Luận văn thạc sĩ kinh tế tác động của việc trung quốc gia nhập WTO đối với khả năng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài - Pdf 33

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
---------

DƯƠNG LAN HƯƠNG

TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC TRUNG QUỐC GIA NHẬP WTO
ĐỐI VỚI KHẢ NĂNG THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP
NƯỚC NGOÀI (FDI) CỦA CÁC NƯỚC ASEAN

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

Hà Nội – 2005s


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG
---------

Dƣơng Lan Hƣơng

TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC TRUNG QUỐC GIA NHẬP WTO
ĐỐI VỚI KHẢ NĂNG THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP
NƯỚC NGOÀI (FDI) CỦA CÁC NƯỚC ASEAN

Chuyên ngành: Kinh tế Thế giới và Quan hệ Kinh tế Quốc tế
Mã số:

60.31.07

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

Thứ nhất, do lợi thế so sánh và trình độ phát triển kinh tế của các nước
không giống nhau dẫn tới chi phí sản xuất ra sản phẩm khác nhau. Do đó đầu tư ra
nước ngoài nhằm khai thác lợi thế so sánh của các quốc gia khác, nhằm giảm thiểu
chi phí và tăng lợi nhuận. Mỗi nước trên thế giới đều có lợi thế khác nhau về tài
nguyên thiên nhiên, về nguồn nhân lực, về vị trí địa lý dẫn tới chi phí sản xuất và
lưu thông hàng hóa là khác nhau. Việc khai thác triệt để lợi thế của các quốc gia
khác nhau nhằm thu lợi nhuận luôn là điều các nhà đầu tư mong muốn.


2

Thứ hai, xu hướng giảm dần tỷ suất lợi nhuận (p’= m/c+v) ở các nuớc công
nghiệp phát triển cùng với hiện tượng dư thừa vốn “tương đối” đã tạo nên “lực
đẩy” đối với đầu tư quốc tế nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Thật vậy, trình
độ phát triển kinh tế cao ở các nước công nghiệp phát triển đã nâng cao mức sống
và khả năng tích luỹ vốn của các nước này dẫn đến hiện tượng “thừa” tương đối vốn
ở trong nước; đồng thời làm cho chi phí tiền lương cao, nguồn tài nguyên thiên
nhiên thu hẹp và chi phí khai thác tăng lên dẫn đến giá thành sản phẩm tăng, tỉ suất
lợi nhuận giảm dần, lợi thế cạnh tranh trên thị trường không còn. Điều đó tạo nên
lực đẩy các doanh nghiệp tìm kiếm cơ hội đầu tư ở nước ngoài để giảm chi phí sản
xuất, tìm kiếm thị trường mới, nguồn nguyên liệu mới nhằm thu lợi nhuận cao.
Theo Bộ thương mại Mỹ vào cuối thế kỷ 20, tỷ lệ lãi trung bình của các công ty Mỹ
hoạt động tại khu vực Châu Á- Thái Bình Dương là 23% gấp 2 lần tỷ lệ lãi trung
bình cùng kỳ ở 24 nước công nghiệp phát triển.
Thứ ba, sự phát triển mạnh mẽ của xu hướng toàn cầu hóa đã thúc đẩy quá
trình tự do hoá thương mại và đầu tư đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho MNCs
bành trường chiếm lĩnh và chi phối thị trường thế giới. Quá trình tự do hoá thương
mại và vận hành nền kinh tế theo cơ chế thị trường ngày càng đồng bộ và hoàn
thiện hơn. Các luồng hàng hoá dịch vụ ứ đọng ở nước này có thể lập tức chuyển đến
tiêu thụ ở nước khác, cho phép đẩy nhanh tốc độ khấu hao vì thị trường rộng mở,

