Luận văn thạc sĩ kinh tế quản lý rủi ro trong kinh doanh của hệ thống ngân hàng thương mại việt nam đáp ứng yêu cầu hội - Pdf 33

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
__________

ĐỖ THỊ NGỌC

QUẢN LÝ RỦI RO TRONG KINH DOANH CỦA HỆ
THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM ĐÁP
ỨNG YÊU CẦU
HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

HÀ NỘI - 2007


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
__________

ĐỖ THỊ NGỌC

QUẢN LÝ RỦI RO TRONG KINH DOANH CỦA HỆ
THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM ĐÁP
ỨNG YÊU CẦU
HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
Chuyên ngành: KINH TẾ THẾ GIỚI VÀ QUAN HỆ KINH TẾ QUỐC TẾ
Mã số
: 60.31.07

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

Em xin cam đoan quyển luận văn với đề tài: "Quản lý rủi ro trong
kinh doanh của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam đáp ứng yêu
cầu hội nhập kinh tế quốc tế " này là công trình nghiên cứu của riêng em.
Kết quả nghiên cứu em có được trên cơ sở học hỏi, tiếp thu và tham khảo từ
sách, báo, tạp chí, mạng internet, từ luận văn của các anh chị khóa trước và
qua thực tế kinh nghiệm công tác.
Do thời gian nghiên cứu hạn chế, năng lực học viên có hạn nên bản
luận văn không tránh khỏi những thiếu sót và bất cập, kính mong các thầy cô
giáo, các bạn đọc góp ý để bản luận văn của em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!


DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng

Tên bảng

Trang

Bảng 1.1 Bảng cho điểm tín dụng tiêu dùng

22

Bảng 1.2 Quyết định tín dụng theo điểm số của khách hàng

23

Bảng 1.3 Bảng điểm tín dụng áp dụng cho các doanh nghiệp vừa



15

Sơ đồ 2.1

Mô hình kinh doanh và quản lý rủi ro được chuyên

37

môn hóa

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ
Biểu đồ
3.1
Biểu đồ
3.2

Tên biểu đồ

Trang

Quyền nhận tiền gửi bằng đồng Việt Nam từ các thể nhân 74
Việt Nam của một chi nhánh Ngân hàng nước ngoài
Tỷ trọng thanh toán bằng tiền mặt trong lưu thông

89


1

thương mại Việt Nam đã có khá nhiều các tác giả đề cập và nghiên cứu,
song hầu hết các tác giả đều nghiên cứu một cách khái quát, tổng thể, các
giải pháp đưa ra đều là các giải pháp chung chung, có thể áp dụng cho toàn
bộ các ngân hàng trên thế giới hoặc chỉ nghiên cứu tập trung vào một nội
dung chủ yếu trong kinh doanh ngân hàng. Chẳng hạn, giáo trình "Quản trị
rủi ro trong kinh doanh ngân hàng" của PGS, TS Nguyễn Văn Tiến; luận
văn mã số LV.01046, Thư viện Trường đại học Ngoại thương Hà Nội, với
đề tài "Quản trị rủi ro trong các ngân hàng thương mại Việt Nam".
Với những kiến thức đã học và bằng thực tế kinh nghiệm công tác,
qua đề tài lựa chọn ở trên, em muốn đưa ra các thực trạng của vấn đề quản
lý rủi ro trong kinh doanh ngân hàng cụ thể tại Việt Nam và hệ thống lại
các giải pháp để quản lý rủi ro một số nghiệp vụ chủ yếu trong kinh doanh
ngân hàng.
3. Mục tiêu nghiên cứu của luận văn
Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về quản lý rủi ro trong kinh
doanh của hệ thống Ngân hàng thương mại Việt Nam và đi sâu nghiên cứu
ưu, nhược điểm của các biện pháp Việt Nam đã và đang áp dụng để quản lý
các rủi ro trên.
Trên cơ sở thực tiễn và lý luận, đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy quản
lý rủi ro trong kinh doanh ngân hàng của các ngân hàng thương mại Việt Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là: Quản lý rủi ro trong kinh doanh của
hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc
tế.


3
Phạm vi nghiên cứu của luận văn: tập trung phân tích quản lý rủi ro
trong kinh doanh một số sản phẩm chủ yếu và các biện pháp quản lý chúng tại
các ngân hàng thương mại Việt Nam.

