Người kể chuyện trong tiểu thuyết tự lực văn đoàn luận văn ths văn học 60 22 32 - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
----------------------------------------------------NGUYỄN HẢI CHÂU

NGƯỜI KỂ CHUYỆN TRONG TIỂU THUYẾT
TỰ LỰC VĂN ĐOÀN

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Lý luận văn học

Hà Nội - 2011


mục lục
1. Lí do chọn đề tài.. 1
2. Lịch sử vấn đề... .. 2
3. Mục đích, đối t-ợng, phạm vi nghiên cứu.. . 8
4. Ph-ơng pháp nghiên cứu... .. 8
5. Cấu trúc của luận văn.. 9
Ch-ơng 1. Khái l-ợc về tiểu thuyết Tự lực văn đoàn và
Hình t-ợng ng-ời kể chuyện ............................................................... 10
1.1. Khái l-ợc về tiểu thuyết Tự lực văn đoàn .................................................... 10
1.1.1. Nhóm Tự lực văn đoàn ..................................................................... 10
1.1.2. Tiểu thuyết Tự lực văn đoàn ............................................................. 11
1.2. Hình t-ợng ng-ời kể chuyện ....................................................................... 14
Ch-ơng 2. ng-ời kể chuyện - hình tượng thái độ NổI BậT
trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn ................................................ 21
2.1. Thái độ khách quan của ng-ời kể chuyện .................................................. 21
2.1.1. Miêu tả xã hội................................................................................... 21
2.1.2. Miêu tả nội tâm con ng-ời................................................................ 24
2.1.3. Miêu tả thiên nhiên - cuộc sống ....................................................... 26

3.5.1.2. Không gian thành thị u ám................................................... 85
3.5.1.3. Không gian t-ởng t-ợng, h- cấu .......................................... 87
3.5.2. Kết cấu thời gian.............................................................................. 90
3.5.2.1. Thời gian quá khứ ................................................................ 90


3.5.2.2. Thời gian văn bản - thời gian cốt truyện............................... 93
3.5.2.3. Tần suất, xảy lặp .................................................................. 96
Kết luận ......................................................................................................... 101
TàI LIệU THAM KHảO ................................................................................. 105


M u
1. Lí do chọn đề tài
Những người muôn năm cũ/ Hồn ở đâu bây giờ. Đọc câu thơ cảm
khái của Vũ Đình Liên về ông đồ xưa, di tích của một thời tàn (Hoài Thanh)
dễ khiến ng-ời ta không thôi nhớ nhung về những lớp ng-ời cũ. Họ là lớp
ng-ời của một thời đại đã đi sâu vào tâm thức Việt, vào tâm hồn những ng-ời
con n-ớc Việt, và bây giờ, thế hệ chúng ta vẫn còn mang nặng ân tình của họ
với văn ch-ơng.
80 năm tr-ớc, Tự lực văn đoàn làm mưa làm gió trên văn đàn. Nhớ về
một thời vang bóng, có cảm giác nh- nhóm văn học Hà thành ấy đã trở
thành di tích sống của một thời nhập nhoè Âu - á, thời điểm mà con
ng-ời vẫn băn khoăn đi tìm lẽ sống, lẽ tồn tại trong văn ch-ơng. Dòng văn học
lãng mạn Việt Nam tr-ớc Cách mạng tháng Tám - 1945 không những mang
dáng dấp của các nhà thơ lớn, nh- Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Thế Lữ, Chế Lan
Viên... trong thời kỳ thịnh v-ợng nhất của thơ ca n-ớc nhà, mà còn nổi lên tên
tuổi của biết bao văn sỹ lãng mạn từng làm say mê nam thanh nữ tú một thời.
Ng-ời ta vẫn mải miết đi tìm văn ch-ơng Tự lực như là một cái mốt, một
thứ hành trang để bước vào thế kỷ mới với những nỗi buồn vui bất chợt cần

Ng-ời kể chuyện trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn chỉ đ-ợc phân tích ở
một số tác phẩm, hoặc trong tr-ờng hợp một tác giả, ch-a đ-ợc nghiên cứu kỹ
l-ỡng và mang tính hệ thống. Ng-ời kể chuyện với những sắc thái riêng trong
tiểu thuyết Tự lực văn đoàn sẽ là vấn đề mà chúng tôi tập trung làm rõ trong
luận văn này.