các nước TBCN, mà trong đó chiếm tỉ trọng đáng kể là các dịch vụ tài chính – ngân
hàng và thị trường vốn, do toàn cầu hoá các công nghệ giao dịch và thương mại
quốc tế, và tư nhân hoá các hoạt động kinh doanh - đầu tư theo cơ chế thị trường
mở (kể cả mua, bán nợ), đồng thời do sư thừa nhận và gia tăng ráo riết các hoạt
động đầu cơ trên thị trường tài chính – tiền tệ...khiến các thị trường tài chính ngày
càng đóng vai trò quan trọng. Vì vậy nếu có sự đổ vỡ tài chính - tiền tệ thì sẽ kéo
theo sự suy giảm kinh tế thực sự thể hiện ở cầu thị trường trong nước và quốc tế trì
trệ, nhập khẩu giảm sút, xuất khẩu không tăng do sự suy giảm khả năng thanh toán
của các bên liên quan. Khi khủng hoảng kinh tế và những bất ổn về chính trị an ninh
quốc gia xảy ra, thì sự tháo chạy của vốn đầu tư là một tất yếu khách quan với động
thái cuối cùng là dòng vốn đầu tư sẽ được di chuyển tới những nơi an toàn hơn.
Có nhiều cách phân loại đầu tư quốc tế tùy theo các căn cứ vào chủ đầu tư, thời
hạn đầu tư, hay quan hệ giữa chủ đầu tư nước ngoài với người tiếp nhận vốn đầu tư.
Về cơ bản, đầu tư quốc tế được thực hiện chủ yếu dưới 3 hình thức: đầu tư trực tiếp,
đầu tư gián tiếp và tín dụng quốc tế [16, tr 32].


4

Đầu tƣ trực tiếp (FDI):
Là hình thức đầu tư quốc tế mà chủ đầu tư nước ngoài đóng góp một số vốn
đủ lớn vào lĩnh vực sản xuất, hoặc dịch vụ, cho phép họ trực tiếp tham gia điều
hành đối tượng mà họ tự bỏ vốn đầu tư.
Đặc điểm nổi bật của FDI là không gây nợ và ít lệ thuộc vào mối quan hệ chính trị
giữa các bên đầu tư và tiếp nhận đầu tư mặc dù FDI vẫn chịu sự chi phối của Chính
phủ nước nhận đầu tư khi có những quy định số vốn tối thiểu hoặc tối đa mà các
chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp.Ví dụ Luật đầu tư của Việt Nam quy định “số
vốn đóng góp tối thiểu của phía nước ngoài phải bằng 30% vốn pháp định của dự
án”… FDI được thể hiện dưới các hình thức: (i) đóng góp vốn để xây dựng doanh
nghiệp mới (ii) mua lại toàn bộ hoặc từng phần doanh nghiệp đang hoạt động (iii)

quyết việc làm và nâng cao mức sống người lao động.
Tuy nhiên, theo kinh nghiệm của các nước tiếp nhận FDI nước ngoài cho
thấy, bên cạnh những thế mạnh FDI cũng có những hạn chế nhất định. Trước hết,
do hoạt động FDI diễn ra theo cơ chế thị trường trong khi người đầu tư nước ngoài
có nhiều kinh nghiệm, sành sỏi trong việc ký kết hợp đồng, dẫn đến thua thiệt cho
nước tiếp nhận đầu tư. Mặt khác, trong FDI nếu phía chủ nhà không có một quy
hoạch thu hút FDI theo ngành cũng như theo vùng lãnh thổ cụ thể, có thể dẫn đến
hậu quả là tài nguyên thiên nhiên bị bóc lột, ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Vì
hiện nay do việc kiểm soát ảnh hưởng của dự án đầu tư tới môi trường tại hầu hết
các quốc gia phát triển, nên xu thế nhiều nhà đầu tư nước ngoài đã và đang chuyển
giao những công nghệ độc hại sang các nước đang và kém phát triển. Ngoài ra, chủ
đầu tư có thể gặp rủi ro mất vốn do đầu tư vào môi trường bất ổn định về kinh tế và
chính trị.
Đầu tƣ gián tiếp
Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư quốc tế trong đó chủ đầu tư nước ngoài
mua chứng khoán của công ty, các tổ chức phát hành của một nước khác với mức
khống chế nhất định nhằm thu lợi nhuận dưới hình thức cổ tức hoặc thu nhập
chứng khoán, nhưng không nắm quyền kiểm sóat trực tiếp tổ chức phát hành chứng
khoán.
Trong hình thức này, quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn tách rời nhau nên
khi có sự cố trong kinh doanh xảy ra với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì


