ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
----------***----------
Hồ Kim Hương
Cải cách các Doanh nghiệp nhà nước
theo hướng hội nhập kinh tế quốc
tế ở Việt Nam
Chuyên ngành
Mã số
: kinh tế
: 60 31 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn: PGS.TS Mai Thị Thanh Xuân
HÀ NỘI - 2008
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ và trở thành
xu thế tất yếu của thời đại. Ngày nay, không một quốc gia nào có thể đứng ngoài
quá trình ấy nếu không muốn tụt hậu, Việt Nam cũng không nằm ngoài quá trình
đó. Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng đã chỉ rõ “ xây dựng một nền kinh tế mở,
hội nhập khu vực và thế giới, hướng mạnh về xuất khẩu, đồng thời thay thế nhập
khẩu bằng những sản phẩm trong nước sản xuất có hiệu quả” 8 “Điều chỉnh cơ
là: “Cải cách các Doanh nghiệp nhà nƣớc theo hƣớng hội nhập kinh tế quốc
tế ở Việt Nam”.
2. Tình hình nghiên cứu:
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về cải cách DNNN cũng như hoạt
động của DNNN trước và sau thời kỳ đổi mới. Liên quan trực tiếp đến đề tài có
các công trình tiêu biểu sau:
- “Doanh nghiệp Nhà nước trong phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam đến
năm 2010”, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2004 của PGS.TS Ngô Thắng Lợi.
Trong công trình này, tác giả đã đánh giá thực trạng DNNN trong phát triển kinh
tế – xã hội thời kỳ đồi mới, từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu
quả của các DNNN trong phát triển kinh tế – xã hội ở Việt Nam.
- “Sở hữu Nhà nước và doanh nghiệp Nhà nước trong nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” của PGS. TS Nguyễn Cúc – PGS. TS
Kim Văn Chính, Nxb Lý luận Chính trị, 2006. Các tác giả đã làm rõ bản chất,
vai trò, phạm vi hoạt động và sự cần thiết của sở hữu Nhà nước và DNNN trong
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, từ đó đề xuất hệ
thống chính sách, giải pháp nhằm đổi mới hệ thống DNNN phù hợp với yêu cầu
xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
-“Kinh tế Nhà nước và quá trình đổi mới doanh nghiệp Nhà nước” của Ngô
Quang Minh, Nxb chính trị quốc gia Hà nội, 2001. Trong ấn phẩm này, tác giả
nghiên cứu về kinh tế Nhà nước và quá trình cải cách các DNNN, từ đó đề ra
các giải pháp nhằm phát triển DNNN trong thời kỳ đổi mới.
2
-“Những bài học kinh nghiệm từ cải cách kinh tế ở Trung Quốc”, Dương
Hoàng Oanh, Nxb Đại Học Quốc gia Hà Nội, 2003 đã phân tích đánh giá những
thành tựu của quá trình cải cách kinh tế ở Trung Quốc, từ đó đưa ra những bài
học kinh nghiệm cho Việt Nam.
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản về DNNN và cải cách doanh
nghiệp Nhà nước.
- Phân tích, đánh giá thực trạng cải cách DNNN trong điều kiện hội nhập
kinh tế quốc tế, rút ra những vấn đề bất cập của DNNN trước yêu cầu của Hội
nhập kinh tế quốc tế.
- Đề xuất giải pháp để đẩy mạnh cải cách DNNN theo hướng hội nhập kinh
tế quốc tế có hiệu quả hơn
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu quá trình cải cách các DNNN ở Việt Nam trong điều
kiện Hội nhập kinh tế quốc tế. Đồng thời, luận văn cũng nghiên cứu một số nét
cơ bản về quá trình cải cách DNNN của Trung Quốc để rút ra những bài học
kinh nghiệm cho Việt Nam.
4.2. Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vị không gian: Nghiên cứu quá trình cải cách DNNN ở Việt Nam.
- Phạm vi thời gian: Từ năm 1996 đến nay và những năm tiếp theo.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy
vật lịch sử. Các phương pháp cụ thể là: phương pháp trừu tượng hoá khoa học,
phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp tiếp cận hệ thống, phương pháp
so sánh, phương pháp thống kê và có sự kế thừa chắt lọc kết quả kháo sát tình
hình nghiên cải cách DNNN của nhiều công trình, nhiều tác giả đi trước..