2. Lịch sử vấn đề
Tự lực văn đoàn là một hiện t-ợng văn học nổi bật trong những năm
1932 - 1945. Văn đoàn của những cây bút tài hoa một thời ấy hầu nh- đã
chiếm trọn bộ phận tác phẩm văn xuôi lãng mạn, bên cạnh mảng văn xuôi hiện
2


thực. Vì vậy, Tự lực văn đoàn đ-ợc đặt nghiên cứu chung trong hệ thống văn
học lãng mạn Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945.
Các công trình nghiên cứu về Tự lực văn đoàn chủ yếu đ-ợc phân chia
thành ba thời kì: tr-ớc 1945, từ 1945 đến 1986, và từ 1986 đến nay.
Trong thời kỳ thứ nhất, tr-ớc 1945, vào tháng 5/1939, với tác phẩm
D-ới mắt tôi, Tr-ơng Chính đã đánh giá cao các tiểu thuyết Đoạn tuyệt, Lạnh
lùng, Hồn b-ớm mơ tiên, Gánh hàng hoa, Đời m-a gió... Ông không tiếc lời
ngợi ca Đoạn tuyệt là một kiệt tác trong văn học Việt Nam hiện đại [12;18]
và Hồn b-ớm mơ tiên là quyển truyện thứ nhất có sức cám dỗ lạ lùng
[12;36].
Đến năm 1941, D-ơng Quảng Hàm cũng đã khái quát lên phong cách
của hai trụ cột trong Tự lực văn đoàn qua lời nhận xét về bốn tiểu thuyết tiêu
biểu Đoạn tuyệt, Lạnh lùng, Hồn b-ớm mơ tiên, Nửa chừng xuân. Tác giả
nhận thấy hầu hết các tác phẩm của ông (Nhất Linh) là những luận đề tiểu
thuyết [17;454] còn Khái H-ng có một cách tả ng-ời và tả cảnh xác thực mà
có một vẻ nhẹ nhàng, thanh tú khiến cho ng-ời đọc thấy cảm [41;455]. Năm
1942, Vũ Ngọc Phan nhận ra sự tiến hoá nhanh chóng trong tiểu thuyết Nhất

tác giả Bạch Năng Thi và Phan Cự Đệ cho rằng văn học lãng mạn, tiểu t- sản
của giai đoạn 1930 - 1945 chủ yếu là tiêu cực và có hại [26;11], nội dung
tiêu cực ấy lại diễn tả bằng một nghệ thuật ít nhiều có sự hấp dẫn nhất định đã
làm tăng thêm nồng độ cho những độc tố có sẵn ở nội dung [26;87]. Thế
nh-ng, hai nhà nghiên cứu vẫn không thể phủ định đ-ợc cái nhân văn t- sản
dù sao cũng tiến bộ hơn cái t- t-ởng phong kiến cổ hủ, hẹp hòi [26;97]. Để
rồi, trong cuốn Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, Phan Cự Đệ đã phải công nhận
về ph-ơng diện văn học sử, công lao chủ yếu của Nhất Linh và Khái H-ng là
đã có những đóng góp trong việc xây dựng một nền tiểu thuyết hiện đại
[21;87].
ở miền Nam thời kì 1954 - 1975, Tự lực văn đoàn, trái lại, đ-ợc đề cao
4


