vật biển [kennedy và cs
1989].
Ở việt nam bệnh được phát hiện năm 1920 bệnh xảy ra ở hầu hết các tỉnh và
cho tỉ lệ tử vong cao [lê Thị Tài, 2006]. Nguyễn Thị Lan và cộng sự đã nghiên
cứu thành công đặc điểm sinh trưởng của chủng CDV trên tế bào vero có gắn
receptor tương ứng với virus care, qua đó tác giả cũng chỉ ra tế bào vero DST là
tế bào thích hợp có khả năng phân lập và đánh giá hiệu giá virus.[ Lan NT và cs,
2005]
a. Căn bệnh.
Canine distemper virus (CDV) là thành viên của giống Morbillivirus thuộc
họ Paramixoviridea các thành viên khác của giống như virus gây bệnh sởi trên
người,virus gây dịch tả trâu bò(RPV), virus gây bệnh trên động vật nhai lại nhỏ (
PPRV), virus gây bệnh trên động vật có vú dưới nước [Griffin , 2001; Murphy
1999].
Morbillivirus là virus tương đối lớn, với cấu trúc xoắn ốc, chúng có lớp vỏ
lipoprotein [ Kennedy và cs, 1989]. Mặc dù có sự khác biệt nhỏ về kháng
nguyên giữa các chủng CDV nhưng nó được chấp nhận chỉ có 1 serotype. Tuy
nhiên có sự khác biệt đáng kể về khả năng gây bệnh của các virus được phân lập
và các typ ở các khu vực địa lý khác nhau đã được nói tới. Các typ của CDV bao
15
gồm: Asian 1 có ở Nhật Bản và Trung Quốc, Asian 2 chỉ có ở Nhật Bản, Bắc
Cực, động vật hoang dã Châu Âu, USA 1 và 2, CDV cổ điển (Onderstepoort,
Convac, Rockborne và Snyder Hill) [ Haas và cs, 1997,1999; Harder và
Osterhaus, 1997; Martella và cs, 2006,2007; Yoshida và cs 1998].
Virus Care chỉ có một serotype duy nhất nhưng có nhiều chủng được phân
lập ở nhiều khu vực địa lý khác nhau trên thế giới và có những đặc trưng riêng.
Trên thế giới hiện nay có 5 tupe lớn khác nhau về vùng địa lý phân lập với
những đặc tính cơ bản bao gồm: Tupe Châu Âu, Tupe cổ điển, Tupe Asia1,

1996], [David T. Swit , Donald S.Martin, 1979]
+ Sức đề kháng của virus:
Trong điều kiện hoang dã virus sống ít nhất 1 năm ở điều kiện 7
0
C. Trong
Nitrogen không có oxy virus sống được 1 năm và trong môi trường đông khô
virus sống được nửa năm. Ở điều kiện bên ngoài virus rất dễ bị vô hoạt và phá
hủy vì vậy việc lây nhiễm gián tiếp là rất hiếm gặp.
Sự vô hoạt đối với nhiệt độ của virus còn phụ thuộc vào cơ chất, đậm độ
virus, chủng virus. Trong môi trường lỏng virus rất dễ bị vô hoạt bởi tia cực tím,
tia gama.
Với pH: Virus ổn định ở 7,2-8.
Với các tác nhân hóa học: Rất dễ bị bất hoạt bởi các chất hòa tan lipid như
ete, chloroforme, hay những chất hóa học khác như formalin 0,1 % trong 1-2
giờ, phenol 0,5 % trong 48- 72 giờ.[Trần Thanh Phong, 1996]
+ Đặc tính sinh học của virus.
- Tính chất nuôi cấy:
Trên chó virus có độc lực được phân lập từ tế bào phổi.
Virus care có độc lực được giữ nguyên độc lực bằng cách cấy truyền qua
chó hoặc chồn mẫn cảm.
Các chủng vacxin:
17
Khi tiến hành nuôi cấy liên tục trên tế bào thận chó sẽ tạo nên chủng chó
hóa, tiêu biểu là chủng Rockborn. Những chủng này có thể gây viêm não sau khi
tiêm vacxin cho chó non, gây suy giảm miễn dịch.
Chủng gà hóa: Biến đổi bằng cách tiêm nhiều lần qua màng nhung niệu
trứng gà có phôi rồi sau đó cấy vào tế bào phôi gà. Tiêu biểu là chủng
Onderstepoort và chủng Lederles, những chủng này không gây bệnh trên chồn
và ít dẫn đến phản ứng sau khi tiêm so với chủng chó hóa.
- Độc lực của virus: Độc lực của virus thể hiện khả năng cảm nhiễm của

đều có thể gây bệnh.
+ Phương thức truyền lây:
- Lây trực tiếp do sự tiếp xúc giữa con khỏe và con ốm, nhưng phổ biến
hơn là qua thức ăn nước uống vấy nhiễm các chất bài tiết của con vật ốm như
nước mũi, nước tiểu.
- Lây qua đường hô hấp do con khỏe hít phải bụi hoặc chất bẩn có nhiễm
mầm bệnh từ con vật ốm tiết ra.
2.3.3. Cơ chế sinh bệnh.
Sau khi virus xâm nhập vào cơ thể con vật chúng bắt đầu xâm nhập vào
các đại thực bào rồi vào dịch bạch huyết rồi đến các hạch lympho tại đó chúng
nhân lên về số lượng và tăng cường về độc lực.
Sau đó virus vào máu và di chuyển đến các cơ quan và khi đó bắt đầu gây
sốt, cơn sốt kéo dài từ 1 cho đến 2 ngày.
Do cơ thể suy yếu, sức đề kháng của con vật giảm sút, một số vi khuẩn kí
sinh sẵn trên cơ thể như Staphylococcus, Bacillus bronchisepticus, Pasteurella,
Salmonella,… kế phát và gây nên nhiễm trùng phủ tạng vì vậy ít ngày sau cơn
sốt thứ hai sẽ xuất hiện với mức độ sốt mãnh liệt hơn so với cơn sốt thứ nhất. Đó
là do sự tác động của virus và các yếu tố kế phát. Chính vì vậy con vật bị bệnh
19
có những biến chứng như viêm phổi, viêm ruột, viêm não, sừng hóa gan bàn
chân.
2.3.4. Triệu chứng và bệnh tích.
a. Triệu chứng bệnh.
Biểu hiện lâm sàng của bệnh phụ thuộc vào nhiều yếu tố như độc lực chủng
gây bệnh, giống chó, tuổi chó mắc bệnh, tình trạng sức khỏe, chế độ chăm sóc
và nuôi dưỡng và một số biện pháp can thiệp thú y.
Đầu tiên chó biểu hiện các triệu chứng chung của bệnh như: Mệt mỏi, ủ rũ,
ăn ít, nôn mửa, lười vận động, chảy nước mắt nước mũi. Sau đó chó sốt 40-
41,5
0