6. Đóng góp mới của luận văn:
- Đánh giá một cách toàn diện và hệ thống về thực trạng cải cách DNNN ở
Việt Nam từ 1996 đến nay.
4
- Làm rõ những vấn đề đặt ra đối với tiến trình cải cách DNNN trong bối
Nam chủ trương chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị
trường thì quan niệm về DNNN đã có sự thay đổi. Theo luật DNNN Việt nam
năm 1995, DNNN được hiểu là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn, thành
lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc công ích, nhằm thực hiện các
mục tiêu Nhà nước giao. Doanh nghiệp Nhà nước có tư cách pháp nhân, có các
quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động sản xuất
kinh doanh trong phạm vi số vốn do Nhà nước quản lý. Theo luật này thì các
DNNN phải là các doanh nghiệp có 100% vốn thuộc Nhà nước, nhưng Nhà
nước không quản lý trực tiếp tất cả mọi hoạt động kinh doanh. Quan điểm về
DNNN sau đó có thay đổi cho phù hợp hơn với đặc điểm của DNNN.
Luật DNNN năm 2003 có sự điều chỉnh về khái niệm DNNN như sau:
DNNN là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc cổ phần,
vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty Nhà nước, công ty cổ
phần, công ty trách nhiệm hữu hạn. Như vậy, theo luật này, DNNN không nhất
thiết là nhà nước phải đầu tư 100% vốn như đã quy định tại luật DNNN Việt
nam năm 1995, có thể nhà nước chỉ cần giữ phần vốn góp chi phối.
Năm 2005, Quốc hội ban hành luật Doanh nghiệp chung (thay cho luật
DNNN và Doanh nghiệp tư nhân như trước đây). Theo luật này, DNNN là
doanh nghiệp do nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ (Khoản 22, điều 4, Luật
7
Doanh nghiệp 2005). Theo luật này, khái niệm về DNNN đã được mở rộng hơn
trước đó là chỉ cần nhà nước giữ cổ phần chi phối trong các DNNN.
Như vậy, DNNN là doanh nghiệp được thành lập bởi 100% vốn Nhà nước
hoặc những doanh nghiệp mà Nhà nước giữ cổ phần chi phối.
1.1.2 Phân loại DNNN
Căn cứ vào từng tiêu chí khác nhau, người ta có nhiều cách phân loại
DNNN khác nhau. Theo Luật doanh nghiệp Việt nam , có 3 cách phân loại
trò xã hội. Do vậy nó có vai trò quan trọng trong nền kinh tế của mỗi quốc gia:
tạo tiềm lực vật chất cho Nhà nước, là công cụ để Nhà nước can thiệp, điều tiết
nền kinh tế, đồng thời DNNN giúp thực hiện những nhiệm vụ chính trị, xã hội
của Nhà nước.
1.1.3.1. Vai trò kinh tế
Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nhà nước tác
động vào nền kinh tế theo hai cách: điều tiết thông qua các công cụ, chính sách
quản lý vĩ mô chung và tác động trực tiếp thông qua hoạt động của các DNNN.
Do đó vai trò kinh tế của các DNNN trong nền kinh tế thị trường được thể hiện
ở các mặt cơ bản sau:
Thứ nhất, DNNN giúp khắc phục những khuyết tật của cơ chế thị trường
và khu vực tư nhân.
Đây là vai trò quan trọng nhất của các DNNN trong nền kinh tế thị trường
nói chung. Với tính định hướng xã hội chủ nghĩa, vai trò này càng phải được đề
cao vì tất cả những khuyết tật của thị trường đều làm giảm hiệu quả xã hội của
hệ thống kinh tế do đó cần khắc phục. Vai trò của DNNN thể hiện rõ nét ở hai
lĩnh vực đó là: đảm nhận sản xuất các hàng hoá công cộng và đảm nhận vai trò
quan trọng trong các ngành độc quyền tự nhiên. Đối với các hàng hoá công
cộng, nhất là hàng hoá công cộng thuần tuý, do tính chất của loại hàng hoá này
là không loại trừ và không thể phân chia nên các doanh nghiệp tư nhân sẽ không
tham gia mà chỉ có DNNN tham gia sản xuất mới tạo ra được tính hiệu quả. Còn
đối với những ngành độc quyền, đây là những ngành mà chi phí sản xuất chỉ có
thể tối thiểu nếu toàn bộ sản lượng ngành chỉ do một nhà sản xuất cung cấp. Do
vậy DNNN đảm nhiệm trong lĩnh vực này là cần thiết.