quá mức. Các nhà nghiên cứu không nhìn thấy mặt hạn chế về t- t-ởng, nghệ
thuật của một số tác giả, tác phẩm trong văn ch-ơng Tự lực. Theo Đào Văn A,
sáng tác của Tự lực văn đoàn đ-ợc dạy và học ở tất cả các bậc học từ bậc đệ
nhất (trung học cơ sở) đến đệ nhị (trung học phổ thông), đ-ợc đ-a vào sách
luận đề, trần thuyết, luyện văn, thuật viết văn làm tài liệu cho học
sinh. Sau khi Nhất Linh mất, trên các báo Sài Gòn, xuất hiện một loạt bài của
Đặng Tiến, Nguyễn Văn Trung, Doãn Quốc Sỹ, Vũ Hạnh, Nguyễn Mạnh
Côn... mang đầy tính chất hồi kí, cảm t-ởng. Hầu hết các nhà nghiên cứu miền
Nam giai đoạn này đều xem văn xuôi Tự lực văn đoàn rất đỗi mẫu mực, đồng
thời lấy làm nuối tiếc khi cây bút chủ chốt của nhóm ra đi, để lại khoảng trống
lớn trên văn đàn.
Ngoài ra, Tự lực văn đoàn còn đ-ợc nghiên cứu trong các cuốn sách về
văn học sử nh- Việt Nam văn học sử giản -ớc tân biên (1960) của Phạm Thế
Ngũ, Văn học Việt Nam thế kỉ XIX - tiền bán thế kỉ XX 1800 - 1945 (1973) của
Vũ Hân, L-ợc sử văn nghệ Việt Nam - nhà văn tiền chiến (1974) của Thế
Phong.

ngữ.
Phó giáo s- Tr-ơng Chính và Lê Thị Đức Hạnh cũng đã có một loạt bài
bàn về văn xuôi Tự lực văn đoàn trên tạp chí Văn học từ năm 1988 đến 1993,
nh- Vấn đề đánh giá Tự lực văn đoàn (số 3,4/1988), Nhìn lại vấn đề giải
phóng phụ nữ trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn (số 5/1990), Trần Tiêu có
phải là nhà văn Tự lực văn đoàn không? (số 5/1990), Thêm mấy ý kiến đánh
giá về Tự lực văn đoàn (số 3/1991), Tự lực văn đoàn và phong trào Thơ mới
(số 2/1993)...
Năm 1996, trong luận án Phó tiến sĩ khoa học Ngữ văn Những đóng góp
của Tự lực văn đoàn cho việc xây dựng một nền văn xuôi Việt Nam hiện đại,
Trịnh Hồ Khoa nhận xét: đóng góp về t- t-ởng của nhóm văn ch-ơng Hà
thành chính là việc giải phóng cái tôi cá nhân, tinh thần dân tộc thầm kín.
6


Những đóng góp tích cực về mặt nghệ thuật là lối xây dựng nhân vật và miêu
tả thiên nhiên, đổi mới trong cốt truyện, kết cấu, đổi mới trong ngôn ngữ và
giọng điệu văn xuôi. Theo Trịnh Hồ Khoa, Hồn b-ớm mơ tiên chỉ là khúc
dạo đầu của bản tr-ờng ca chiến đấu chống lễ giáo phong kiến. Phải đến Nửa
chừng xuân, Đoạn tuyệt, Lạnh lùng, xung đột giữa cái tôi cá nhân và lễ giáo
phong kiến mới diễn ra quyết liệt [76;53].
Năm 1997, Lê Thị Dục Tú nghiên cứu quan niệm về con ng-ời cá nhân
trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn.
Đến năm 2001, trong luận văn Thạc sĩ Những cách tân về nghệ thuật
của tiểu thuyết Tự lực văn đoàn trên con đ-ờng hiện đại hoá, Nguyễn Hiền
Trang nhận thấy Tự lực văn đoàn có công lớn trong việc hiện đại hoá cốt
truyện, kết cấu, xây dựng tâm lí nhân vật cũng nh- trong việc hiện đại hoá câu
văn xuôi, sáng tác ngôn ngữ và trong giọng điệu. Theo đó, tác giả cho rằng
giọng điệu chủ yếu của Nhất Linh là giọng tâm sự, còn Khái H-ng lại là giọng
trữ tình, nhẹ nhàng.