- Chó bệnh ủ rũ buồn rầu hoặc hung dữ, sau đó xuất hiện các cơn co giật
đều đặn ở bắp thịt, mũi, tai, chân và đôi khi là toàn thân.
- Con vật đi loạng choạng, đi đứng không vững, đôi khi đâm sầm vào
tường, sùi bọt mép. Cuối cùng chó bị liệt, chó nằm bệt. Chó bị loạn nhịp tim,
thân nhiệt hạ và chết. Tỉ lệ chết có thể lên đến 60%, bệnh kéo dài trong 2-3 tuần.
Một số con lành bệnh thường có di chứng gầy còm, đi đứng xiêu vẹo, mù và
điếc… [Nguyễn Văn Thanh, Vũ Như Quán, Nguyễn Hoài Nam, 2012]
b. Bệnh tích chung:
+ Bệnh tích đại thể: Con vật chết gầy còm, lông bẩn và có mùi hôi, niêm
mạc mắt trũng sâu, niêm mạc mũi,miệng viêm cata và có nhiều chất nhớt.
Có thể gặp sừng hóa gan bàn chân và mõm. Tùy theo mức độ nhiễm vi
trùng có thể gây viêm phế quản phổi, viêm ruột, mụn ở da,… [Trần Thanh
Phong, 1996]
Bệnh tích thường gặp ở đường tiêu hóa là viêm cata ruột, loét ruột, hạch
ruột sưng, niêm mạc dạ dày có nhiều điểm xuất huyết, trong ruột có chứa phân
lẫn máu.
Lách sưng có nhồi huyết ở rìa, gan sưng bị thoái hóa mỡ và xuất huyết
thành vệt.
21
Triệu chứng ở đường hô hấp:Chó thường bị viêm mũi, viêm thanh khí
quản, chó bị viêm phổi nặng, có mụn mủ trong phổi, đôi khi mụn mủ vỡ ra gây
viêm phế mạc.
Triệu chứng trên thần kinh: Con vật bị viêm não, não bị tụ máu và xuất
hiện các tế bào thần kinh bị hoại tử.
+ Bệnh tích vi thể: Virus Care gây hoại tử những mô bạch huyết, có thể
thấy thể vùi trong tế bào chất của các tế bào như bàng quang, thận, những tế bào
biểu mô đường hô hấp, tiêu hóa và não.
Bệnh tích vi thể ở não: Có hiện tượng viêm não tủy không mủ với thoái
hóa nơron tăng sinh tế bào thần kinh đệm và thể vùi trong nhân thường gặp ở tế
bào thần kinh đệm. [Trần Thanh Phong, 1996]

+ Chẩn đoán huyết thanh học:
Phản ứng ELISA
Phương pháp kháng thể huỳnh quang trực tiếp.
+ Chẩn đoán bằng phản ứng RT-PCR.
+ Test chẩn đoán nhanh bệnh care.
23
PHẦN 3
ĐỐI TƯỢNG – NỘI DUNG – ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU
3.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU.
Chó mắc bệnh Care trong tự nhiên.
Tất cả các giống chó mang đến khám và điều trị tại cơ sở điều trị.
3.2 ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU.
- Phòng khám Pet Health, 240 Âu Cơ- Tây Hồ- Hà Nội.
- Phòng thí nghiệm bộ môn Bệnh Lý khoa Thú y Trường Đại học Nông
Nghiệp Hà Nội
- Phòng thí nghiệm công nghệ sinh học thú y.
- Thời gian nghiên cứu từ 01/07/2013-30/11/2013.
3.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU.
- Khảo sát tình hình nhiễm một số bệnh trên chó và tình hình nhiễm Care
theo giống, tuổi và theo mùa.
- Xác định một số chỉ tiêu huyết học chủ yếu của chó mắc bệnh Care.
- Xác định những biến đổi bệnh lý đại thể của chó mắc bệnh Care.
- Nghiên cứu một số biến đổi bệnh lý vi thể của chó mắc bệnh Care.
3.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
3.4.1. Phương pháp điều tra thu thập số liệu.
Chúng tôi tiến hành thu thập số liệu về các ca bệnh được mang tới khám và
điều trị tại phòng khám.
Với những ca bệnh chết chúng tôi tiến hành mổ khám và quan sát bệnh
tích.

Trích đoạn Kết quả theo dõi các chỉ tiêu lâm sàng Số lượng hồng cầu và hàm lượng huyết sắc tố của chó mắc bệnh Care. Một số chỉ tiêu sinh lý bạch cầu và công thức bạch cầu ở chó bị bệnh Care. Tổn thương đại thể ở chó bị bệnh Care.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status