9
Thứ hai, DNNN đảm nhận các lĩnh vực sản xuất kinh doanh có tính chiến
lược đối với sự phát triển kinh tế xã hội đòi hỏi vốn đầu tư lớn vượt quá khả
1.1.3.2.Vai trò chính trị
Doanh nghiệp nhà nước dù ở mô hình nào cũng có vai trò chính trĩ rõ rệt.
Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vai trò chính trị của
các DNNN có thể thay đổi theo từng thời kỳ, tuỳ thuộc vào các yếu tố khách
quan và chủ quan. Tuy nhiên về nguyên tắc, vai trò chính trị thể hiện ở hai nội
dung cơ bản:
Thứ nhất, nắm giữ những ngành đặc biệt quan trọng liên quan đến an ninh
quốc phòng của quốc gia.
Thứ hai, tham gia chiếm giữ một số vị trí thiết yếu, quan trọng (tuỳ theo
từng thời kỳ phát triển kinh tế) để chủ động định hướng xã hội, làm đối trọng
trong phát triển hội nhập kinh tế quốc tế.
1.1.3.3. Vai trò xã hội
Vai trò xã hội của DNNN trong nền kinh tế thị trường thường gắn liền với
vai trò kinh tế và vai trò chính trị của khu vực này. Vai trò xã hội của các
DNNN được thể hiện ở các nội dung sau:
Thứ nhất, DNNN có vai trò là công cụ của nhà nước làm bà đỡ cho hệ
thống doanh nghiệp phát triển ổn định. Thực hiện vai trò này, nhà nước với tư
cách là chủ sở hữu phải gánh chịu những thiệt hại về kinh tế nhưng do quy mô
tác động ở nhiều ngành, có thể bù trừ thu nhập về tổng thể, hoàn toàn có thể
không cần hỗ trợ lớn từ ngân sách.
Thứ hai, DNNN đảm nhận những ngành ở những địa bàn khó khăn có ý
nghĩa chính trị – xã hội mà tư nhân không đầu tư, thực hiện sự bảo đảm cân
bằng về đầu tư phát triển theo vùng, địa bàn. Vai trò này rất quan trọng vì nó
vừa bảo đảm mục tiêu xã hội, vừa bảo đảm các mục tiêu chính trị của đầu tư và
quản lý nhà nước.
Thứ ba, DNNN có vai trò xã hội khi trực tiếp đảm nhận các ngành sản xuất
hàng hoá công cộng. Khi DNNN tham gia khắc phục khuyết tật thị trường về
sản xuất hàng hoá công cộng, chúng đã thực hiện vai trò xã hội. Các hàng hoá
công cộng có tác động xã hội lớn là kết cấu hạ tầng kỹ thuật (đường giao thông,
mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị. Những phương
hướng đó đã thu được những thành tựu nổi bật, khắc phục tình trạng sản xuất trì
12
trệ và khủng hoảng kinh tế, kiềm chế lạm phát, giải phóng mọi năng lực sản
xuất, tạo ra nhịp độ phát triển kinh tế – xã hội cao, cải thiện một bước đời sống
nhân dân về vật chất cũng như tinh thần.
Như vậy, cải cách kinh tế cũng chính là những biện pháp được đưa ra để
giải quyết những đòi hỏi của thực tiễn với mục tiêu rõ ràng, chương trình cụ thể
nhằm để quan hệ sản xuất phải luôn luôn phù hợp với tính chất và trình độ của
lực lượng sản xuất của từng thời kỳ, từng giai đoạn cụ thể.
Cải cách DNNN về thực chất là sự “đổi mới và sắp xếp lại” các DNNN.