n-ớc ta.
Đề tài của chúng tôi lấy đối t-ợng nghiên cứu chính là các tiểu thuyết
tiêu biểu Hồn b-ớm mơ tiên (Khái H-ng), Đôi bạn (Nhất Linh), Con đ-ờng
sáng (Hoàng Đạo), Ngày mới (Thạch Lam), Con trâu (Trần Tiêu). Ngoài ra,
còn có một số tác phẩm chống lễ giáo phong kiến khác. Chúng tôi cho rằng
các tiểu thuyết trên có nghệ thuật kể chuyện hấp dẫn vào bậc nhất trong tiểu
thuyết Tự lực văn đoàn. Đồng thời, tính chất của ng-ời kể chuyện cũng khác
nhau ở mỗi tác giả, tác phẩm.
Phạm vi nghiên cứu cũng giới hạn trong việc nghiên cứu vấn đề ng-ời
kể chuyện. Từ hình t-ợng ng-ời kể chuyện cho đến các thủ pháp kể chuyện
đều đ-ợc khảo sát tỉ mỉ trong các tác phẩm của nhóm văn ch-ơng Hà thành.

4.

Ph-ơng

pháp nghiên cứu
8


Để nghiên cứu về một vấn đề văn học có qui mô, phải cần đến rất nhiều
ph-ơng pháp nghiên cứu khác nhau, mang tính chất tổng hợp. Nh-ng do chỉ
chọn nghiên cứu ng-ời kể chuyện trong một số tiểu thuyết tiêu biểu của Tự
lực văn đoàn, nên chúng tôi chủ yếu dựa vào các ph-ơng pháp: ph-ơng pháp
tiếp cận thi pháp học, ph-ơng pháp tiếp cận văn hoá học, ph-ơng pháp thống
kê.
Ph-ơng pháp tiếp cận thi pháp học giúp chúng tôi nghiên cứu các hình
thức kể của ng-ời kể chuyện trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn.
Ph-ơng pháp tiếp cận văn hoá học để thấy hình tượng thái độ mà
ng-ời kể chuyện đã tạo ra đối với con ng-ời, cuộc sống đ-ơng thời những năm

Lễ, Lê Ta), Xuân Diệu (Ngô Xuân Diệu), vị chi là bát tú. Ngoài ra, nhóm còn có
các cộng tác nh- Huy Cận, Thanh Tịnh, Đoàn Phú Tứ, hoạ sĩ Nguyễn Gia Trí, hoạ
sĩ Nguyễn Cát T-ờng... Tuần báo Phong hoá trở thành cơ quan ngôn luận chính
thức, về sau là Ngày nay (bắt đầu từ năm 1936).
Trên văn đàn, những năm 1930 - 1945, xuất hiện nhiều nhóm văn ch-ơng
nổi tiếng nh- Xuân thu nhã tập, nhóm Tao đàn, nhóm thơ Bình Định, tr-ờng thơ
Bạch Nga, nhóm thơ Dạ Đài... Mỗi tr-ờng phái đánh dấu một phong cách, một sự
cống hiến riêng, tạo nên các sắc màu phong phú, đa dạng cho nền văn học Việt
Nam. -u thế của Tự lực văn đoàn là ngay từ khi mới xuất hiện, đã lập tức nhận
đ-ợc sự ủng hộ nồng nhiệt từ phía độc giả. Văn đoàn là nơi cổ vũ cho phong trào
cách tân trong văn học, phong trào Âu hoá chống lễ giáo phong kiến, và là nơi đề
x-ớng các hoạt động cải l-ơng t- sản (hội ánh sáng).
Tôn chỉ của Tự lực văn đoàn đăng trên báo Phong hoá, số 101 (8 - 6 - 1934)
bao gồm 10 điều:
1. Tự sức mình làm ra những sách có giá trị về văn ch-ơng chứ không phiên
dịch sách n-ớc ngoài nếu những sách này chỉ có tính cách văn ch-ơng thôi : mục
10


