Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần sữa việt nam luận văn ths quản trị kinh doanh 60 34 05 - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
--------o0o---------

VŨ THU HÀ

NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH
CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN SỮA VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
CHƢƠNG TRÌNH ĐỊNH HƢỚNG THỰC HÀNH

Hà Nội, 2014


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
--------o0o---------

VŨ THU HÀ

NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH
CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN SỮA VIỆT NAM
Chuyên ngành: Quản trị Kinh doanh
Mã số: 60 34 05

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
CHƢƠNG TRÌNH ĐỊNH HƢỚNG THỰC HÀNH


1.1.4. Phân loại cạnh tranh.....................................................................................14
1.2. Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh .........................................................17
1.2.1. Khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp .......................................17
1.2.2 Các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp ......................19
1.2.3. Các công cụ cạnh tranh của doanh nghiệp ..................................................24
1.2.4 Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.......................28
1.3. Các mô hình lý thuyết phân tích năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp ...31
1.3.1. Mô hình 5 lực lượng cạnh tranh của Michael Porter ...................................31
1.3.2. Mô hình ma trận SWOT ..............................................................................36
Chƣơng 2. THỰC TRẠNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY
CỔ PHẦN SỮA VIỆT NAM ..................................................................................38
2.1 Tổng quan về công ty Cổ phần Sữa Việt Nam ............................................38
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển ................................................................38
2.1.2 Cơ cấu bộ máy tổ chức .................................................................................42
2.1.3 Tình hình hoạt động kinh doanh của công ty Cổ phần Sữa Việt Nam .........44
2.2. Phân tích năng lực cạnh tranh của công ty Cổ phần Sữa Việt Nam trên
thị trƣờng Việt Nam ............................................................................................45
2.2.1 Phân tích năng lực cạnh tranh theo các yếu tố cấu thành .............................45
2.2.2 Phân tích các áp lực cạnh tranh của công ty theo mô hình của Michael Porter...52
2.2.3 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của công ty Cổ phần
Sữa Việt Nam ............................................................................................................59


2.3 Đánh giá năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam ..............64
2.3.1 Các thành công đã đạt được ..........................................................................64
2.3.2 Các mặt còn hạn chế .....................................................................................67
2.4 Phân tích ma trận SWOT của công ty Cổ phần Sữa Việt Nam .......................67
2.4.1 Điểm mạnh -S ...............................................................................................67
2.4.2 Điểm yếu -W.................................................................................................68
2.4.3 Cơ hội -O ......................................................................................................68


Nội dung
Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty Cổ phần Sữa

Trang

1

Bảng 2.1

2

Bảng 2.2

Cơ cấu lao động phân theo trình độ của Công ty

45

3

Bảng 2.3

Bảng cân đối kế toán của công ty

47

4

Bảng 2.4


Biểu đồ 2.1

Doanh thu của Vinamilk theo phân khúc sản phẩm

49

9

Biểu đồ 2.2

Thị phần sữa bột Việt Nam

64

Việt Nam

i

44


DANH MỤC CÁC HÌNH

STT

Hình

1

Hình 1.1

yếu tố quan trọng làm lành mạnh hoá các quan hệ xã hội khi Nhà nước bảo đảm sự
bình đẳng trước pháp luật.
Với mức độ cạnh tranh ngày càng gay gắt và quyết liệt trên cả thị trường
trong nước và quốc tế. Áp lực cạnh tranh mang đến cho các doanh nghiệp rất nhiều
khó khăn, thách thức. Tuy nhiên nếu như doanh nghiệp tìm ra cho mình được giải
pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh thì đây là cơ hội tốt để phát triển. Năng lực
cạnh tranh của các doanh nghiệp là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố và chịu sự tác
động của yếu tố bên ngoài doanh nghiệp như môi trường kinh doanh, các chính sách
kinh tế, kết cấu thị trường, hạ tầng... và yếu tố bên trong doanh nghiệp như cơ cấu
tổ chức, trình độ quản lý, trình độ công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực và cả yếu
tố văn hóa kinh doanh, văn hóa doanh nghiệp. Năng lực cạnh tranh không đơn
thuần chỉ là số cộng các năng lực đó mà nó là sự phù hợp của năng lực bên trong và
nhu cầu thị trường với điều kiện bên ngoài. Để tồn tại và phát triển được cách doanh
nghiệp cần tìm ra biện pháp để nâng cao năng lực canh tranh của mình.
Trong những năm gần đây cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế, kéo
theo mức thu nhập và chất lượng đời sống của người dân được cải thiện rõ rệt và ngày
càng nâng cao. Như chúng ta đã biết sữa và các loại thực phẩm từ sữa vô cùng dinh
dưỡng và cần thiết với mọi lứa tuổi để bổ sung. Tại Việt Nam, Công ty Cổ phần Sữa
Việt Nam -Vinamilk là công ty sản xuất sữa hàng đầu Việt Nam, được thành lập từ
năm 1976 với tiền thân là công ty Sữa - cafe miền nam. Vinamilk với phương châm
mang đến những sản phẩm chất lượng, bổ dưỡng và ngon miệng nhất cho sức khỏe
1