Đó là yếu tố cơ bản của quá trình cải cách kinh tể nhằm chuyển đổi nền kinh tế
từ kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường. Cải cách DNNN là bộ
phận hợp thành quan trọng và là nội dung ngày càng mang tính quyết định
phương hướng, triển vọng cải cách chuyển đổi cơ chế và mở cửa kinh tế nói
chung của Việt Nam.
Trong khuôn khổ phạm vi nghiên cứu này, cải cách DNNN được hiểu là
biện pháp được thực hiện để giải quyết những đòi hỏi của tiến trình hội nhập
kinh tế quốc tế đặt ra, nhằm mục tiêu nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh,
năng lực cạnh tranh của các DNNN để giữ vững ví trí then chốt trong nền kinh
tế.
1.2.1.2. Nội dung của cải cách DNNN
Trong nền kinh tế thị trường Việt nam, sự tồn tại và phát triển của kinh tế
Nhà nước mà nòng cốt là DNNN là một tất yếu khách quan. Nghị quyết Trung
ương 3 khóa IX đã khẳng định: DNNN có vai trò quyết định trong ổn định và
phát triển kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước 8
Mục tiêu của cải cách DNNN là nhằm giúp các DNNN nâng cao hiệu quả
nhân quản lý một doanh nghiệp hiện có. Đó là phương thức nhượng quyền kiểm
soát DNNN mà không từ bỏ quyền sở hữu doanh nghiệp.
+Hình thức xây dựng khai thác và chuyển giao được xem như một
phương thức cho thầu đặc biệt. Phương thức này cho phép chính phủ tạo ra
những tài sản cố định mà không phải đi vay. Doanh nghiệp tư nhân thầu xây
dựng các tài sản cố định này và được quyền thu lãi trong một thời gian nhất
định.
14
+ Hình thức cổ phần hoá DNNN: Mục tiêu của cổ phần hoá DNNN là tạo
ra loại hình doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu, trong đó có đông đảo người lao
động, phát huy vai trò làm chủ thực sự của người lao động, của cổ đông và tăng
cường sự giám sát của xã hội đối với doanh nghiệp; bảo đảm hài hoà lợi ích nhà
nước, doanh nghiệp và người lao động. Với hình thức này nhà nước vẫn có thể
giữ lại quyền sở hữu với tư cách là cổ động.
Cải tiến tổ chức, nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN
Những DNNN được giữ lại đều phải thay đổi cơ cấu hoạt động nhằm mục
tiêu chủ yếu là làm cho doanh nghiệp đó đạt được các mục tiêu chính sách với
phí tổn ít nhất cho nhà nước, nâng cao hiệu quả hoạt động của từng doanh
nghiệp và toàn bộ khu vực DNNN. Hướng chung của việc cải cách này đó là
tăng cường tính công khai của các hoạt động doanh nghiệp, mọi hoạt động chi
tiêu liên quan đến tài chính nhà nước đều được thẩm định kỹ và kết quả của hoạt
động chi đều được đánh giá, xác định lại mọi quan hệ lợi ích và ổn định rõ ràng
những mục tiêu thương mại và những mục tiêu phi thương mại của từng doanh
nghiệp để có biện pháp phù hợp. Một số hướng cải cách đối với các DNNN như
sau:
+ Nâng cao tính tự chủ tài chính của các DNNN nhằm giảm gánh nặng
cho nhà nước. Để thực hiện phương hướng này, nhà nước cho phép DNNN toàn
Hội nhập kinh tế quốc tế chính là quá trình các doanh nghiệp của một
quốc gia tham gia một cách chủ động, tích cực vào nền kinh tế thế giới.
Hội nhập kinh tế quốc tế là một xu thế khách quan trong thế giới hiện nay.
Hội nhập kinh tế quốc tế có nghĩa là mở cửa nền kinh tế, thực hiện tự do hoá
thương mại đưa các doanh nghiệp nhà nước vào cuộc cạnh tranh quốc tế. Hội
nhập kinh tế quốc tế mang lại cho các DNNN rất nhiều cơ hội nhưng cũng
không ít thách thức. Để việc cải cách DNNN Việt nam có hiệu quả thì việc nắm
được các cơ hội và thách thức do quá trình hội nhập kinh tế quốc tế mang lại là
rất cần thiết.
