Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước sau khi việt nam ra nhập WTO luận văn ths kinh tế 60 31 01 pd - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

Nguyễn Thanh Thảo

Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhà
nước sau khi Việt Nam ra nhập WTO

LUẬN VĂN THẠC SỸ

Hà nội - 2007


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ

Nguyễn Thanh Thảo

Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhà
nước sau khi Việt Nam ra nhập WTO

Luận văn Thạc sĩ
Mã Số: 60.31.01

Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Nguyễn Minh Khải

Hà nội - 2007


MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài


Đây đang là một yêu cầu bức thiết, được sự quan tâm lớn của Đảng, Nhà
nước và của từng doanh nghiệp. Vì vậy, việc tiếp tục nâng cao năng lực cạnh
tranh của doanh nghiệp nhà nước trong bối cảnh hiện nay mang một ý nghĩa
hết sức quan trọng về mặt lý luận và thực tiễn. Với quan niệm như vậy, tác giả
lựa chọn đề tài: “Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước sau
khi Việt Nam gia nhập WTO” làm luận văn tốt nghiệp cao học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Ở Việt Nam, việc nghiên cứu các vấn đề về doanh nghiệp nhà nước,
một bộ phận kinh tế quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam, luôn được sự
quan tâm đặc biệt của các nhà nghiên cứu, quản lý và hoạch định chính sách.
Nhiều công trình nghiên cứu về doanh nghiệp nhà nước đã được triển khai và
nhiều kết quả nghiên cứu đã được áp dụng vào đời sống thực tiễn cải cách
doanh nghiệp nhà nước như:
- “Doanh nghiệp nhà nước Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế
quốc tế” (2002), luận văn thạc sỹ kinh tế của Dương Thị Hồng Nhung - Khoa
Kinh Tế - Đại học Quốc Gia Hà Nội.
- “Giải pháp huy động và sử dụng vốn đối với doanh nghiệp nhà nước
hoạt động kinh doanh ở Việt Nam” (2002), luận án tiến sỹ kinh tế của Nguyễn
Văn Tạo, Đại học kinh tế quốc dân.
- “Những vấn đề lý luận cơ bản về doanh nghiệp nhà nước và vận dụng
nó vào việc tiếp tục đổi mới doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam” (2002), luận
án tiến sỹ kinh tế của Nguyễn Mạnh Quân, Đại học Kinh tế quốc dân.
- “Tiếp tục đẩy mạnh quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở
Việt Nam giai đoạn đến 2010” (2003), luận án tiến sỹ của Đỗ Thị Phi Hoài,
Viện Kinh tế học.
- “Quá trình đổi mới cơ chế quản lý doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam
từ 1986 đến nay - Thực trạng và giải pháp” (2005), luận án tiến sỹ của Hoàng
Hà, Đại học Kinh tế quốc dân.


cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước sau khi Việt Nam gia
nhập WTO
3


4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là nâng cao năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp nhà nước Việt Nam.
Phạm vi:
* Không gian: các doanh nghiệp nhà nước Việt Nam
* Thời gian: từ 1995 đến nay
5. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp như: duy vật biện
chứng, duy vật lịch sử, phương pháp trừu tượng hóa, phương pháp kết hợp
logíc và lịch sử, phương pháp so sánh, thống kê, phân tích và tổng hợp,
phương pháp chuyên gia.
6. Đóng góp mới của luận văn
- Khẳng định có căn cứ khoa học và thực tiễn về sự cần thiết phải nâng
cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam
- Hệ thống hóa kinh nghiệm của Trung Quốc về nâng cao năng lực cạnh
tranh của doanh nghiệp nhà nước sau khi gia nhập WTO
- Trên cơ sở đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của DNNN trước
khi gia nhập WTO, luận văn sẽ đề xuất một số giải pháp nhằm tiếp tục nâng
cao năng lực cạnh tranh của DNNN sau khi Việt Nam gia nhập WTO.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn nâng cao năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp nhà nước khi gia nhập WTO
Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước

doanh nghiệp nói riêng mà còn là nhân tố quan trọng làm lành mạnh hóa các
quan hệ xã hội.
Thực tế cho thấy cạnh tranh là hoạt động xã hội hết sức phức tạp đòi
hỏi được làm sáng tỏ ở nhiều tầng tiếp cận khác nhau.