người tiêu dùng. Hiện các nhãn hàng đang dẫn đầu trên thị trường gồm: Sữa tươi
Vinamilk, sữa đặc, sản phẩm dinh dưỡng, nước ép trái cây.
Tuy nhiên trong thời kỳ hội nhập hiện nay có rất nhiều các thương hiệu sữa
cả trong và ngoài nước gia nhập nền kinh tế. Xuất hiện sự cạnh tranh của các công
ty trong ngành như Abbott, Nestle, Dutch Lady, True milk... Sữa ngoại nhập từ các
hãng như Med Johnson, Abbott, Nestle...chiếm khoảng 22% thị phần, với các sản

phẩm này cũng làm ảnh hưởng đến lòng tin người tiêu dùng, gây ra tâm lý hoang
mang, không tin tưởng và dè chừng vào các sản phẩm sữa.
Những yếu tố trên đã tạo ra một sức ép cạnh tranh lớn đối với công ty Cổ
phần Sữa Việt Nam. Dù trong quá trình hình thành và phát triển đến bây giờ
Vinamilk cũng có những giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh như đổi mới công
nghệ, đào tạo nhân viên chuyên nghiệp...nhưng chưa có một nghiên cứu nào chuyên
sâu về việc nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty trong khoảng thời gian sau khi
hội nhập . Vì vậy để giữ vững vị thế và thương hiệu trên thị trường việc ra phương
pháp nâng cao năng lực cạnh trạnh một cách phù hợp và hiệu quả là một vấn đề cấp
thiết đối với công ty Cổ phần Sữa Việt Nam.
Trong bối cảnh đó việc nghiên cứu luận văn “ Nâng cao năng lực cạnh tranh
của Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam” là thực sự cần thiết.
Luận văn nhằm đưa ra thực trạng phát triển của công ty và từ đó để tạo ra cơ
sở để đưa ra các giải pháp về nâng cao năng lực cạnh tranh. Các giải pháp được đưa
ra từ sự nhìn nhận của cá nhân tác giả trong quá trình tìm hiểu và nghiên cứu tại
công ty.
2.Tình hình nghiên cứu
Đứng trước tình hình cạnh tranh ngày càng khốc liệt , vấn đề trước hết là cần
phải đánh giá được năng lực canh tranh của công ty để có những bước đi phù hợp.
Công ty cần xác định được vị thế cạnh tranh trên thương trường. Để thấy rõ được
thực trạng năng lực cạnh tranh của công ty cần nắm rõ được những điểm mạnh,
điểm yếu trong quá trình cạnh tranh, sự tác động của các yếu tố trong và ngoài của
công ty. Cạnh tranh là một chủ đề không phải là mới. Nó được nhiều tổ chức nghiên
cứu cả về những vấn đề chung, bao quát cho một quốc gia, cho đến một khu vực,
một ngành, một doanh nghiệp cụ thể. Tuy nhiên việc nghiên cứu này mỗi thời khác
nhau lại có những đóng góp khác nhau và có ý nghĩa thực tiễn khác nhau. Một số
công trình nghiên cứu mà tác giả được biết:
Luận án tiến sĩ kinh tế: “Tăng cường năng lực cạnh tranh của tập đoàn Bưu

3

Bài viết “Các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh – cơ sở quan trọng để xây
dựng tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, của TS.Bùi Xuân