Hội nhập kinh tế quốc tế đem lại cho các DNNN Việt nam nhiều cơ hội
trong phát triển. Đó là:
16
- Cơ hội mở cửa thị trường với dung lượng lớn và nhu cầu có khả năng
thanh toán cao. Khi đó các DNNN có điều kiện tiếp cận với các thị trường tiềm
năng lớn như Châu Âu, Bắc Mỹ, Nhât Bản,… và các khu vực thị trường rộng
lớn khác với hơn 5 tỷ người tiêu dùng. Cả trong lý thuyết lẫn thực tế, vai trò của
thị trường đã được khẳng định rõ nét trong việc điều tiết mọi đầu mối sản xuất
kinh doanh, kích thích tăng cường sức mua, làm đa dạng hoá và khác biệt hoá
nhu cầu, tạo ra sức hút cao đối với khả năng cung ứng của các DNNN. Hội nhập
kinh tế quốc tế mở rộng tự do thương mại có khả năng tạo ra những cơ hội thị
trường cho các DNNN.
- Hàng hoá dịch vụ của Việt nam được đối xử bình đẳng như các nước
khác trong quá trình hội nhập, do đó sẽ cải thiện được sức cạnh tranh của hàng
hóa cũng như của doanh nghiệp và quốc gia. Các hoạt động xuất nhập khẩu
được mở rộng, góp phần phát triển sản xuất trong nước, tạo việc làm, tăng thu
nhập quốc dân và nâng cao đời sống nhân dân. Khi đó các DNNN cần được cải
cách theo hướng đầu tư vào việc nâng cao chất lượng sản phẩm để từ đó nâng
còn nữa. Các DNNN phải cạnh tranh ngay tại thị trường trong nước. Đó là sự
cạnh tranh quyết liệt trên cả ba cấp độ do hàng rào bảo hộ bị dỡ bỏ, do phải thực
hiện chế độ đãi ngộ tối huệ quốc và đổi xử quốc gia, nên các sản phẩm nước ta
cạnh tranh bình đẳng với các sản phẩm nước khác không chỉ trên thị trường thế
giới mà ngay cả trên thị trường nội địa. Điều đó không chỉ đòi hỏi bản thân sản
phẩm phải có chất lượng cao, giá thành hạ (điều này chủ yếu do công nghệ sản
xuất, công nghệ quản lý của doanh nghiệp quyết định).
- Năng lực canh tranh của Việt nam nói chung còn ở thứ bậc thấp trên cả
ba cấp độ: quốc gia, doanh nghiệp và hàng hoá. Ngày 31/10 năm 2007, Diễn đàn
Kinh tế thế giới (WEF) lại công bố báo cáo thường niên về khả năng cạnh tranh
toàn cầu của các quốc gia trong đó vị trí xếp hạng của Việt nam là 68 trong danh
sách 131 quốc gia và vùng lãnh thổ. Xét về các tiêu chí cạnh tranh sản phẩm như
giá cả, chất lượng, tổ chức, tiêu thụ và uy tín của doanh nghiệp, sức cạnh tranh
của hàng Việt Nam cũng thấp hơn so với các nước trên thế giới và trong khu
vực. Nhiều mặt hàng được coi là có khả năng cạnh tranh như gạo, cà phê, dệt
may, giày dép đang có nguy cơ giảm sút về sức cạnh tranh. Trong số các mặt
hàng xuất khẩu chủ lực chưa có nhiều mặt hàng có hàm lượng công nghệ cao,
giá trị tăng lớn. Hơn nữa, phần lớn trong số đó hiện nay đang gặp phải những
18
khó khăn mang tính cơ cấu như hạn chế về năng suất, diện tích canh tác, khả
năng khai thác, đánh bắt. Việc phát triển các mặt hàng mới đang gặp phải những
khó khăn lớn về vốn, công nghệ và định hướng thị trường tiêu thụ.