Hệ thống ngân hàng cung cấp một kênh dẫn vốn gián tiếp từ những người có
nhu cầu đầu tư đến các công ty. Ngân hàng nhận tiền gửi từ những cá nhân, tổ
chức có nhu cầu gửi tiền và kinh doanh trên lượng vốn huy động đó bằng các hình
thức như cho vay, đem gửi tại các tổ chức tín dụng khác để hưởng lợi nhuận từ
chênh lệch lãi suất,.. Với hệ thống công nghệ thông tin hiện đại, tính chuyên môn
hóa cao, ngân hàng tạo ra sự thu hút đặc biệt đối với những luồng tiền nhàn rỗi.
Ngân hàng thực hiện hai chức năng cơ bản đó là: chức năng luân chuyển
tài sản và chức năng cung cấp các dịch vụ thanh toán, môi giới và tư vấn…
Ngoài ra, ngân hàng đồng thời thực hiện việc chuyển tải chính sách tiền tệ từ
ngân hàng trung ương đến toàn bộ nền kinh tế. Như vậy, ngân hàng đã trở
thành một kênh đặc biệt, thông qua đó mà ảnh hưởng của các chính sách tiền
tệ lên toàn bộ nền kinh tế.
Lý do tiếp theo làm cho ngân hàng trở nên đặc biệt là vì các ngân hàng là
nguồn chính để tài trợ, cung cấp tín dụng cho một số lĩnh vực nhất định được
xác định là có nhu cầu đặc biệt về vốn. Vì vậy, ở hầu hết các quốc gia, những
nhà làm chính sách luôn xác định các lĩnh vực cần được trợ giúp về vốn, như
đối với người nghèo, hoặc một số ngành nghề thuộc các lĩnh vực khác nhau của
nền kinh tế. Ngân hàng còn đem lại lợi ích trực tiếp cho nền kinh tế thông qua
tính hiệu quả của các dịch vụ thanh toán. Ngày nay, cùng với sự phát triển của


5
dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt, vai trò của ngân hàng càng trở nên
quan trọng. Bất kỳ một sự trục trặc nào trong hệ thống thanh toán của ngân
hàng cũng đủ để gây ra sự bế tắc và thiệt hại cho nền kinh tế.
1.1.1.2. Khái niệm rủi ro trong kinh doanh ngân hàng
Danh từ “rủi ro” đã được nhiều nhà kinh tế học định nghĩa theo nhiều
cách khác nhau. Frank Knight, một học giả người Mỹ định nghĩa: "rủi ro là sự
bất trắc có thể đo lường được"[29]. Allan Willet cho "rủi ro là sự bất trắc cụ
thể liên quan đến một biến cố không mong đợi"[30]. Một học giả khác người

năm thứ hai thì ngân hàng có thể tái tài trợ tài sản nợ với mức lãi suất không
thay đổi là 9%. Như vậy, lợi nhuận thu được năm thứ hai cũng sẽ bằng năm
thứ nhất là 1%. Tuy nhiên, lãi suất thị trường có thể thay đổi từ năm thứ nhất
sang năm thứ hai nên ngân hàng luôn đứng trước rủi ro về thay đổi lãi suất.
Giả sử sang năm thứ hai ngân hàng chỉ có thể huy động vốn theo mức lãi suất
thị trường hiện hành là 11%, tức là năm thứ hai ngân hàng chịu lỗ -1%. Như
vậy, lợi nhuận của năm thứ nhất chỉ đủ bù đắp khoản lỗ của năm thứ hai.
Tóm lại, trong mọi trường hợp nếu ngân hàng duy trì tài sản có có kỳ hạn dài
hơn so với tài sản nợ thì ngân hàng luôn đứng trước rủi ro về lãi suất trong việc tái
tài trợ đối với tài sản nợ. Rủi ro sẽ trở thành hiện thực nếu lãi suất huy động vốn
bổ sung trong những năm tiếp theo tăng lên trên mức lãi suất đầu tư tín dụng dài
hạn.
Trong trường hợp ngược lại, ngân hàng huy động vốn có kỳ hạn dài và đầu
tư có kỳ hạn ngắn thì tương tự như trên ngân hàng vẫn có thể gặp phải rủi ro về lãi
suất tái đầu tư trong trường hợp tài sản có có kỳ hạn ngắn hơn so với tài sản nợ.
Ngoài rủi ro lãi suất tái tài trợ tài sản nợ hoặc tái đầu tư tài sản có, thì khi
lãi suất thị trường thay đổi ngân hàng còn có thể gặp phải rủi ro giảm giá trị
tài sản. Nếu lãi suất thị trường tăng lên thì mức chiết khấu giá trị tài sản cũng
tăng lên, và do đó giá trị hiện tại của tài sản có và tài sản nợ giảm xuống.