4


Phong đăng trên báo Thông tin khoa học kỹ thuật và kinh tế bưu điện số 3/2007.
Bài viết đưa ra cái nhìn tồng quan về các yếu tố cấu thành nên năng lực cạnh tranh
của các doanh nghiệp từ đó đưa ra các tiêu chí đánh giá.
Về mặt cơ sở lý luận có một số tài liệu tham khảo:
Cuốn sách “ Chiến lược cạnh tranh” Michael E. Porter (2009) đã mang tới
một khung phân tích chi tiết để hiểu những lực lượng ẩn giấu phía sau cạnh tranh
trong các ngành, thể hiện trong “năm yếu tố”; Cuốn sách “ Lợi thế cạnh tranh”,
Michael E. Porter (2008) chỉ ra những nguồn gốc cơ bản của lợi thế cạnh tranh và
tính bền vững của lợi thế đó và cách thức giúp các công ty tạo lập và duy trì lợi thế
cạnh tranh.
Sách tham khảo “Nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp thương mại
Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế” của TS. Nguyễn Vĩnh Thanh, NXB Lao
động - xã hội (2005), “Nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp trong tiến
trình hội nhập kinh tế quốc tế” của TS. Vũ Trọng Lâm, NXB Chính trị quốc gia
(2006), “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong điều kiện toàn cầu hóa” của
tác giả Trần Sửu, NXB Lao động (2006) là những công trình đã làm rõ một số lý
luận về sức cạnh tranh của doanh nghiệp, doanh nghiệp thương mại trong nền kinh
tế thị trường, trình bày kinh nghiệm trong nước và quốc tế về nâng cao sức cạnh
tranh của doanh nghiệp và đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của các doanh
nghiệp, doanh nghiệp thương mại Việt nam trong thời gian qua trên cơ sở đó đề
xuất giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh các doanh nghiệp Việt Nam.
Những tài liệu trên đã giúp tác giả có cơ sở lý luận để nghiên cứu về cạnh
tranh về năng lực cạnh tranh, một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp.

trình thu thập thông tin từ những nguồn đã có khác như sách báo, truyền hình, internet,
báo cáo nghiên cứu thương mại…Và để xác định tính chính xác của thông tin thì cần
tìm những thông tin tương tự ở những nguồn khác để so sánh. Phương pháp này có ưu
điểm là tiết kiệm chi phí và thời gian thu thập nhanh. Tuy nhiên, nó có điểm hạn chế là
dễ lạc hậu theo thời gian, không đáp ứng đúng nhu cầu, khó tiếp cận.
- Các nguồn dữ liệu thứ cấp cơ bản:
Nguồn nội bộ: Các báo cáo chức năng khác nhau trong công ty (báo cáo về
chi phí, báo cáo về doanh thu, hoạt động phân phối chức năng…)
Nguồn bên ngoài: Cơ quan thống kê và quản lý nhà nước; Các tổ chức hiệp
hội; Sách, tạp chí học thuật chuyên ngành; Luận văn, khóa luận, kết quả hội nghị;

6


các phương tiện truyền thông (internet, bách khoa mở…); các tổ chức thương mại
- Các phương pháp tìm kiếm dữ liệu thứ cấp
 Thư viện
 Các trung tâm tài liệu
 Các cơ sở dữ liệu: tập hợp những thông tin tóm tắt từ rất nhiều các tạp
chí chuyên ngành khác nhau, sử dụng các báo cáo tài chính, báo cáo
thường niên của công ty hay từ các nghiên cứu của các công ty chứng
khoán.
 Các danh bạ mạng: phân loại và sắp xếp các website theo các chủ đề lớn
nhỏ, chính phụ, giúp người dung mạng dễ tìm kiếm hơn.
 Phƣơng pháp xử lý dữ liệu
Các dữ liệu sau khi thu thập thì được tiến hành xử lý bằng các biện pháp
thống kê đơn giản, phương pháp tổng hợp, dùng excel để so sánh và tính toán các
chỉ số tài chính để làm cơ sở hoàn thành luận văn.
Phương pháp so sánh là phương pháp lâu đời nhất và được áp dụng rộng rãi
nhất. So sánh trong phân tích kinh tế là đối chiếu các chỉ tiêu, các hiện tượng kinh tế

đạo Công ty có thể cân nhắc tính khả thi của các giải pháp được đề xuất trong luận
văn này để áp dụng vào thực tế, nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục Tài liệu tham khảo, nội dung của
luận văn gồm 3 chương:
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp
Chƣơng 2: Thực trạng về năng lực cạnh tranh của công ty Cổ phần Sữa
Việt Nam
Chƣơng 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao năng lực cạnh
tranh của công ty Cổ phần Sữa Việt Nam