đích là để làm giàu thêm văn sản trong n-ớc.
2. Soạn hay dịch những cuốn sách có t- t-ởng xã hội. Chú ý làm cho ng-ời
và cho xã hội ngày một hay hơn lên.
3. Theo chủ nghĩa bình dân, soạn những cuốn sách có tính cách bình dân và
cổ động cho ng-ời khác yêu chủ nghĩa bình dân.
4. Dùng một lối văn giản dị, dễ hiểu, ít chữ nho, một lối văn thật có tính cách
An Nam.
5. Lúc nào cũng mới mẻ, yêu đời, có chí phấn đấu và tin ở sự tiến bộ.
6. Ca tụng những nét hay vẻ đẹp của n-ớc nhà mà có tính cách bình dân,
khiến cho ng-ời khác đem lòng yêu n-ớc một cách bình dân. Không có tính cách
tr-ởng giả mà quí phái.

sáng tác của Tự lực văn đoàn thể hiện ở một số điểm lớn trong tôn chỉ nh-: dùng
một lối văn giản dị, dễ hiểu, ít chữ Nho, một lối văn thật có tính cách An
Nam (điều 4), ca tụng những nét hay, vẻ đẹp của n-ớc mà có tính cách bình dân,
khiến cho ng-ời khác đem lòng yêu n-ớc một cách bình dân, không có tính cách
tr-ởng giả, quí phái (điều 6), trọng tự do cá nhân (điều 7), làm cho ng-ời ta
biết rằng đạo Khổng không hợp thời nữa (điều 8), đem ph-ơng pháp khoa học
Thái Tây ứng dụng vào văn ch-ơng An Nam (điều 9). Nh- vậy, Tự lực văn đoàn
quan niệm văn ch-ơng là để tỏ lòng yêu n-ớc, yêu đồng bào một cách bình dân,
đồng thời kêu gọi cách tân, đổi mới theo lối ph-ơng Tây. Song họ có phần nghiêng
về phía nghệ thuật vị nghệ thuật, ít chú ý đến thế thái nhân sinh. Vì vậy, một
thời gian dài, giá trị của Tự lực văn đoàn không đ-ợc nhìn nhận một cách đúng
đắn.
Các tiểu thuyết chính của Tự lực văn đoàn đ-ợc phân chia thành năm giai
đoạn phát triển: tr-ớc năm 1930, giai đoạn 1932 - 1934, giai đoạn 1935 - 1939,
giai đoạn 1939 - 1945 và sau 1945.
Tr-ớc năm 1930, Tự lực văn đoàn ch-a đ-ợc thành lập chính thức. Nh-ng
Nhất Linh - ng-ời sáng lập văn đoàn đã đi tiên phong trên văn đàn bằng các tiểu
thuyết thử nghiệm: Nho phong (1926), Ng-ời quay tơ (1927). Hai tiểu thuyết trên
12


còn sử dụng lối văn truyền thống nhịp nhàng, êm tai với những công thức đã trở
nên sáo mòn. Cách kể của ng-ời kể chuyện còn tuân theo qui luật thời gian tuyến
tính, nhân vật không có sự đột biến trong tâm lí, tính cách, xa lạ với con ng-ời hiện
đại sau này trong tiểu thuyết Tự lực. Tuy nhiên, đây là những thử nghiệm đầu tiên
của Nhất Linh, nên nó mang ý nghĩa tìm đ-ờng. Về sau, lối văn biền ngẫu đã mất
hẳn.
Trong giai đoạn 1932 - 1934, các cây bút Tự lực chủ yếu sáng tác tiểu thuyết
lãng mạn: Hồn b-ớm mơ tiên (Khái H-ng, 1933), Gánh hàng hoa (Nhất Linh Khái H-ng, 1934), Nắng thu (Nhất Linh, 1934), Nửa chừng xuân (Khái H-ng,
1934). Những tiểu thuyết này không đ-ợc các nhà phê bình đánh giá cao vì sự ảo