- Hệ thống pháp luật, chính sách chế độ quản lý của Việt nam chưa thống
nhất và đồng bộ, vẫn còn nhiều bất cập về pháp lý và thể chế, về cấu trúc thị
trường và hành vi cạnh tranh. Quá trình hội nhập đòi hỏi phải có sự điều chỉnh
lớn về chính sách và pháp luật để phù hợp với các cam kết, thông lệ quốc tế đảm
bảo cho tự do cạnh tranh. Các DNNN Việt Nam đang tham gia tiến trình hội
trực tiếp cho sản xuất, tiêu dùng. Để mở cửa thị trường dịch vụ, mỗi nước phải
chấp nhận để các nước thành viên cung ứng dịch vụ cho pháp nhân và thể nhân
nước mình theo các phương thức: (i) Cung ứng qua biên giới: Theo đó, các
thương nhân kinh doanh dịch vụ đăng ký kinh doanh ở một nước thành viên có
quyền cung ứng dịch vụ cho các pháp nhân và thể nhân của các thành viên khác
mà không cần lập hiện diện thương mại tại các thành viên đó. Phương thức này
ngày càng phát triển với sự phát triển của công nghệ thông tin và internet. (ii)
Tiêu dùng ngoài lãnh thổ: Theo đó, mỗi nước thành viên phải để cho pháp nhân
và thể nhân nước mình được sử dụng dịch vụ do các thương nhân của các nước
thành viên khác cung ứng ở ngoài lãnh thổ nước mình. (iii) Hiện diện thương
mại: Mỗi nước thành viên phải để cho thương nhân cung ứng dịch vụ của các
nước thành viên khác lập các công ty, chi nhánh công ty tại nước mình để kinh
doanh dịch vụ. (iv) Hiện diện thể nhân: Đây vừa là phương thức hiện diện
thương mại, đồng thời là sự di chuyển thể nhân - về bản chất là để cho công dân
các nước thành viên vào hoạt động dịch vụ ở nước mình
Mở cửa thị trường đầu tư: Yêu cầu đặt ra là các nước phải mở cửa thị
trường của nước mình cho các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào nước mình mà
không hạn chế lĩnh vực đầu tư, trừ những lĩnh vực có liên quan an ninh quốc gia,
truyền thống văn hóa của dân tộc.
Khi mở cửa thị trường theo ba lĩnh vực nêu trên, mỗi thành viên của
WTO phải tuân thủ các nguyên tắc: (i) không phân biệt đối xử, gồm: Không
phân biệt đối xử giữa hàng hóa nước này với hàng hóa nước khác, giữa doanh
nghiệp nước này với các doanh nghiệp nước khác về các chính sách thuế, giá
hàng hóa - dịch vụ và các biện pháp tiếp cận thị trường (gọi là nguyên tắc đối xử
tối huệ quốc - MFN). Không phân biệt đối xử giữa hàng hóa nước mình với
20
hàng hóa nước khác, giữa doanh nghiệp nước mình với doanh nghiệp nước khác
21
chất lượng cao, giá thành hạ (điều này chủ yếu do công nghệ sản xuất, công
nghệ quản lý của doanh nghiệp quyết định). Để sản phẩm đến được với người
tiêu dùng, DNNN còn phải có khả năng tổ chức thị trường, làm tốt các dịch vụ
sau bán hàng, xây dựng thương hiệu. Bằng cách đó, DNNN đưa sản phẩm đến
người tiêu dùng và mở rộng kinh doanh. Và như vậy, cạnh tranh không chỉ ở cấp
độ sản phẩm mà là ở cấp độ doanh nghiệp. Khả năng cạnh tranh của một doanh
nghiệp phụ thuộc rất lớn vào chi phí "đầu vào" mà doanh nghiệp khác đặt ra cho
nó, phụ thuộc vào các cơ chế chính sách vĩ mô, vào các dịch vụ công mà Nhà
nước cung ứng. Tất cả những yếu tố này tạo nên chi phí giao dịch xã hội của
doanh nghiệp. Chi phí giao dịch xã hội càng lớn thì khả năng cạnh tranh của
doanh nghiệp càng nhỏ. Và vì vậy, sự cạnh tranh được đặt ra trên cấp độ lớn
hơn: Cạnh tranh tổng lực của nền kinh tế, sức cạnh tranh quốc gia. Như vậy là:
Hội nhập kinh tế quốc tế vừa có cơ hội, vừa có thách thức. Thách thức là sức ép
trực tiếp, còn cơ hội tự nó không chuyển thành lực lượng vật chất trên thị trường
mà phải thông qua hoạt động của chủ thể. Cơ hội và thách thức cũng luôn vận
động, biến đổi. Tận dụng được cơ hội sẽ đẩy lùi được thách thức và tạo ra cơ hội
mới lớn hơn. Ngược lại, không tận dụng được cơ hội thì thách thức sẽ lấn át làm
triệt tiêu cơ hội. Chính vì vậy mà vai trò "chủ thể" của DNNN là rất quyết định.