6

các chủ đầu tư ít bị thiệt hại vì vốn đầu tư được phân tán trong số đông những người
mua cổ phiếu, trái phiếu. Mặt khác, bên tiếp nhận vốn đầu tư hoàn toàn chủ động
vốn kinh doanh theo ý đồ của mình một cách tập trung. Tuy nhiên, hình thức này có
nhược điểm lớn là hạn chế khả năng thu hút vốn kỹ thuật, công nghệ của chủ đầu tư
nước ngoài vì họ khống chế mức độ đóng góp vốn tối đa. Hơn nữa, do bên nước

dung viện trợ ODA bao gồm: viện trợ không hoàn lại: thường chiếm 57% tổng vốn
ODA; hợp tác kỹ thuật; viện trợ hoàn lại (cho vay không lãi suất, cho vay với lãi
suất ưu đãi: từ 0,5-5%/năm trả vốn sau 3-10 năm, hoàn vốn trong thời gian 10 - 50
năm) [16, tr.37].
1.1.2. Vai trò của FDI đối với các nhóm nước tiếp nhận đầu tư
FDI ngày càng đóng vai trò to lớn trong việc thúc đẩy quá trình phát triển
kinh tế - thương mại ở các nước đầu tư và các nước tiếp nhận đầu tư. Đối với các
nước xuất khẩu vốn đầu tư, lợi ích là rõ ràng vì mối quan tâm lớn nhất của chủ đầu
tư là lợi nhuận. Việc đầu tư trực tiếp nước ngoài cho phép họ có thể sử dụng hiệu
quả vốn đầu tư, mở rộng thị trường, giảm bớt chi phí bằng việc kéo dài vòng đời
của công nghệ, tìm được nguồn nguyên liệu ổn định hay sử dụng được nhân công
giá rẻ…Đầu tư vốn ra nước ngoài còn giúp các chủ đầu tư phân tán rủi ro khi tình
hình kinh tế chính trị trong nước bất ổn định, làn sóng đầu tư mạnh mẽ của các
doanh nghiệp Hồng Kông, Macao, Đài Loan sang các nước công nghiệp phát triển
nhằm đề phòng những thay đổi lớn trong hoạt động quản lý kinh doanh sau khi có
sự sáp nhập của các nước này vào Trung Quốc. Ngoài ra, đối với các nước chủ đầu
tư, đầu tư ra nước ngoài còn giúp thay đổi cơ cấu kinh tế trong nước theo hướng
hiệu quả hơn, thích nghi hơn với sự phân công lao động quốc tế mới. Đối với các
nước xuất khẩu nhiều vốn FDI, điều này còn thể hiện được sức mạnh kinh tế và vị
thế trên thế giới sẽ được củng cố và phát triển.
Ở đây, tác giả sẽ đi sâu vào việc phân tích tác động của FDI đối với các
nhóm nước tiếp nhận đầu tư gồm nhóm các nước công nghiệp phát triển và nhóm
các nước chậm, ĐPT vì hiện nay dòng chảy của tư bản quốc tế đều hướng vào hai
khu vực này. Đối với cả hai khu vực này, FDI đều có vai trò đặc biệt quan trọng.
Đối với các nƣớc công nghiệp phát triển
Các nước tư bản phát triển như Mỹ và Tây Âu, Nhật Bản đều nhận thấy được tầm
quan trọng của đầu tư nước ngoài. Các chuyên gia kinh tế của Mỹ khi nghiên cứu
hiện tượng Nhật ồ ạt đầu tư vào Mỹ (từ 1951-1991 với khối lượng là 148,9 tỷ USD
chiếm 42,4% tổng số vốn đầu tư của Nhật ra nước ngoài) đã đưa ra nhận định việc


thường chiếm ¼ tổng số vốn đầu tư. Trên toàn thế giới, tỷ trọng tổng FDI/ tổng vốn
đầu tư cố định luôn có xu hướng tăng: Năm 1991-1995 là 4,1%, năm 2000 là 20%
[16, tr.37]. Các nước này thường có năng suất lao động thấp, nên tổng GDP là thấp,