7
Ngược lại, nếu lãi suất thị trường giảm thì giá trị của tài sản có và tài sản nợ
sẽ tăng lên. Do đó, nếu kỳ hạn của tài sản có và tài sản nợ không cân xứng với
nhau, ví dụ tài sản có có kỳ hạn dài hơn tài sản nợ, thì khi lãi suất thị trường
tăng, giá trị của tài sản có sẽ giảm nhanh hơn nhiều hơn so với sự giảm giá trị
của tài sản nợ. Rủi ro giảm giá trị tài sản khi lãi suất thay đổi thuộc loại rủi ro
về lãi suất và có thể dẫn đến thiệt hại về tài sản của ngân hàng.
Như vậy, nếu ngân hàng duy trì cơ cấu tài sản có và tài sản nợ với những
kỳ hạn không cân xứng với nhau, thì phải chịu những rủi ro về lãi suất trong

bằng USD quy thành VND sẽ tăng nhanh hơn so với giá trị gốc và lãi thu được
từ đầu tư bằng USD. Như vậy, để có thể phòng ngừa rủi ro hối đoái, ngân hàng
phải làm cân xứng giữa tài sản có và tài sản nợ đối với mỗi loại ngoại tệ trong
bảng cân đối tài sản. Việc làm cân xứng giữa tài sản có và tài sản nợ đối với mỗi
loại ngoại tệ phải được thực hiện cho cả hai khía cạnh về số lượng và kỳ hạn thì
mới có thể phòng ngừa được rủi ro tỷ giá và rủi ro lãi suất ngoại tệ một cách triệt
để.
1.1.2.3. Rủi ro tín dụng
"Rủi ro tín dụng được hiểu là những tổn thất do khách hàng không trả
được nợ hoặc sự giảm sút chất lượng tín dụng của các khoản vay"[26]. Hay
rủi ro tín dụng còn được định nghĩa là nguy cơ mà người đi vay không thể chi
trả tiền lãi, hoặc hoàn trả vốn gốc so với thời gian đã ấn định trong hợp đồng
tín dụng. Đây là thuộc tính vốn có của hoạt động ngân hàng. "Rủi ro tín dụng
tức là việc chi trả bị trì hoãn, hoặc tồi tệ hơn là không hoàn trả được toàn bộ.
Điều này gây ra sự cố đối với dòng chu chuyển tiền tệ, và gây ảnh hưởng tới
khả năng thanh khoản của ngân hàng"[4].
Các khái niệm trên đây đều đưa ra một cách hiểu chung về rủi ro tín
dụng đó là những tổn thất do khách hàng không có khả năng thanh toán


9
khoản vay theo đúng các điều khoản trong hợp đồng tín dụng đã ký với ngân
hàng.
Khi ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng, ngân hàng nhận được Giấy
nhận nợ từ con nợ phát hành với cam kết là sẽ thanh toán đầy đủ cả gốc và lãi
đúng hạn theo như Hợp đồng tín dụng hai bên đã ký kết. Do đó, tại thời điểm
cấp tín dụng và chấp nhận Giấy nhận nợ nghĩa là ngân hàng đã thừa nhận khả
năng thanh toán đầy đủ và đúng hạn của khách hàng với một xác suất cao còn
xác suất mất khả năng thanh toán của khách hàng là thấp hơn nhiều.
Sự phân bổ lợi tức đối với rủi ro tín dụng đặt ra cho ngân hàng là phải