thuyết Tự lực văn đoàn có sức hấp dẫn đầy mê hoặc.
Giai đoạn 1939 - 1945 là thời kì tiểu thuyết xuống dốc, mang màu sắc hiện
đại chủ nghĩa: B-ớm trắng (Nhất Linh, 1939 - 1940), Đẹp (Khái H-ng, 1939 1940), Thanh Đức (Khái H-ng, 1943), hoặc đề cao bè lũ phản cách mạng: Xiềng
xích (Khái H-ng, 1945). Tuy vậy, lối viết ở B-ớm trắng (Nhất Linh), Thanh Đức
(Khái H-ng) đ-ợc xem là già dặn, điêu luyện nhất trong toàn bộ các tiểu thuyết Tự
lực văn đoàn. Nếu có thể làm tan biến đi t- t-ởng bi quan, định mệnh, h- vô chủ
nghĩa trong các tiểu thuyết ấy, có thể gọi đó là những kiệt tác.
Sau năm 1945, chỉ có Nhất Linh còn sáng tác, với tiểu thuyết phản cách
mạng: bộ ba Dòng sông Thanh Thuỷ (1960 - 1961).
Nhìn chung, tiểu thuyết Việt Nam đến Tự lực văn đoàn đã thực sự định
hình, và đạt đ-ợc thành tựu. Nhóm Tự lực văn đoàn góp phần hiện đại hoá các thể
loại văn học, hiện đại hoá câu văn, kết cấu, cốt truyện, mang đến một lối kể dung
dị của ng-ời kể chuyện, đồng thời đi sâu vào khám phá tâm lí nhân vật, nhất là các
cảm giác một cách tinh tế.

1.2. Hình t-ợng ng-ời kể chuyện
Ng-ời kể chuyện là một trong những vấn đề cơ bản của trần thuật học.
14


Đầu thế kỷ XX, vấn đề ng-ời kể chuyện đã đ-ợc các nhà hình thức Nga (A.
Veksler, I. Gruzdev, V. Shklovski, B. Eikhenbaum) và nhóm các nhà nghiên cứu
Bắc Âu đặc biệt quan tâm đến. Tuy nhiên, phải tới công trình của những nhà
nghiên cứu thế hệ sau, những ng-ời đặt nền móng cho trần thuật học nh-: P.
Lubbock, N. Friedman, E. Leibfried, F. Stanzel. P. Vanden Heuvel... khi "ph-ơng
pháp hình thức" kết hợp với "mỹ học tiếp nhận mới đ-a ra đ-ợc quan điểm t-ơng
đối rõ ràng về ng-ời kể chuyện.
Theo Todorov, "ng-ời kể chuyện là yếu tố tích cực trong việc kiến tạo thế
giới t-ởng t-ợng không thể có trần thuật thiếu ng-ời kể chuyện [121;75]. ý
kiến của Todorov đã mở ra nội hàm khái niệm của ng-ời kể chuyện. Đó không chỉ