9

ít tích lũy được do vậy đầu tư nội bộ nền kinh tế thấp, FDI giúp bổ sung vốn trực
tiếp cho nền kinh tế
- Thay đổi cơ cấu kinh tế và góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế các nước cả về
lượng và về chất. Nhờ có FDI mà cơ cấu kinh tế của các nước đang và kém phát
triển chuyển dịch sang hướng tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ, do
FDI trên thế giới chủ yếu là vào các ngành dịch vụ, công nghiệp rồi mới tới công
nghiệp hóa nông nghiệp. FDI là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở các nước
ĐPT. Trung Quốc hiện nay đạt tốc độ tăng trường kinh tế là 10%, trong đó FDI
đóng góp 1/3 tốc độ tăng trưởng, nghĩa là cứ 1 tỷ FDI vào Trung Quốc thì trong
năm đầu tiên sẽ tạo ra được 9,5 tỷ USD trong GDP và trong 2 năm tiếp theo đóng
góp được 9 tỷ USD trong GDP [25].
- Góp phần mở rộng thị trường. FDI giúp các nước tiếp nhận đầu tư nâng cao năng
lực cạnh tranh trong kim ngạch xuất khẩu hàng hóa. Do các chủ đầu tư, luôn nỗ lực
mở rộng thị trường và các nước tiếp nhận đầu tư luôn khuyến khích các chính sách
sản xuất hướng ra xuất khẩu.
- Góp phần phát triển nguồn nhân lực, giải quyết nạn thất nghiệp. Theo thống kế
của Liên hợp quốc, số người thất nghiệp và bán thất nghiệp ở các nước chậm và
ĐPT khoảng 35-38% tổng số lao động, cho nên hàng vạn xí nghiệp có vốn FDI hoạt
động tại đây giúp các nước giải quyết một phần nạn thất nghiệp. Ví dụ như Trung
Quốc tính đến tháng 9/2002 chỉ riêng lĩnh vực đầu tư FDI nhà nước đã phê chuẩn
hơn 414.000 dự án với tổng số vốn đăng ký là 813,66 tỷ USD, trong đó vốn đầu tư
đã thực hiện là 434,78 tỷ USD, và giải quyết việc làm cho hàng triệu lao động
Trung Quốc. Còn ở Việt Nam, kể từ khi có luật đầu tư nước ngoài 12/1987 đến hết

thậm chí từ những năm 60 và khó rút ngắn khoảng cách về công nghệ với các nước
phát triển; khó khăn trong việc định giá công nghệ dẫn đến giá trị thực tế của công
nghệ thấp hơn nhiều so với giá công nghệ mang đi góp vốn gây thất thu các khoản
thuế cho nhà nước. Bên cạnh đó, là những vấn đề về ô nhiễm môi trường do trở
thành bãi rác thải công nghệ.
- Nguy cơ triệt tiêu các doanh nghiệp trong nước do doanh nghiệp trong nước tại
các nước đang và chậm phát triển trong một số các ngành công nghiệp mạnh có
năng lực cạnh tranh thấp như ở Việt Nam, các doanh nghiệp trong nước thuộc
ngành công nghiệp mỹ phẩm và chất tẩy rửa.
- Sự phát triển mất cân đối trong các ngành và lĩnh vực do các nước tiếp nhận đầu
tư ít giữ vai trò chủ động trong việc phân luồng FDI. Hiện nay, các nước chậm phát


11

triển chi thu hút được FDI vào các ngành công nghiệp nhẹ và công nghiệp chế biến,
các ngành dịch vụ mang tính chất đầu cơ… chứ không thu hút được vào các ngành
mũi nhọn như viễn thông, xây dựng cơ sở hạ tầng; các chủ đầu tư thường có xu
hướng chọn địa bàn là những nơi đã có cơ sở hạ tầng tốt và tương đối phát triển…vì
vậy dẫn đến gia tăng khoảng cách giàu nghèo trong xã hôi…
Các nguy cơ khác có thể kể đến như tài nguyên và các vấn đề xã hội. Tuy nhiên,
việc phân tích trên cho thấy những mặt tích cực do FDI mang lại cho các nước
chậm và ĐPT là rất cần thiết trong việc xây dựng và phát triển kinh tế ở khu vực
này, việc hạn chế những mặt tiêu cực cũng không phải là vấn đề khó khăn đối với
các nước tiếp nhận đầu tư miễn rằng họ luôn ý thức được.
1.1.3. Các xu hướng biến động của dòng chảy FDI hiện nay
Dòng FDI trên thế giới đã xuất hiện và được xác định vào những năm cuối
thế kỷ 19, trước hết là dưới hình thức thiết lập các nhà máy, xí nghiệp ở nước ngoài
gần nơi tiêu thụ với mục đích tránh cước phí vận chuyển hàng hoá. Sự xuất hiện và
gia tăng dòng FDI trên thế giới là một tất yếu kinh tế gắn liền với sự phát triển lực