khoản tiền gửi ngân hàng đã được tạo ra, quá trình này được gọi là tạo tiền qua
tín dụng... Mọi người dân đều chịu tác động của ngân hàng , dù họ là khách
hàng gửi tiền, một người vay hay đơn giản là người đang làm việc cho một
doanh nghiệp có vay vốn và sử dụng các dịch vụ ngân hàng. Như vậy kinh
doanh tín dụng có vai trò vô cùng to lớn trong nền kinh tế, điều này cho thấy
nếu kinh doanh tín dụng gặp rủi ro thì sẽ có ảnh hưởng rất xấu đối với nền kinh
tế.
Đối với hoạt động của một ngân hàng:
+ Rủi ro tín dụng làm suy giảm uy tín của ngân hàng: Một ngân hàng
có rủi ro tín dụng lớn là một ngân hàng hoạt động tồi, tình hình đó bị báo
chí nêu làm cho dân chúng thiếu lòng tin và như vậy khó lòng có thể huy
động được nguồn vốn dồi dào. Các ngân hàng nước ngoài cũng vì thế mà
hạn chế thiết lập quan hệ, không cấp các hạn mức tín dụng, không mở
quan hệ đại lý...
+ Rủi ro tín dụng làm cho khả năng thanh toán của ngân hàng giảm
sút: Các khoản tín dụng có rủi ro khiến cho việc hoàn trả gặp khó khăn,
trong lúc đó các khoản tiền gửi, tiền tiết kiệm của dân cư vẫn phải thanh
toán đúng kỳ hạn. Trong lúc không huy động được nguồn vốn dồi dào do


11
mất uy tín, cũng vì thế người rút tiền lại càng tăng lên, kết quả là ngân
hàng gặp khó khăn trong khâu thanh toán.
+ Rủi ro tín dụng làm cho lợi nhuận suy giảm: Hoạt động tín dụng
tạo ra trên 50% tài sản có của một ngân hàng thương mại, đó là hoạt động
tạo ra lợi nhuận chủ yếu cho ngân hàng thương mại. Do vậy nếu có rủi ro
thì tài sản có của ngân hàng giảm sút và lợi nhuận của ngân hàng giảm
sút, ảnh hưởng đến quyền lợi của các cổ đông.
+ Rủi ro tín dụng có thể dẫn đến phá sản: Nếu những tác động của
rủi ro tín dụng trên 3 phương diện nêu trên không được khắc phục và cứ

để đáp ứng nhu cầu rút tiền của người gửi. Điều này khiến cho ngân hàng gặp
phải rủi ro thanh khoản nghiêm trọng và ngân hàng buộc phải bán thốc bán
tháo tức thời ngay cả số tài sản khó chuyển nhượng với giá rẻ mạt vì ngân
hàng không có đủ thời gian để tìm người mua cũng như điều kiện thương
lượng về giá cả. Do bán khẩn cấp một số tài sản với giá thấp khiến cho khả
năng thanh toán cuối cùng của ngân hàng bị đe dọa. Trong số tài sản có độ
thanh khoản thấp bao gồm các khoản tín dụng cấp cho các công ty nhỏ. Trong
trường hợp rủi ro thanh khoản ngày càng nghiêm trọng, nếu tất cả những người
gửi tiền đồng loạt yêu cầu ngân hàng chi trả toàn bộ tiền gửi của họ thì dẫn đến
ngân hàng chỉ đang từ chỗ phải đối phó với rủi ro thanh khoản đến chỗ phải đối
mặt với rủi ro phá sản. Như vậy, rủi ro thanh khoản ở mức độ nghiêm trọng là
một trong những nguyên nhân dẫn đến phá sản của các ngân hàng.
1.1.2.5. Rủi ro trong các phƣơng thức thanh toán quốc tế
Trong số các nghiệp vụ ngoại bảng, thì thanh toán quốc tế đối với các ngân
hàng thương mại Việt Nam là nghiệp vụ quan trọng nhất, có tốc độ tăng trưởng
mạnh, mang lại cho ngân hàng khoản thu phí ngày một tăng; thông qua nghiệp