8


Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH
CỦA DOANH NGHIỆP
1.1. Cơ sở lý luận về cạnh tranh
1.1.1. Khái niệm cạnh tranh
Canh tranh nói chung, cạnh tranh trong kinh tế nói riêng là một khái niệm có
nhiều cách hiểu khác nhau. Khái niệm này được sử dụng cho cả phạm vi doanh
nghiệp, phạm vi nghành, phạm vi quốc gia hoặc phạm vi khu vực liên quốc gia
vv..điều này chỉ khác nhau ở chỗ mục tiêu được đặt ra ở chỗ quy mô doanh nghiệp
hay ở quốc gia mà thôi. Trong khi đối với một doanh nghiệp mục tiêu chủ yếu là
tồn tại và tìm kiếm lợi nhuận trên cơ sở cạnh tranh quốc gia hay quốc tế, thì đối với
một quốc gia mục tiêu là nâng cao mức sống và phúc lợi cho nhân dân vv..
Đề cập tới cạnh tranh trong điền kiện kinh tế tư bản chủ nghĩa K. Marx đã
đưa ra khái niệm như sau: "Cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các
nhà tư bản nhằm dành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu dùng

nhất định hoặc hẹp (một tổ chức, một địa phương, một nghành) hoặc rộng (một
nước, giữa các nứơc)
1.1.2. Nguồn gốc, bản chất và ý nghĩa của cạnh tranh
Các học thuyết về kinh tế thị trường hiện đại đều khẳng định: cạnh tranh là
động lực phát triển nội tại của nền kinh tế, cạnh tranh chỉ xuất hiện và tồn tại trong
điều kiện của kinh tế thị trường. Người tiêu dùng và các doanh nghiệp tác động qua
lại lẫn nhau trên thị trường để xác định ba vấn đề trọng tậm: Sản xuất cái gì? Như
thế nào? Cho ai?Do đó, người tiêu dùng giữ vị trí trung tâm tron nền kinh tế và là
đối tượng hướng tới của doanh nghiệp. Dưới sự tác động của quy luật cung cầu và
quy luật giá trị, các chủ thế kinh doanh cạnh tranh với nhau để cung ứng sản phẩm
cho người tiêu dùng, tuy nhiên sản xuất không vượt quá khả năng kinh doanh. Dưới
tác động của quy luật cung cầu và quy luật giá trị, các chủ thể kinh doanh cạnh
tranh với nhau để cung ứng sản phẩm cho người tiêu dùng, tuy nhiên sản xuất
không vượt quá khả năng kinh doanh. Dưới tác động của cạnh tranh, thị trường tự
thân nó giải quyết mâu thuẫn giữa sở thích của người tiêu dùng và năng lực sản xuất
hạn chế, do đó cạnh tranh là lực lượng điều tiết trong hệ thống thị trường. Các áp
lực liên tục của người tiêu dùng buộc các chủ thể kinh doanh phải phản ứng, phù
hợp với các mong muốn thay đổi của người tiêu dùng. Cạnh tranh thúc đẩy lực
lượng sản xuất xã hội phát triển, nâng cao năng suất lao động, đẩy nhanh quá trình

11


tích tụ và tập trung trong các điều kiện các yếu tố của sản xuất đều và luôn thiếu hụt.
Cạnh tranh thực sự là một cuộc ganh đua, khi các chủ thể kinh doanh có lợi ích cơ
bản là mâu thuẫn nhau. Do vậy cạnh tranh chỉ xuất hiện trong điều kiện của kinh tế
thị trường, nơi mà cung cầu là “cốt vật chất”, giá cả là “diện mạo”, cạnh tranh là
“linh hồn sống” của thị trường.
Cạnh tranh là một quy luật của kinh tế thị trường trong những điều kiện của
những tiền đề pháp lý cụ thể. Đó là tự do thương mại mà theo đó tự do kinh doanh,