giới năm 1994 là 196 tỷ USD tăng 11% so với năm 1993, trong đó Mỹ là nước đầu
tư trực tiếp lớn nhất, chiếm 58,4 tỷ so với 57,9 tỷ USD vào năm 1993. Nếu như
Nhật chủ yếu đầu tư trực tiếp ra nước ngoài thì Mỹ lại nhận FDI từ bên ngoài lớn
hơn dòng chảy ra: con số này năm 1994 là 60,1 tỷ USD so với 10 tỷ vào năm 1992.
Năm 1999, các nước công nghiệp phát triển chiếm 76,5% tổng số vốn FDI của thế
giới là 865 tỷ USD, trong khi đó các nước ĐPT chiếm ¾ dân số thế giới chỉ chiếm
23,5% tổng vốn FDI tương ứng 192 tỷ USD. Sang năm 2000, đã có 200 tỷ USD vốn
đầu tư vào các nước ĐPT, trong khi đó chỉ riêng Mỹ cũng đã thu hút được 200 tỷ
USD vốn FDI, tuy nhiên xu hướng này hiện đang có chiều hướng giảm, năm 2001,
chỉ còn tỷ FDI, năm 2002 còn 44 tỷ USD. EU cũng là trung tâm thu hút vốn đầu tư
FDI của thế giới, ước tính năm 1999 là khoảng 280 tỷ USD [16, tr.41].
Nguyên nhân khiến các nước công nghiệp phát triển trở thành nơi thu hút
nhiều vốn FDI là do: làn sóng hợp nhất, thôn tính các công ty chủ yếu diễn ra ở các
nước công nghiệp phát triển; cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đã làm cho các
ngành công nghiệp bán dẫn vi điện tử, sinh học...trở thành những ngành công
nghiệp mũi nhọn ở đây và đem lại lợi nhuận siêu ngạch, đây là điểm hấp dẫn các
dòng vốn FDI; các nước công nghiệp phát triển được xem là những thị trường có
khả năng tiêu thụ và thanh toán lớn; môi trường đầu tư với hệ thống chính trị ổn
định, hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, cơ sở hạ tầng hiện đại, trình độ nhân công


13

cao…; ngoài ra chính sách bảo hộ của các nước tư bản phát triển ngày càng tinh vi
buộc các nước khác phải xây dựng các “căn cứ” trong lòng các nước này để tránh
hàng rào bảo hộ mậu dịch tại các nước nhập khẩu.
Xu hướng này cho thấy hoàn thiện môi trường đầu tư theo hướng phát triển
và hoàn thiện những yếu tố nội lực như tạo lập nền chính trị ổn định, nâng cấp cơ sở
hạ tầng quốc gia, chú trọng đến nguồn nhân lực…luôn đóng vai trò quan trọng để
thu hút vốn FDI.

qua việc sáp nhập, mua lại để thành lập các “siêu” công ty độc quyền chi phối hoạt
động kinh doanh toàn cầu. Bước sang đầu thế kỷ 21, FDI trên thế giới có xu hướng
chuyển chủ yếu sang lĩnh vực dịch vụ, trung bình mỗi năm (2001-2002), FDI vào
lĩnh vực dịch vụ chiếm 2/3 tổng dòng FDI trên thế giới, trị giá khoảng 500 tỷ USD
[27, tr.15]. Dịch vụ ngày càng trở thành tất yếu đối với cuộc sống hiện đại, đồng
thời là ngành “công nghiệp không khói” cho lợi nhuận cao khiến đầu tư trực tiếp
nước ngoài ở dạng này tăng rất nhanh. Tóm lại, một chính sách thu hút vốn FDI
muốn có hiệu quả cần phải tính đến sự thay đổi trong lĩnh vực đầu tư.
Bốn là, MNCs trở thành chủ đầu tư thực sự và đóng vai trò quan trọng trong
hoạt động FDI
Sự xuất hiện của MNCs phổ biến vào những năm 50, 60 trở thành xu hướng
vận động mới của các tổ chức độc quyền và chủ nghĩa tư bản độc quyền Nhà nước.
Ngày nay không một lĩnh vực kinh tế - chính trị nào của thế giới tư bản mà vắng
mặt các công ty MNCS. Theo UNCTAD, , hiện nay có hơn 53.000 công ty xuyên
quốc gia với gần 500.000 cơ sở sản xuất ở khắp toàn cầu, chiếm gần 2/3 tổng giá trị
thương mại quốc tế; 4/5 nguồn vốn FDI và 90% kết quả nghiên cứu và chuyển giao
công nghệ thế giới [16, tr.45]. Do vậy, vấn đề đặt ra đối với các nước muốn thu hút
FDI là cần chú trọng các MNCs. Trong số các nước ASEAN, Singapore là nơi sớm
chú trọng thu hút FDI từ các công ty MNCs và ở đây có số lượng tới hơn 3000 công
ty MNCs trong đó có khoảng 700 công ty tham gia vào lĩnh vực công nghiệp chế
biến chế tạo, số còn lại hoạt động trong các lĩnh vực tài chính, ngân hàng, thông tin
và tư vấn quản lý [22]. Ngoài ra, một trong những kinh nghiệm của Trung Quốc rút
ra khi nghiên cứu đặc điểm này là phải xây dựng chiến lược vận động đầu tư có
trọng điểm, chào mời xúc tiến đầu tư theo địa chỉ, và ưu tiên hàng đầu thuyết phục
các siêu công ty vì vừa thu hút được những dự án lớn và còn kéo theo sự đầu tư của
các công ty có quy mô nhỏ hơn.