5


Cạnh tranh theo định nghĩa của Đại từ điển Tiếng Việt là “ganh đua
giữa những cá nhân, tập thể có chức năng khác nhau, nhằm giành phần hơn,
phần thắng về mình”.
Theo Mác, “Cạnh tranh là nguồn gốc đẩy tới sự mù quáng của chủ
nghĩa tư bản tự do phóng túng, sự sung đột mãi mãi giữa các lực lượng cũ và
mới, đồng thời cũng là một cuộc vật lộn sống chết mà các nhà tư bản không
thể không tham dự”. Quan điểm này cho thấy sự cạnh tranh là sự ganh đua
gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong
sản xuất và tiêu thụ hàng hóa để thu lợi nhuận siêu ngạch.
Trong từ điển thuật ngữ kinh tế học (Nhà xuất bản Bách Khoa Hà Nội –
2001) thì cạnh tranh “là sự đấu tranh đối lập giữa các cá nhân, các tập đoàn
hay quốc gia. Cạnh tranh nảy sinh khi hai hay nhiều bên cố gắng giành lấy
thứ mà không phải ai cũng có thể giành được”.
Trong từ điển kinh doanh (xuất bản tại Anh năm 1992). “Cạnh tranh là
sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm giành
cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía
mình”.
Ủy ban cạnh tranh công nghiệp của tổng thống Mỹ cho rằng “ cạnh
tranh đối với một quốc gia là mức độ mà ở đó, dưới các điều kiện của thị
trường tự do và công bằng, có thể sản xuất các hàng hóa và dịch vụ đáp ứng
được các đòi hỏi của thị trường quốc tế, đồng thời duy trì và mở rộng thu
nhập thực tế của nhân dân nước đó”.

trong lợi thế cạnh tranh ngành, quốc gia, khu vực.
* Khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được sử dụng khá phổ
biến trong lý thuyết về tổ chức ngành công nghiệp. Lý thuyết này cho rằng,
một doanh nghiệp được coi là có sức cạnh tranh khi doanh nghiệp đó đứng
vững trên thị trường bằng cách sản xuất ra những sản phẩm tương tự các đối
thủ với mức giá thấp hơn hay bằng cách cung cấp các sản phẩm tương tự với
các đặc tính về chất lượng hoặc dịch vụ hoàn hảo, đáp ứng được thị hiếu cho
khách hàng trong môi trường cạnh tranh lành mạnh. Một doanh nghiệp yếu

7


kém về năng lực cạnh tranh sẽ bị đẩy ra khỏi thị trường nếu như doanh nghiệp
đó không kịp thời thay đổi “ hình ảnh” của mình trước các đối thủ. Lợi ích mà
doanh nghiệp này đạt được trong cạnh tranh đồng nghĩa với việc gây ra những
“ tổn thương” cho doanh nghiệp khác là đối thủ tham gia cạnh tranh với mình.
Cạnh tranh của các doanh nghiệp trong một ngành nào đó có tính chất sống
còn sẽ được đặc trưng bởi trò chơi mà nếu một bên được thì bên kia phải mất:
zero- sumgame
Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương (CIEM) và chương trình
phát triển Liên hợp quốc (UNDP) cho rằng: “Năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp được đo bằng khả năng duy trì và mở rộng thị phần, thu lợi nhuận của
doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh trong nước và ngoài nước”(1). Có
ý kiến khác: “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là phát huy thực lực, sử
dụng lợi thế để tồn tại và phát triển trên thị trường một cách vững chắc nhằm
thu được lợi nhuận ngày càng cao”(2).
Cuốn sách Asian Development Outlook, xuất bản năm 2003, trang 205
định nghĩa năng lực cạnh tranh (Competitiveness) là “Khả năng của một công
ty tồn tại trong kinh doanh và đạt được một số kết quả mong muốn dưới dạng

trung gian, vào sự dễ hay khó có được các dịch vụ công với các chi phí thấp.
Nói cách khác, môi trường kinh doanh cũng ảnh hưởng lớn đến sức cạnh
tranh của DN, nhất là môi trường tài chính và môi trường luật pháp”.
Như vậy, có nhiều cách hiểu khác nhau về năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp, nhưng theo tác giả: năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là
hiệu quả của sự kết hợp các yếu tố cấu thành về chất tạo nên sức mạnh cạnh
tranh kinh tế của doanh nghiệp trước các đối thủ cạnh tranh trong một giai
đoạn nhất định thuộc môi trường cạnh tranh lành mạnh, được thể hiện qua
những tiêu chí khác nhau như: Doanh thu, thị phần, tỷ suất lợi nhuận, sức
mạnh thương hiệu, thị giá cổ phiếu…
Với quan niệm như vậy, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cần
được nhận thức đồng thời trên hai góc độ: các yếu tố cấu thành về chất của
năng lực cạnh tranh và các chỉ tiêu về lượng đo lường năng lực cạnh tranh.