Đối với nền kinh tế, cạnh tranh đảm nhận một số chức năng quan trọng. Tuy
nhiên, tầm quan trọng của những chức năng có thể thay đổi theo từng thời kỳ. Đó là:
Chức năng điều chỉnh cung cầu hàng hoá trên thị trường:
Khi hàng hóa trở nên khan hiếm trên thị trường nghĩa là cung hàng hóa đó
thấp hơn cầu, giá cả tăng lên tạo nên lợi nhuận cao hơn mức bình quân trên thị
trường, điều này sẽ dẫn tới giảm cầu. Còn khi cung một loại hàng hóa lớn hơn cầu,
thì những người bán sẽ cạnh tranh với nhau làm cho giá cả thị trường giảm xuống.
Vì vậy cạnh tranh sẽ điều chỉnh cung cầu quanh vị trí cân bằng của nó.
Chức năng điều tiết việc sử dụng các nhân tố sản xuất:
Các chủ thể kinh doanh luôn phải cân nhắc sử dụng nguồn lực về vật chất và
nhân lực vào hoạt động sản xuất kinh doanh như thế nào cho hợp lý và hiệu quả cao
nhất mà chi phí sản xuất thấp nhất để tối đa hóa lợi nhuận. Chính đặc điểm này mà
doanh nghiệp vận dụng các nguồn lực một cách hợp lý nhất để phát huy moi khả
năng của nó cho ra năng suất cao. T
Chức năng “xúc tác” tích cực làm cho sản xuất thích ứng với biến động của
cầu và công nghệ sản xuất:
Điểm mấu chốt của kinh tế thị trường là quyền lựa chọn của người tiêu dùng.
Người tiêu dùng có quyền lựa chọn những sản phẩm tốt nhất. Nếu một sản phẩm
không đáp ứng được yêu cầu thị trường, thì sự lựa chọn của người tiêu dùng và quy
luật cạnh tranh sẽ buộc nó phải tự định hướng lại và hoàn thiện. Do cạnh tranh, các
chủ thể kinh doanh chủ động đổi mới công nghệ, áp dụng những kỹ thuật tiên tiến
nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, chất lượng dịch vụ và phương thức kinh
doanh để thoả mãn yêu cầu thị trường, nâng cao vị thế của chủ thể cạnh tranh và
sản phẩm.
Chức năng phân phối và điều hoà thu nhập:

13


Tùy từng thời điểm nhất định, một sản phẩm nhất định sẽ chiếm được ưu thế



Cạnh tranh giữa những người bán với nhau:
Đây là cuộc cạnh tranh gay go và quyết liệt nhất, chiếm đa số trên thị trường.
Thực tế cho thấy khi sản xuất hàng hoá càng phát triển càng có nhiều người bán dẫn
đến cạnh tranh ngày càng quyết liệt trên nhiều phương diện và nhiều hình thức đa
dạng khác nhau. Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật một mặt tác động
đến các nhà sản xuất, một mặt làm thay đổi nhu cầu của người mua, do đó nó dần
làm biến đổi vị trí của các yếu tố cạnh tranh. Một cách chung nhất cạnh tranh là sự
ganh đua ở các giác độ : chât lượng, giá cả, nghệ thuật tổ chức tiêu thụ và thời gian.
Giá là yếu tố thứ nhất của cạnh tranh, đây là hình thức cạnh tranh được sử dụng
nhiều nhất. Khi nhu cầu con người phát triển cao hơn thì yếu tố chất lượng sản
phẩm chiếm vị trí chính yếu. Đến nay vào những năm cuối của thế kỷ 20 thì với các
doanh nghiệp lớn họ có với nhau sự cân bằng về giá cả thì yếu tố thời gian và tổ
chức tiêu thụ sản phẩm là quan trọng nhất
1.1.4.2 Căn cứ vào mức độ tính chất của cạnh tranh trên thị trường
Thị trường cạnh tranh hoàn hảo:
Cạnh tranh hoàn hảo xảy ra khi có một số lớn doanh nghiệp nhỏ sản xuất và
bán ra một loại hàng hoá, dịch vụ giống hệt nhau và với số lượng của từng doanh
nghiệp qúa nhỏ so với tổng số hàng hoá có trên thị trường. Thị trường có đặc điểm
là rất nhiều người sản xuất và bán hàng hoá giống hệt nhau, song không ai có ưu thế
trong việc cung ứng và mua sản phẩm để có thể làm thay đổi giá cả. Người bán có
thể bán toàn bộ hàng hoá của mình với giá thị trường. Như vậy họ phải chấp nhận
giá thị trường có sẵn và dù họ có tăng giảm lượng hàng hoá bán ra thì cũng không
có tác động gì đến giá cả thị trường. Không có trở lực gì quan trọng ảnh hưởng đến
việc gia nhập vào một thị trường hàng hoá, nói cách khác là không có sự cấm đoán
do luật lệ quy định hoặc do tính chất của sản phẩm đòi hỏi phải có trình độ kỹ thuật
cao, mức đầu tư quá lớn. Vì vậy, theo thị trường này mỗi doanh nghiệp chỉ là một
phần tử trong tổng thể vì vậy các quyết định của doanh nghiệp không ảnh hưởng
đến thị trường. Mặt khác việc định giá của doanh nghiệp không cách nào khác hơn