15


678,751

559,576

653,345

(570,379)

(138,823)

(119,175)

93,769

41.9

18

20.5

+17

3. Tốc độ giảm (%)

Nguồn: UNCTAD World Investment Report 2004

Sự giảm sút về đầu tư FDI diễn ra ở hầu hết các khu vực.Trong đó, ở 25
nước công nghiệp phát triển năm 2002 chỉ đạt 349 tỷ USD giảm 30% so với năm
2001, đặc biệt là Anh giảm 75% từ thu hút FDI, ở Mỹ giảm 2/3 từ mức thu hút là
124 tỷ USD, năm 2002 còn 44 tỷ USD. Ở các nước Châu Phi, giảm 64% từ mức

của các nước rất lớn để phục hồi và duy trì tốc độ phát triển kinh tế và dẫn tới sự
cạnh tranh lớn trong thu hút FDI, nước nào năng động hoàn thiện môi trường đầu tư
thì nơi đó sẽ thu hút được nhiều vốn đầu tư. Sự kiện Trung Quốc gia nhập WTO sẽ
có những tác động hai mặt tới các quốc gia khác trong khu vực Châu Á - Thái Bình
Dương trong bài toán thu hút vốn FDI.
1.1.4. Môi trường đầu tư và khả năng cạnh tranh thu hút FDI của các nước tiếp
nhận đầu tư
Môi trường đầu tư là tổng hòa các yếu tố về pháp luật, kinh tế, chính trị, xã
hội và các yếu tố: cơ sở hạ tầng, năng lực thị trường, cả các lợi thế của một quốc gia
có liên quan, có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động đầu tư của nhà
đầu tu trong và ngoài nước tại một quốc gia [16, tr.74]. Các yếu tố của môi trường
đầu tư bao gồm: Môi trường chính trị, xã hội; môi trường pháp lý; môi trường văn


17

hóa; môi trường kinh tế và tài nguyên; môi trường tài chính; môi trường cơ sở hạ
tầng; môi trường lao động.
Môi trường chính trị - xã hội:
-

Sự ổn định của chế độ chính trị, quan hệ các đảng phái đối lập và vai trò kinh
tế của họ, xem xét Đảng nào lãnh đạo đất nước và chính sách của Đảng đó
như thế nào, có đủ mạnh và có uy tín không.

-

Sự ủng hộ của quần chúng, của các đảng phái, tổ chức xã hội và của quốc tế
đối với Chính phủ cầm quyền.



Tính rõ ràng, công bằng, công khai và ổn định của hệ thống pháp luật, nếu
không phải dễ dự đoán

-

Khả năng thực thi của pháp luật và khả năng của pháp luật bảo vệ quyền lợi
các nhà đầu tư, những ưu đãi và hạn chế giành cho các nhà đầu tư nếu có, đòi
hỏi pháp luật phải thực thi nghiêm minh và không có sự phân biệt đối xử
giữa các nhà đầu tư với nhau (nước ngoài với trong nước)

-

Các thủ tục kèm theo: thủ tục hành chính, thủ tục hải quan…

Môi trường kinh tế và tài nguyên:
-

Các chính sách kinh tế có khuyến khích khu vực tư nhân phát triển hay
không, có khuyến khích mở rộng đầu tư hay không…