9


* Khái niệm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Theo cách tiếp cận trên năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp luôn
trong trạng thái vận động dẫn đến kết quả là lợi thế cạnh tranh, thị phần và lợi
nhuận của doanh nghiệp có thể thay đổi theo chiều hướng bất lợi hay thuận
lợi. Do vậy, để duy trì năng lực cạnh tranh trong môi trường cạnh tranh của
kinh tế thị trường, doanh nghiệp nào cũng phải thường xuyên nâng cao năng
lực cạnh tranh bằng các biện pháp và hành động cụ thể. Cho đến nay, vẫn
chưa có một quan niệm chính thức nào mang tính học thuật về nâng cao năng
lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong điều kiện gia nhập WTO. Theo tác giả
để có thể tiếp cận khái niệm nâng cao năng lực cạnh tranh cần chú ý đến
những vấn đề sau:
Một là, nói đến nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp hay một
chủ thể kinh tế nào đó là nói đến một hành vi kinh tế đặc trưng - khả năng đổi

yếu tố sản xuất mà doanh nghiệp huy động được so với các đối thủ cạnh
tranh hiện có và tiềm tàng nhằm giữ vững, mở rộng thị phần và lợi nhuận cho
doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh quốc tế ngày càng gia tăng.
1.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Chìa khóa để hiểu và phân tích năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
khi gia nhập WTO là phải xác định được các yếu tố cấu thành của chúng.
Khái quát lại, nó bao gồm các nhân tố bên trong và các nhân tố bên ngoài.
1.1.2.1 Các nhân tố bên trong năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Nhân tố bên trong năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là một tập hợp
bao gồm: Chiến lược kinh doanh; tiềm lực tài chính; chất lượng nguồn nhân
lực; trình độ khoa học công nghệ; chi phí kinh doanh; năng lực tiếp cận thị
trường; văn hóa doanh nghiệp.
* Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp
Michael E.Porter, Giáo sư nổi tiếng về chiến lược kinh doanh của
trường Đại học Harvard, đã phát biểu những quan điểm của mình về chiến
lược qua bài báo “ Chiến lược là gì” (năm 1996):

11


Thứ nhất, chiến lược là sự sáng tạo ra vị thế có giá trị và độc đáo bao
gồm các hoạt động khác biệt.
Thứ hai, chiến lược là sự lựa chọn, đánh đổi trong cạnh tranh.
Thứ ba, chiến lược là việc tạo ra sự phù hợp giữa tất cả các hoạt động
của công ty.
Chiến lược có thể coi là tập hợp những quyết định và hành động hướng
tới mục tiêu để các năng lực và nguồn lực của tổ chức đáp ứng được những cơ
hội và thách thức bên ngoài. Theo Albert.J.Dunlap, “Chiến lược của doanh
nghiệp phải hội tụ như tia laze, không tỏa rộng như viên đạn ghém”.
Hội tụ chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp gồm nhiều loại chiến

* Tiềm lực tài chính của doanh nghiệp
Tiềm lực tài chính của doanh nghiệp không chỉ thể hiện ở quy mô vốn
kinh doanh. Có những doanh nghiệp quy mô vốn “lớn” nhưng “không mạnh”,
đó là do cơ cấu tài sản, nguồn vốn không phù hợp với quy mô và đặc thù sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp, doanh nghiệp chưa biết khai thác và sử
dụng có hiệu quả nguồn lực tài chính của mình và không tránh được nguy c
nợ đọng trong thanh quyết toán. Ngược lại, có những doanh nghiệp quy mô
nhỏ nhưng vẫn được coi là mạnh vì doanh nghiệp đã duy trì tình trạng tài
chính tốt, biết cách huy động những nguồn tài chính thích hợp để sản xuất
kinh doanh những sản phẩm có sức cạnh tranh phục vụ tốt thị trường mục tiêu.
Như vậy, muốn nâng cao năng lực cạnh tranh, các doanh nghiệp phải
nâng cao tiềm lực tài chính của doanh nghiệp mình không chỉ bằng cách tăng
quy mô vốn mà quan trọng hơn là phải nâng cao khả năng huy động vốn, bởi
vì khả năng huy động vốn có hiệu quả phục vụ cho quá trình tái sản xuất là
một nội dung rất quan trọng, nó không những phản ánh năng lực của doanh
nghiệp trong việc tiếp cận những yếu tố đầu vào của sản xuất, mà còn tạo điều
kiện thuận lợi cho hoạt động tiêu thụ sản phẩn sau này.