[131;189]. Những nhân vật xuất hiện trong thơ ca, tiểu thuyết, hay truyện ngắn
đều chỉ là những thực thể trên mặt giấy. Tác giả m-ợn vai trò của ng-ời trần
thuật để phản ánh cuộc sống với đầy đủ những cung bậc, màu vẻ, để thể hiện quan
niệm thẩm mỹ, nhân sinh. Giữa ng-ời kể chuyện và tác giả có thể có những điểm
t-ơng đồng, song không hoàn toàn trùng khít nhau.
Về ph-ơng thức thể hiện, nếu nh- ng-ời kể chuyện trong văn học dân gian
là ng-ời trực tiếp dùng hành động, lời nói trong diễn x-ớng, thì trong văn học viết,
lại thể hiện bằng ngôn từ trên văn bản, để đối thoại với những độc giả vô hình.
Ng-ời kể chuyện có nhiệm vụ chính là kể chuyện (trần thuật). Không có
một tác phẩm văn học nào nảy ra từ trong chân không, mà luôn luôn có một
ng-ời trần thuật giả định, đ-ợc nhà văn dựng lên để thay mình kể lại câu chuyện.
Câu chuyện ấy có thể tác giả ch-a từng trải qua, là cõi âm (trong các truyện chí
quái), hay miền tiên giới (Từ Thức gặp tiên, Truyền kỳ mạn lục), có khi là thế
giới tâm hồn vô cùng phong phú, phức tạp, nhiều ngóc ngách sâu kín của con
ng-ời (các tiểu thuyết tâm lý hiện đại). Ng-ời kể chuyện đóng vai trò truyền đạt
tới độc giả những ý nghĩa của cuộc sống, cũng nh- thông điệp thẩm mỹ của tác
giả và là một yếu tố quan trọng trong tổ chức tự sự của tác phẩm. Những câu
chuyện cổ tích ở Nga đều có người kể chuyện xưng tôi trong phần kết thúc, để
16


nói với độc giả: tôi cũng đã tham dự đám cưới, tôi uống r-ợu mật ong, r-ợu chảy
tràn qua râu. Các bạn có trông thấy tôi không?, nh- để chứng minh câu chuyện
vừa kể là hoàn toàn có thật và đáng tin cậy. Điều đó chứng tỏ vai trò quan trọng
của ng-ời kể chuyện đối với những gì đ-ợc kể trong tác phẩm.
Trong lối kể chuyện truyền thống, ng-ời kể chuyện có vai trò chỉ dẫn, định
h-ớng ng-ời đọc. Với các tác phẩm chỉ có hai tuyến nhân vật: thiện - ác, ng-ời kể
chuyện trình bày thái độ đối với nhân vật qua cách miêu tả chân dung, cử chỉ,
hành động Ng-ời tốt mà gặp nạn sẽ khiến ng-ời kể chuyện không khỏi xót xa,
rơi lệ: Đau đớn thay phận đàn bà/ Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung

Nh-ng ng-ời kể chuyện không đáng tin cậy sẽ không bình luận, đánh
giá, mà cố ý im lặng, không nói rõ chi tiết, thậm chí kể những việc không liên
quan đến sự việc chính, rồi sử dụng giọng điệu không phù hợp và tỏ ra hoàn
toàn không hiểu. Ng-ời kể chuyện trong các tác phẩm của F. Kafka luôn
khiến ng-ời đọc phải phát huy tính năng động để lý giải tác phẩm. Với Biến
dạng, một ngày, anh chàng nhân viên Gregor Samsa trở thành một con bọ
khổng lồ trong một thế giới đầy rẫy sự phi lý. Ng-ời đọc không thể hiểu đ-ợc
tại sao anh chàng lại biến thành một con vật gớm guốc đến thế, và rồi cuối
cùng rời khỏi cõi đời theo nhát chổi lạnh lùng của ng-ời quét rác. Ng-ời kể
chuyện không bình luận, đánh giá, cũng không giải thích lý do của sự biến đổi
đột ngột ấy, mà hoàn toàn để cho độc giả tự tìm kiếm lấy câu trả lời. Điều này
cũng t-ơng tự nh- các tác phẩm khác của Kafka: Lâu đài, Vụ án, Tr-ớc cửa
pháp luật.
Hình t-ợng ng-ời kể chuyện đ-ợc khắc hoạ qua hành động trong tiểu
thuyết, hay giãi bày tâm sự về chính mình, nh-ng xuất hiện chủ yếu vẫn là
qua thái độ đối với thế giới đ-ợc kể lại. Nói cách khác, ng-ời kể chuyện là
một "hình t-ợng thái độ" trong tác phẩm.
Với các hình thức kể chuyện, tr-ớc hết, hãy xét đển ngôi kể. Ng-ời kể
chuyện có thể lộ diện hoặc ẩn mình, t-ơng đ-ơng với ng-ời kể chuyện ngôi thứ
18