18

-

Năng lực kinh tế thông qua các chỉ tiêu kinh tế của nước đó: Các chỉ tiêu
đánh giá hiệu quả kinh tế-xã hội như tổng GDP, GDP tính trên đầu người,
GNP…, khả năng tiết kiệm trong nội bộ nền kinh tế quốc gia, các luồng vốn
huy động đầu tư cho phát triển; dung lượng thị trường và sức mua của thị

-

Các vấn đề khác phản ánh năng lực tài chính của nước tiếp nhận đầu tư như:
sự biến động của tỷ giá hối đoái và khả năng điều tiết của nhà nước; khả
năng tự do chuyển đổi của đồng tiền; hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân
hàng; sự họat động của các thị trường tài chính: thị trường chứng khoán,
leasing, bất động sản…;hệ thống thuế và lệ phí: các loại thuế, thuế suất và
tính ổn định; khả năng đầu tư từ Chính phủ cho phát triển, chính sách giá cả
hàng hóa

Môi trường cơ sở hạ tầng:
-

Hệ thống đường sá, cầu cống, sân bay, cảng của nước nhận đầu tư

-

Mức độ cung cấp và thỏa mãn các dịch vụ: hệ thống điện, nước, bưu chính
viễn thông…

-

Các chính sách đất đai của nước nhận đầu tư: Khả năng thuê đất và sở hữu
nhà (có cho chủ đầu tư nước ngoài sở hữu đất hay không…), chi phí thuê đất,
đền bù giải tỏa, thuê nhà, chi phí dịch vụ vận tải, điện nước, điện thoại, fax...


19

Môi trường lao động:

-

Đánh giá mức độ phụ thuộc của nước nhận đầu tư với nền kinh tế thế giới

-

Khả năng thiết lập quan hệ buôn bán với thế giới, mức độ được hưởng ưu đãi
MFN và GSP của các nước này, khả năng hợp tác kinh tế quốc tế: tham gia
các khối kinh tế khu vực, thế giới…, khả năng nhận được sự ủng hộ tài chính
thông qua các hiệp định song phương và đa phương để được vay vốn ODA
(từ Nhật, EU, IMF, WB, ADB…)
Tóm lại, môi trường đầu tư của một quốc gia là một khái niệm rất rộng bao

trùm ở tất cả các khía cạnh: chính trị, kinh tế-xã hội, lao động và tài nguyên, tài
chính, quan hệ quốc tế…Việc đánh giá năng lực cạnh tranh của một nước trước khả
năng thu hút vốn FDI dựa trên mức độ hấp dẫn cao của các yếu tố thuộc môi trường
đầu tư, cụ thể khi các yếu tố này thực sự có lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài.
1.2.

Sự kiện Trung Quốc gia nhập WTO trong xu hƣớng vận động FDI

1.2.1. Vị thế của Trung Quốc ở khu vực Đông Á trong lĩnh vực thương mại và
đầu tư quốc tế
Sự kết thúc của chiến tranh lạnh đã chứng kiến Trung Quốc, Đông Âu và
những nước theo chủ nghĩa cộng sản khác trước đây bắt đầu chuyển hướng sang
nền kinh tế thị trường, hợp nhất các thị trường Đông và Tây bị chia cắt trước đây. Ở