13
vụ thanh toán quốc tế để chắp nối phát triển các nghiệp vụ khác như mua bán
ngoại tệ, bảo lãnh, tài trợ xuất nhập khẩu, mở rộng quan hệ tài khoản, tín dụng...
Do đó, nghiệp vụ thanh toán quốc tế có thể được xem là nghiệp vụ ngoại bảng
đặc trưng của các ngân hàng thương mại Việt Nam. Tuy nhiên, hoạt động thanh
toán quốc tế cũng tiềm ẩn khá nhiều rủi ro do quan niệm cho rằng hoạt động
ngoại bảng nói chung, thanh toán quốc tế nói riêng mang lại thu nhập hấp dẫn
nhưng ngân hàng không hề phải bỏ vốn, càng làm cho họ chủ quan lơ là, bất
chấp những rủi ro tiềm ẩn có thể xảy ra bất cứ lúc nào.
Các phương thức thanh toán quốc tế chủ yếu mà các tổ chức, doanh nghiệp
thường xuyên sử dụng với sự trợ giúp của ngân hàng là phương thức chuyển
tiền, phương thức nhờ thu và phương thức tín dụng chứng từ.

của khách hàng, tạo ra những thuận lợi để cạnh tranh với các ngân hàng khác,
các ngân hàng thương mại phải chấp nhận rủi ro, tuy nhiên chấp nhận ở mức
độ nào lại là một câu hỏi, điều này cần phải có quản lý rủi ro trong các hoạt
động kinh doanh ngân hàng.
Xu hướng của các ngân hàng hiện đại là chuyên môn hoá, là giao dịch một
cửa, tức là có người thì chuyên bán hàng, nhiệm vụ của họ là bán được càng
nhiều càng tốt, tức là cho vay càng nhiều càng tốt, như vậy họ có thể bỏ qua
những yếu tố, chi tiết cần thiết khi quyết định một khoản vay, dẫn đến rủi ro.
Một tâm lý thường thấy là giữa cán bộ ngân hàng và khách hàng thường có mối
quan hệ thân thiết do quá trình quan hệ lâu dài, mối quan hệ này là đương nhiên
vì có như vậy họ mới hiểu khách hàng và cung cấp các sản phẩm phù hợp, chính
sự thân thiết này đôi khi họ bỏ qua những chi tiết cho là không cần thiết nhưng
lại có thể gây ra rủi ro, ví dụ như thiếu một vài giấy tờ, thiếu một vài thông tin ...
Do vậy cần phải có bộ phận kiểm soát những người bán hàng này, đây là một
phần của quản lý rủi ro các sản phẩm trong kinh doanh ngân hàng nói chung.


15
Các sản phẩm kinh doanh của các ngân hàng thương mại Việt nam hiện
nay hầu hết đều chịu ảnh hưởng rất lớn bởi môi trường kinh doanh, chu kỳ,
ngành kinh tế .., do vậy cần phải có sự nghiên cứu đánh giá để hạn chế các rủi
ro có thể phát sinh.
Dù có các biện pháp hữu hiệu đến đâu để giảm thiểu rủi ro thì rủi ro vẫn
có thể xảy ra, do vậy cần phải có dự phòng đủ vốn cho những rủi ro này để
tránh sự sụp đổ của ngân hàng, đây cũng là một trong những nội dung quan
trọng của quản lý rủi ro trong các hoạt động kinh doanh ngân hàng.
Qua những lý do trên đây ta thấy quản lý rủi ro trong kinh doanh ngân
hàng là thực sự cần thiết đối với các ngân hàng thương mại hiện nay.
1.2.3. Nội dung quản lý rủi ro trong kinh doanh ngân hàng
1.2.3.1. Phân tích xác định rủi ro trong kinh doanh ngân hàng