hay thấp để thu được lợi nhuận tối đa. Các nhà độc quyền cũng dùng hình thức cạnh
tranh phi giá như quảng cáo để thu hút thêm khách hàng. Nói chung độc quyền
trong sản xuất kinh doanh là lợi thế lớn nhất đối vơi nhà độc quyền, song về mặt xã
hội thì nó kìm hãm sự phát triển sản xuất, làm thiệt hại lợi ích người tiêu dùng..
16


Trong thị trường cạnh tranh độc quyền, các doanh nghiệp cạnh tranh với
nhau bằng việc bán sản phẩm phân biệt, các sản phẩm có thể thay thế cho nhau ở
mức độ cao nhưng không phải là thay thế hoàn hảo. Nghĩa là độ co dãn của cầu là
cao chứ không phải là vô cùng.Vì những lý do khác nhau (chất lượng, hình dáng,
danh tiếng...) người tiêu dùng coi mặt hàng của mỗi doanh nghiệp khác với của các
doanh nghiệp khác. Do đó một số khách hàng sẵn sàng trả giá cao hơn cho sản
phẩm mình thích, trong ngắn hạn khó ra nhập thị trường nhưng dài hạn thì có thể .
Nhà sản xuất định giá nhưng không thể tăng giá một cách bất hợp lý, về dài hạn thì
không thể trở thành thị trường độc quyền được. Cạnh tranh độc quyền sử dụng các
hình thức cạnh tranh phi giá như quảng cáo, phân biệt sản phẩm .
1.1.4.3 Căn cứ vào phạm vi ngành kinh tế.
Cạnh tranh giữa các ngành:
Là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong các ngành kinh tế khác nhau
nhằm thu được lợi nhuận và có tỷ suất lợi nhuận cao hơn so với vốn đầu tư bỏ ra
đầu tư vào ngành khác. Trong quá trình cạnh tranh này, các chủ thể luôn say mê với
những ngành đầu tư có lợi nhuận nên đã chuyển vốn kinh doanh từ những ngành ít
thu được lợi nhuận sang những ngành có lợi nhuận cao hơn. Sự điều chỉnh này sau
một thời gian nhất định sẽ hình thành sự phấn phối vốn hợp lý giữa các ngành sản
xuất. Kết quả cuối cùng là các chủ doanh nghiệp đầu tư ở các ngành khác nhau với
số vốn bằng nhau và chỉ thu được lợi nhuận như nhau. Tức là hình thành tỷ suất lợi
nhuận bình quân cho tất cả các ngành.
Cạnh tranh trong nội bộ ngành:
Là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cùng sản xuất và tiêu thụ một loại hàng

ngày càng mở rộng thì cần có một tiềm lực đủ mạnh để có thể cạnh tranh trên thị
trường. Đó chính là năng lực cạnh tranh của doanh nghệp.
Do vậy, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là tổng hợp năng lực nắm giữ
và nâng cao thị phần của chủ thể trong sản xuất kinh doanh hàng hoá, là trình độ
sản xuất ra sản phẩm đáp ứng được yêu cầu của thị trường. Năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp được hiểu là năng lực tồn tại và phát triển mà không cần sự hỗ trợ
của Nhà nước. Bên cạnh đó, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là năng lực
cung cấp sản phẩm của chính doanh nghiệp trên các thị trường khác nhau với chi
phí biến đổi trung bình thấp hơn giá của nó trên thị trường, thể hiện thực lực và lợi
thế của doanh nghiệp so với đối thủ trong việc sản xuất và cung ứng, vừa tối đa hoá
lợi ích của mình vừa thoả mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng cho thấy năng lực
18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status