20




21

phát triển của Trung Quốc đang đóng góp đáng kể vào sự tăng trưởng của Đông Á,
đóng vai trò là động lực phát triển cho kinh tế khu vực.
Trung Quốc hiện đứng đầu thế giới về dân số, đứng thứ hai về tiềm lực quân
sự, đứng thứ 6 về GDP, và mới chỉ tương đương với trên 10% GDP của Mỹ. Nếu
tính trên cơ sở sức mua thực tế, thì GDP của Trung Quốc sẽ đứng thứ hai, sau Mỹ
và tương đương với 50% GDP của Mỹ. Một đặc điểm kinh tế nổi bật của Trung
Quốc là tăng trưởng với tốc độ liên tục cao nhất trên thế giới. Từ năm 1979 đến nay,
tốc độ tăng trưởng của Trung Quốc liên tục đạt từ 7-10% năm, bất chấp kinh tế Mỹ,
Nhật và Châu Âu rơi vào khủng hoảng, suy thoái, bất chấp cuộc khủng hoảng tài
chính năm 1997, và dịch bệnh SARS năm 2003 [10].
Chỉ hơn 1 năm sau khi gia nhập WTO, Trung Quốc đã bắt đầu trở thành cơ
sở chế biến công nghiệp cho nền kinh tế toàn cầu. Có thể nêu ra một vài minh
chứng [6, tr.14]:
- Trung Quốc sản xuất hơn ½ số giày dép tiêu thụ trên thị trường toàn thế giới
- Thị phần của Trung Quốc trong thị trường hàng dệt may thế giới hiện là
20% và dự kiến sẽ tăng lên 50% sau khi WTO bãi bỏ chế độ quota MFA
(Multilateral Fiber Agreement) trong năm 2005, với lý do giá thành rẻ nhất thế giới
- Trung Quốc là nước sản xuất và sử dụng máy điện thoại di động nhiều nhất
thế giới (200 triệu chiếc chiếm 16% thị phần toàn thế giới, năm 2003)
- Thị phần thế giới của Trung Quốc trong một số hàng điện tử khác: máy DVD
(51%), máy lạnh (37%), máy vi tính để bàn (29%), máy giặt (26%)...
Trung Quốc đạt được vai trò này là nhờ liên tục áp dụng trong ¼ thế kỷ chính
sách mở cửa và hội nhập với nền kinh tế thế giới, luôn cải cách để thu hút FDI.
Cũng dễ thấy là Trung Quốc đang thu hút một khối lượng khổng lồ FDI từ khắp thế
giới, xét giá trị FDI vào Trung Quốc, năm 1990 là 3,5 tỷ USD, năm 1997 là 44,2 tỷ
USD, đưa Trung Quốc lên vị trí thứ hai, chỉ sau Mỹ. Đến năm 1999, mức này giảm

Trung Quốc tăng nhập khẩu vào thị trường nội địa do yêu cầu mở cửa sẽ tăng khả
năng xuất khẩu của nhiều nước ASEAN, nhóm nước được hưởng lợi chủ yếu là
những nước phát triển hơn cơ cấu xuất khẩu tương đối giống với cơ cấu nhập khẩu
của Trung Quốc hoặc những nước nằm trong cách mạng sản xuất ngành toàn cầu
với Trung Quốc. Bên cạnh đó, Trung Quốc có nhu cầu nhập sản phẩm nhiệt đới và
tài nguyên của các nước ASEAN. Theo thống kê của ngành hải quan Trung Quốc,
nếu tính theo tổng kim ngạch xuất nhập khẩu song phương thì ASEAN là đối tác


23

mậu dịch lớn thứ 5 của Trung Quốc. Điều đó, chứng tỏ khả năng bổ trợ rất lớn của
cả 2 bên.
Sau đó là những thách thức về thu hút vốn đầu tư đặc biệt là vốn FDI [6,
tr.21]. Trung Quốc hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài vì lương thấp và thị trường
nội địa lớn với sức tăng trưởng rất nhanh. Năm 2002 Trung Quốc lần đầu tiên trong
lịch sử thế giới đã vượt Mỹ về thu hút FDI, trong khi FDI nói chung của thế giới
vẫn giảm. Việc cạnh tranh thu hút FDI ở Châu Á đặc biệt căng thẳng. Do đó sau khi
chính thức trở thành thành viên của WTO, mỗi năm Trung Quốc có thể thu hút
được 60 tỷ USD FDI. Dự đoán đến năm 2005, Trung Quốc có thể đạt con số FDI
tới 100 tỷ USD (trong khi suốt thập kỷ 90, tổng FDI vào Trung Quốc chưa đầy 250
tỷ USD). Các số liệu thống kê cho thấy, Trung Quốc đã thu hút được 510,8 tỷ USD
vốn đầu tư nước ngoài trong thời gian từ 1990-2001. Hiện nay đã có hơn 400 trong
số 500 công ty hàng đầu thế giới đã đầu tư vào Trung Quốc trong các lĩnh vực chế
tạo đến công nghệ cao [12]. Trong điều kiện dòng FDI là một con số hữu hạn, thì sự
hấp dẫn FDI vào Trung Quốc đồng nghĩa với sự giảm FDI vào các khu vực khác,
trong đó có nền kinh tế ASEAN.
Khu vực châu Á - Thái Bình Dương nói chung và nhất là Đông Á nói riêng
đã đạt được mức tăng trưởng kinh tế nhanh nhất thế giới trong 4 thập niên qua. Tốc
độ tăng trưởng kinh tế trung bình thời gian 1986 - 1995 của Trung Quốc là 9,9%,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status