13


* Chất lượng nguồn nhân lực
Chất lượng nguồn nhân lực có ý nghĩa sống còn đối với năng lực cạnh
tranh của doanh nghiệp, nó cho phép doanh nghiệp thực hiện được chủ trương
chuyển đổi cơ cấu sản xuất theo chiều sâu, ứng dụng rộng rãi kỹ thuật và công
nghệ tiên tiến vào các quy trình sản xuất nhằm thực hiện chuyên môn hóa sâu
rộng, chuyên biệt hóa sản phẩm… Vì thế, muốn nâng cao năng lực cạnh tranh
của doanh nghiệp không thể không nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Thông điệp ở đây là : Thu hút và phát triển nguồn nhân lực tài năng là yếu tố
chủ chốt quyết định tốc độ tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh cho

các yêu cầu của khách hàng, qua đó làm tăng hiệu quả kinh doanh và tạo một
vị trí vững chắc trên thị trường. Các chi phí điện nước… luôn là một yếu tố
được xem xét khi có dự án đầu tư, nhất là đầu tư nước ngoài. Nó cũng được
xem xét đến khi so sánh sức cạnh tranh giữa các nước. Điều này cho thấy chi
phí điện, nước… ảnh hưởng không nhỏ tới giá thành sản phẩm trong một số
ngành và có ảnh hưởng tới sức cạnh tranh của doanh nghiệp.
* Năng lực tiếp cận thị trường
Thị trường là nơi kiểm chứng tốt nhất cho sức cạnh tranh của doanh
nghiệp. Theo quan điểm sản xuất, có thị trường các yếu tố đầu vào và thị
trường các yếu tố đầu ra với hai hoạt động cơ bản là nghiên cứu nhu cầu thị
trường và xác định thị trường mục tiêu. Hiểu biết, nắm bắt thị trường nhạy
bén đi đôi với khai thác và chiếm lĩnh thị trường mục tiêu là nhiệm vụ sống
còn của doanh nghiệp vì nó tác động trực tiếp đến quá trình tái sản xuất mở
rộng. Quá trình này đòi hỏi phải được tiến hành thường xuyên, khoa học và
chấp nhận chi phí thỏa đáng. Sức mạnh cạnh tranh quốc tế đòi hỏi sự phân
tích chính xác từng đoạn thị trường nhằm đáp ứng tốt nhất những đòi hỏi từ
phía cầu.
* Văn hóa doanh nghiệp
Văn hóa doanh nghiệp là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng
cạnh tranh của doanh nghiệp vì yếu tố này tác động đến cách thức các cá
nhân, nhóm, bộ phận tương tác với nhau và khả năng sáng tạo của họ. Nếu
doanh nghiệp xác định được truyền thống văn hóa thích hợp sẽ là nhân tố

15


thuận lợi khai thông mọi ý tưởng sáng tạo, kích thích tiềm năng của các cá
nhân và hệ thống, gắn kết được các hoạt động các cá nhân, bộ phận trong
doanh nghiệp thành thể thống nhất, thực hiện hài hòa lợi ích và gắn kết được
người lao động và quản lý với sự phát triển của doanh nghiệp. Ngược lại, nếu