nhất, tham gia vào câu chuyện, hoặc ngôi thứ ba, bàng quan, đứng ngoài câu
chuyện. Tuy nhiên, nếu hoàn toàn ẩn mình, thông tin sẽ nảy ra từ chân không. Cho
nên, phân biệt ng-ời kể chuyện ẩn mình hay lộ diện chỉ mang ý nghĩa t-ơng đối.
Trong các tiểu thuyết đ-ơng đại, còn có ng-ời kể chuyện ngôi thứ hai, khi ng-ời
kể chuyện tự đặt mình vào vị trí độc giả. Nhà văn Nhật Bản Kawabata cũng đã sử
dụng ngôi kể thứ hai này trong tác phẩm của mình. Ông dùng chữ bạn để mời
độc giả cùng quan sát, rồi thay ng-ời đọc kể lại toàn bộ những gì thấy đ-ợc. Ngôi
kể thứ hai khiến cho lời trần thuật có phần khách quan và lấy đ-ợc thiện cảm từ

Giọng điệu thể hiện qua cách sử dụng từ ngữ, hình ảnh, cách x-ng
hô, qua nhịp kể nhanh, chậm, hoặc qua cách sử dụng các kiểu câu: câu đơn,
câu phức, sự kết hợp xen kẽ tạo nên nhịp kể chậm rãi, hay hối hả, nhanh
chóng
Ngoài ra, ng-ời kể chuyện cũng không thể tách rời kết cấu không gian
và kết cấu thời gian trong tác phẩm. Không gian là bối cảnh mà câu chuyện
diễn ra. Đó là không gian của cuộc sống hàng ngày đ-ợc tác giả miêu tả vào
trong tác phẩm, tái hiện qua lời của ng-ời kể chuyện. Không gian ấy vừa
mang tính khách quan, lại vừa mang tính chủ quan và hình bóng của ng-ời
nghệ sỹ (nh- không gian làng Vũ Đại trong văn Nam Cao, không gian ngục
thất tinh thần trong tác phẩm của Gorki). Không gian ấy làm nền cho hành
động của nhân vật, cũng là nơi nhân vật thể hiện tính cách đa dạng của mình.
Còn thời gian trong tiểu thuyết bao gồm các yếu tố: thời gian văn bản, thời
gian cốt truyện, sự sai trật niên biểu, tần suất góp phần tạo nên phong cách
riêng của ng-ời trần thuật.
Khảo sát ng-ời kể chuyện trong các tiểu thuyết Tự lực văn đoàn, chúng
tôi thấy tr-ớc hết, luôn là một hình tượng thái độ nổi bật.

20


Ch-ơng 2. ng-ời kể chuyện - hình t-ợng thái độ nổi bật
trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn
Mỗi tác phẩm văn học đều chứa đựng một cái nhìn của tác giả về cuộc
sống. Hình t-ợng ng-ời kể chuyện trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn chủ yếu
xuất hiện qua thái độ đối với thế giới đ-ợc kể lại. Nói cách khác, đó chính là
hình t-ợng thái độ trong tác phẩm.

2.1. Thái độ khách quan của ng-ời kể chuyện
Thái độ khách quan của ng-ời kể chuyện biểu hiện qua cách miêu tả xã hội,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status