Cải cách DNNN cần hướng đến việc DNNN sẽ là người xung trận, là lực lượng
mở đường.
Như vậy, Hội nhập kinh tế đặt ra nhiều yêu cầu cho việc cải cách DNNN
Việt nam trong đó yêu cầu quan trọng nhất đó là cần nâng cao năng lực cạnh
tranh của các DNNN sao cho các DNNN thực sự là lực lượng “xung kích”, đóng
vai trò then chốt trong nền kinh tế đất nước.
1.3. KINH NGHIỆM CỦA TRUNG QUỐC VỀ CẢI CÁCH DNNN THEO
HƯỚNG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
1.3.1. Khái quát về cải cách DNNN ở Trung Quốc
đó dẫn đến hậu quả gia tăng lạm phát.
Một loạt các biện pháp tiếp theo vẫn theo phương châm “giao bớt quyền,
nhượng bớt lợi”, bằng việc thực hiện thí điểm chính sách khoán kinh doanh ở
một DNNN nhỏ và cho thuê DNNN ở quy mô nhỏ trong lĩnh vực thương mại và
dịch vụ. Tính đến đầu năm 1985, Trung Quốc đã cho tập thể và tư nhân thuê trên
11.000 DNNN nhỏ. Tiếp theo, cơ chế thuê mới theo định mức bắt đầu thực hiện
từ năm 1983, các DNNN phải nộp thuế lợi tức ở mức 55% lợi nhuận chịu thuế.
23
Mặc dù cơ chế này tốt hơn so với cơ chế cũ, song gánh nặng về thuế vẫn rất lớn
đối với các DNNN, thậm trí còn lớn hơn mức thuế đối với khu vực ngoài quốc
doanh, vì vậy không mang lại động lực cho các DNNN. Đến năm 1986, cả lợi
nhuận của DNNN và tổng thu ngân sách nhà nước đều bị giảm sút nghiêm trọng.
Trước tình hình đó, Trung Quốc đã tìm ra giải pháp áp dụng “Hệ thống trách
nhiệm của doanh nghiệp” hay “ Hệ thống hợp đồng doanh nghiệp”, mở đường
vào giai đoạn 2 của công cuộc cải cách.
Giai đoạn 2 (từ 1986 đến 1991). Giải quyết vấn đề liên quan đến sở hữu
nhà nước vẫn là việc nan giải nhất. Bởi lẽ, nó không chỉ gặp phải những khó
khăn có tính kỹ thuật của việc tính toán, sử dụng những tài sản lớn đã được tích
luỹ mà còn đụng chạm đến cơ cấu sở hữu, đến những hàng rào tư tưởng không
dễ vượt qua của quan niệm cũ về chủ nghĩa xã hội. Do vậy, mãi đến năm 1985,
nghĩa là sau khi có Nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản
Trung Quốc về cải cách thể chế kinh tế mới nhận được những kết quả đầu tiên
của sự vận động tích cực theo hưóng đi tới thị trường. Tại cuộc họp Hội nghị
chuyên đề về chế độ sở hữu với sự tham gia của các nhà khoa học và hoạt động
thực tiễn, mới đưa ra kết luận rằng không cải cách các quan hệ sở hữu thì sẽ
không có thành công trong việc cải cách hệ thống kinh tế của Trung Quốc. Trên
cơ sở đó, Đại hội lần thứ XIII Đảng Cộng sản Trung Quốc (tháng 10/1987),