việc sử dụng các yếu tố đầu vào đã có. Chẳng hạn như ngành sản xuất thép ở
Nhật Bản có sức cạnh tranh cao trên thị trường thế giới dù họ không có lợi thế
về tài nguyên sắt hoặc than mà ở chỗ họ có công nghệ sản xuất thép rất tốt.
Hai là, sức ép từ phía cầu
Ba khía cạnh chủ yếu của nhu cầu ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh
của doanh nghiệp: bản chất của nhu cầu, dung lượng và tốc độ của tăng
trưởng của nhu cầu, cơ chế lan truyền nhu cầu trong nước ra thị trường quốc
tế. Khi người tiêu dùng đòi hỏi cao về chất lượng sản phẩm và các dịch vụ đi
kèm theo sẽ tạo áp lực đối với các doanh nghiệp phải đáp ứng các tiêu chuẩn
về chất lượng sản phẩm, đặc tính kỹ thuật, dịch vụ… tạo sức ép chuyển sang
đáp ứng đoạn nhu cầu mới cao cấp hơn qua đó nâng vị thế của doanh nghiệp
trong cạnh tranh. Tốc độ tăng trưởng của nhu cầu trong nước ở một khía cạnh
khác là nhu cầu bão hòa nhanh chóng sẽ kích thích doanh nghiệp phải thường
xuyên quan tâm đến đổi mới công nghệ, tăng năng suất lao động… Tức là
phải liên tục đổi mới.
Với những doanh nghiệp cạnh tranh mạnh trong môi trường trong nước
thì khi tham gia cạnh tranh quốc tế sẽ có nhiều cơ may chiến thắng hơn.
Chẳng hạn, như các doanh nghiệp trong ngành chế biến thức ăn nhanh của
Hoa Kỳ có sức cạnh tranh rất mạnh trên thị trường thế giới là do người tiêu
dùng trong nước là những khách hàng đòi hỏi tốc độ và sự thuận tiện nhất thế
giới.
Ba là, ngành công nghiệp phụ trợ
Ngành công nghiệp phụ trợ là ngành mà doanh nghiệp có thể phối hợp
và chia sẻ trong chuỗi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, chúng có tính

17


chất bổ trợ ở các khâu của quá trình sản xuất. Ngành công nghiệp phụ trợ bao
gồm sản xuất chi tiết linh kiện, các công nghệ sản phẩm đầu vào để sản xuất

vào sản phẩm mới thì khi đó năng lực cạnh tranh được nâng cao do những ý
tưởng mới được phổ biến và sử dụng rộng rãi. Một môi trường có nhiều đối
thủ cạnh tranh sẽ giảm đi gánh nặng trợ cấp và bảo hộ từ phía Chính phủ. Tuy
vậy, tính chất cạnh tranh gay gắt trong nước chưa phải là điều kiện tuyệt đối
đảm bảo cho doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh toàn cầu.
* Những tác động tích cực từ phía Nhà nước để nâng cao năng lực
cạnh tranh cho doanh nghiệp
Được xem là tế bào của nền kinh tế, năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp là cơ sở tạo dựng năng lực cạnh tranh quốc gia. Không một quốc gia
nào có năng lực cạnh tranh cao mà lại thiếu vắng những doanh nghiệp có sức
mạnh cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Tầm chiến lược phải được nhìn nhận
từ phía Nhà Nước, với tư cách là chủ thể tiều tiết vĩ mô nền kinh tế hướng tới
tạo dựng cho doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh cao, môi trường kinh
doanh trong nước thuận lợi, các chính sách kinh tế vĩ mô rõ ràng, có thể dự
báo được, nền kinh tế duy trì ổn định, bộ máy Nhà nước gọn nhẹ, hoạt động
hiệu quả và có tính chuyên nghiệp cao.
Vai trò của Nhà nước đối với quá trình nâng cao năng lực cạnh tranh
cho doanh nghiệp thường diễn ra khá phức tạp, định tính nhiều hơn định
lượng, có thể gây ra tác động hai mặt thuận lợi và bất lợi. Đương nhiên,
những bất lợi thường nằm ngoài mong muốn của Chính phủ. Các cơ quan
chính phủ có thể xác lập các tiêu chuẩn hoặc quyết định về chất lượng, cơ cấu
sản phẩm trong nước; Chính phủ có thể là người mua lớn đối với nhiều loại
hàng hóa hoặc đặt hàng đối với doanh nghiệp; quyết định những sản phẩm
chiến lược, chủ lực ở từng giai đoạn phát triển cụ thể; kiến tạo hệ thống các
ngành công nghiệp hỗ trợ nhằm cải thiện điều kiện kinh doanh; cũng có thể là
kiểm soát và tác động đến chiến lược và cấu trúc doanh nghiệp ở mức độ này