16
Qua sơ đồ trên ta thấy rủi ro tín dụng bao gồm rủi ro danh mục (Portfolio
risk) và rủi ro giao dịch (Transaction risk).
Rủi ro danh mục được phân thành rủi ro nội tại (Intrinsic risk) và rủi ro
tập trung (Concentration risk). Rủi ro nội tại xuất phát từ các yếu tố mang tính
riêng biệt của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành kinh tế. Chẳng hạn, ngành xây
dựng vẫn được xem là ngành có rủi ro cao do đặc trưng kinh doanh là vốn
đọng nhiều ở các công trình, chi phí xây dựng cơ bản dở dang cao, thời gian
thu hồi vốn chậm. Do vậy, đối với các dự án xây dựng, ngân hàng thường
phải phân tích rất kỹ lưỡng về dòng tiền, thời gian hoàn vốn và tài sản đảm
bảo cho khoản vay trước khi quyết định cho vay. Rủi ro tập trung là mức dư
nợ cho vay được dồn cho một khách hàng, một số ngành kinh tế hoặc một số
loại cho vay hoặc một khu vực địa lý. Rủi ro này thường phát sinh đối với các
trường hợp cho vay tổng công ty bao gồm nhiều công ty con trực thuộc hay
cho vay tập trung quá nhiều vào một ngành kinh tế, chẳng hạn ngành kinh
doanh gỗ nhập khẩu. Bất kỳ một ảnh hưởng có chiều hướng xấu nào đến
ngành nghề kinh doanh làm suy giảm lợi nhuận của các doanh nghiệp đều có thể
ảnh hưởng đến tình hình thanh toán nợ của các doanh nghiệp cho ngân hàng.
Phản ứng mang tính dây chuyền này sẽ gây ra tình trạng nợ xấu, nợ khó đòi với
tỷ lệ cao cho ngân hàng do tập trung cho vay quá nhiều các doanh nghiệp kinh
doanh gỗ.
Rủi ro giao dịch có 3 thành phần: Rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi
ro nghiệp vụ. Rủi ro lựa chọn là rủi ro liên quan đến thẩm định và phân tích
tín dụng. Rủi ro này có nguyên nhân chủ yếu từ năng lực và trình độ nghiệp
vụ của cán bộ tín dụng. Cán bộ tín dụng sau khi nhận hồ sơ từ khách hàng sẽ
tiến hành thẩm định, đánh giá, phân tích về từ cách pháp nhân, năng lực pháp
lý, về ngành nghề kinh doanh, công tác và khả năng tài chính của khách hàng.


Như vậy, để quản lý tốt các rủi ro trong kinh doanh ngân hàng trước hết
người quản lý rủi ro phải phân tích và xác định được rủi ro có thể phát sinh trong
sản phẩm kinh doanh đó là gì, nguyên nhân gây ra những rủi ro và bản chất của
chúng. Từ đó, việc tìm ra những biện pháp khắc phục mới thực sự hữu hiệu.
1.2.3.2. Đánh giá và đo lƣờng rủi ro trong kinh doanh ngân hàng
Việc đánh giá các rủi ro trong kinh doanh ngân hàng dựa vào các mô
hình định tính và định lượng
- Mô hình định tính: Là phương pháp truyền thống, dựa vào đánh giá
chủ quan của cán bộ ngân hàng căn cứ vào việc trả lời một số câu hỏi để phân
loại khách hàng, cụ thể như sau:
*Khách hàng loại A.
Về chất lượng quản lý, là khách hàng có uy tín rộng khắp, đội ngũ cán
bộ quản lý có kinh nghiệm, chuyên nghiệp, hoạt động hiệu quả và thực sự có
năng lực.
Về tình hình tài chính, có chất lượng thông tin tài chính tốt, lành mạnh,
các tài khoản được kiểm toán tuyệt đối do các kiểm toán viên quốc tế đảm
nhiệm và thường xuyên có số dư tiền gửi lớn tại ngân hàng. Doanh thu của
công ty luôn ở mức cao và có tốc độ tăng trưởng liên tục. Tỷ lệ nợ trên vốn
chủ sở hữu thấp, các tài sản cố định có giá trị thực. Khả năng thanh toán nợ
tốt, xu hướng đạt doanh thu lớn, dòng tiền lưu chuyển lớn và có lãi gộp, có
đầy đủ các thông tin về các khoản có thể thua lỗ và không có thua lỗ và có sự
hỗ trợ rất lớn từ nhiều nguồn khác nhau.
Về môi trường kinh doanh, có môi trường kinh tế chính trị-xã hội cực kỳ
an toàn và ổn định. Tầm quan trọng của khách hàng có ảnh hưởng rất lớn đến
nền kinh tế quốc dân, có viễn cảnh kinh doanh khá thuận lợi. Hoạt động kinh
doanh của khách hàng chiếm thị phần khá lớn trong nội bộ ngành và có uy tín,


19
nhất là với quốc tế. Phạm vi hoạt động kinh doanh cực kỳ tốt, sản phẩm đa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status