19




Do đó, phân tích năng lực cạnh tranh đòi hỏi phải có quan điểm toàn diện,
đánh giá dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau.
1.1.3.1 Quy mô của doanh nghiệp
Quy mô thực chất là giảm chi phí trên một đơn vị sản phẩm, tận dụng
lợi thế về quy mô sản xuất kinh doanh lớn. Cản trở về quy mô buộc các DN
mới xuất hiện phải tham gia vào kinh doanh với quy mô lớn mà đó là một rủi
ro đối với một DN mới. Trong nền kinh tế hội nhập, yếu tố vốn đối với doanh
nghiệp càng trở nên quan trọng, nó là cơ sở để doanh nghiệp có thể tiến hành
thực hiện tốt các nội dung hoạt động của mình, là cơ sở để doanh nghiệp phát
triển, mở rộng quy mô tạo thế cạnh tranh với các doanh nghiệp khác. Còn nếu
doanh nghiệp tham gia với quy mô nhỏ thì phải chấp nhận bất lợi về chi phí,
do đó rất khó có thể cạnh tranh nổi với các doanh nghiệp hiện có.
1.1.3.2 Trình độ kỹ thuật công nghệ
Bao gồm các hoạt động nghiên cứu và triển khai (R&D), mức độ hiện
đại hóa các trang thiết bị và công nghệ trong quá trình sản xuất. Mức độ đó
diễn ra trên hai mảng chính: trình độ cơ khí hóa, tự động hóa thay thế số lao
động phổ thông bằng máy móc, thiết bị hiện đại và trình độ công nghệ chế tác
các sản phẩm đầu vào cho doanh nghiệp. Hai mảng chính yếu này được nâng
cấp thì chất lượng sản phẩm sẽ tăng cao, giá trị gia tăng trong sản phẩm lớn,
tạo tiền đề để doanh nghiệp nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường. Hiện
nay, lợi thế cạnh tranh dựa trên hao phí lao động rẻ của các nước đang phát
triển đã giảm mạnh và đã có cảnh báo là mất hẳn do quá trình tự động hóa, tin
học hóa ở các nước phát triển và công nghiệp hóa mới dưới tác động của cuộc
cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại.
Có thể nói, tình trạng trình độ máy móc thiết bị và công nghệ có ảnh
hưởng một cách sâu sắc tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nó là yếu
tố vật chất quan trọng bậc nhất thể hiện năng lực sản xuất của một doanh
nghiệp và tác động trực tiếp tới chất lượng sản phẩm. Ngoài ra, công nghệ sản
21


22


quan hệ , chi phí này có khi là hợp lý, nhưng đa số bất hợp lý do chính sách
nhiễu từ các cấp chính quyền. Các khoản chi phí này là những lực lượng vật
chất chủ yếu hình thành nên giá của sản phẩm khi tham gia cạnh tranh. Hiện
nay, yếu tố thương hiệu hàng hóa - tài sản vô hình của doanh nghiệp là tiền đề
rất quan trọng để tăng giá trị của sản phẩm mới.
Thứ hai, về chất lượng sản phẩm: được đo bằng mức độ thỏa mãn nhu
cầu của người tiêu dùng bằng những tiện ích của sản phẩm và sự chuyên biệt
hóa sản phẩm, tính năng đa dạng của sản phẩm…Vì nhu cầu của con người
luôn biến đổi, nên chất lượng cũng phải thường xuyên biến đổi theo thời gian,
không gian, điều kiện sử dụng.
Có thể nói, giá thành và chất lượng sản phẩm là một tiêu chí rất quan
trọng để đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nếu một doanh
nghiệp muốn đứng vững trong cạnh tranh thì trong chiến lược kinh doanh của
mình doanh nghiệp đó phải hạ giá thành tới mức thấp nhất có thể và đồng thời
phải nâng cao chất lượng sản phẩm.
1.1.3.5 Hoạt động maketing
Bao gồm khả năng thiết kế các kênh phân phối, hiệu quả hoạt động của
các kênh đó thông qua các trung gian phân phối, hạ tầng vật chất kỹ thuật
phục vụ cho quá trình chuyển hàng tới tay người tiêu dùng (khách hàng), hoạt
động chăm sóc khách hàng sau khi bán (bảo hành, khuyến mại, bảo dưỡng),
quảng cáo, tiếp thị, dùng thử ….sẽ tạo sức mạnh vượt trội và gây dấu ấn mạnh
mẽ về những hình ảnh tích cực của doanh nghiệp đối với người tiêu dùng,
giúp doanh nghiệp vươn dài cánh tay trao đổi đến những thị trường mới,
khách hàng mới, khuyến khích sản xuất phát triển.
1.1.3.6 Thị phần của doanh nghiệp
Thị phần doanh nghiệp là phần thị trường mà doanh nghiệp đã chiếm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status