LUẬN VĂN:
Thực hiện pháp luật về khuyến khích
đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam Thực trạng và giải pháp
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, việc thu hút đầu tư đang trở thành mối quan tâm hàng đầu của nhiều
nước nhằm hỗ trợ và phát huy lợi thế mỗi quốc gia trong công cuộc phát triển kinh tế đất
nước. Tính hấp dẫn của một quốc gia về lĩnh vực đầu tư trước hết thể hiện ở luật pháp.
Đối với mọi quốc gia, Luật Đầu tư là một bằng chứng cụ thể của sự mở cửa và là cái mà
tất cả nhà đầu tư quan tâm. Nhà nước với vai trò thiết kế và quản lý mọi mặt đời sống xã
hội đã sử dụng pháp luật – một công cụ rất hữu hiệu để thống nhất và định hướng hoạt
động đầu tư. Hoàn thiện pháp luật, tạo môi trường đầu tư có sức hút mạnh mẽ là mối
quan tâm của mọi quốc gia.
Tuy nhiên, pháp luật dù hoàn thiện như thế nào đi nữa mà không được thực hiện
có hiệu quả thì không thể đem lại những gì tốt đẹp mà chủ thể ban hành mong muốn,
không đem lại lợi ích cho xã hội, thậm chí là ngược lại. Thực hiện pháp luật là sự tiếp nối
xây dựng pháp luật, là quá trình hiện thực hoá pháp luật, làm bộc lộ và phát huy những
giá trị tiềm năng của pháp luật trong thực tế, là thực tiễn sinh động kiểm nghiệm chất
lượng xây dựng pháp luật. Vì vậy, bên cạnh việc hoàn thiện pháp luật, Nhà nước luôn
quan tâm đến vấn đề thực hiện pháp luật trong đó có thực hiện pháp luật khuyến khích
đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Thực tiễn những năm qua cho thấy, việc thực hiện pháp luật khuyến khích đầu tư
trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam đã đạt được những kết quả đáng kể. Các biện pháp
khuyến khích đầu tư về thuế đặc biệt là theo ngành và lĩnh vực đã bước đầu phát huy tốt
hiệu quả định hướng đầu tư. Các chính sách ưu đãi hướng về xuất khẩu nhìn chung đã
phát huy tác dụng tốt, góp phần quan trọng trong việc nâng tổng kim ngạch xuất khẩu,
các dự án sản xuất kinh doanh, kim ngạch xuất khẩu tăng nhanh chóng qua các thời kỳ.
ngoài”. 1, việc đánh giá thực trạng và đưa ra các giải pháp nhằm thực hiện một cách có
hiệu quả pháp luật khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt nam hiện nay là hết
1
. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị Quốc
gia, tr. 238.
sức cần thiết và mang tính thời sự. Đây là lý do thúc đẩy chúng tôi nghiên cứu đề tài:
Thực hiện pháp luật về khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam - Thực
trạng và giải pháp.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài:
Pháp luật và thực thi pháp luật về khuyến khích đầu tư là một vấn đề khá mới mẻ
đối với Việt Nam, chỉ với hơn 20 năm đi vào cuộc sống, còn đang ở trong giai đoạn thử
nghiệm để hoàn chỉnh dần. Kinh nghiệm lập pháp cũng như thực thi pháp luật trong lĩnh
vực này còn nhiều hạn chế nên đang được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Cho
đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề pháp luật và thực thi pháp
luật về khuyến khích đầu tư như :
Nghiên cứu thực nghiệm ưu đãi đầu tư về thuế thu nhập doanh nghiệp cho các
doanh nghiệp tư nhân hiện nay của Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh năm
2004. Kết quả chủ yếu của công trình này là những đánh giá về việc thực hiện các ưu đãi
đầu tư về thuế thu nhập doanh nghiệp trong các doanh nghiệp tư nhân. Dựa trên kết quả
nghiên cứu của công trình, chúng ta có được những luận cứ khoa học cho việc thực hiện
ưu đãi đầu tư về thuế thu nhập doanh nghiệp – một trong các nội dung của biện pháp đầu
tư về thuế. Như vậy, công trình này không những chưa đưa ra những đánh giá toàn diện
về việc thực hiện biện pháp ưu đãi đàu tư về thuế mà còn chưa nghiên cứu việc thực hiện
các biện pháp ưu đãi đầu tư khác.
Chuyên đề tổng kết các ưu đãi đầu tư vào khu công nghiệp, khu chế xuất, khu
công nghệ cao của Lê Tuyển Cử và Nguyễn Thị Thanh Hà năm 2004. Mặc dù, công
mới đánh giá ở một giai đoạn rất ngắn(6 tháng) và ở thời điểm mà Luật đầu tư mới vừa có
hiệu lực, bắt đầu đưa vào thực hiện – một giai đoạn có nhiều khó khăn khách quan, ảnh
hưởng không nhỏ tới thực hiện pháp luật khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Một năm thi hành Luật doanh nghiệp và Luật đầu tư: Mặt được, chưa được và
việc cần làm, Tạp chí Quản lý kinh tế, số 15/2007; Thực hiện Luật đầu tư và Luật
doanh nghiệp: Nhìn từ góc độ cải cách thể chế, Tạp chí Quản lý kinh tế, số 19/2008
của Thạc sỹ. Nguyễn Đình Cung. Tác giả đã đánh giá những mặt được, chưa được của
công tác thực hiện pháp luật đầu tư nói chung, từ đó đánh giá những bất cập nhìn từ góc
độ thể chế. Tuy nhiên, công trình này mới chỉ tập trung đánh giá những hạn chế nhìn từ
góc độ thể chế chưa đi vào các yếu tố bộ máy, trình đọ dân trí...Mặt khác, Công trình
cũng chỉ mới đánh giá việc thực hiện pháp luật trong một thời gian rất ngắn và chưa đi
sõu vo u t trc tip nc ngoi trong khi ú, thc hin phỏp lut khuyn khớch u t
trc tip nc ngoi cn phi c ỏnh giỏ mt cỏch sõu sc v ton din.
Lut u t nm 2005 - Mt s vn bt cp ca Thc s. on Trung Kiờn,
Tp chớ Lut hc s 5/2008. Cụng trỡnh ó ch ra nhng bt cp ca Lut u t nm
2005, mt trong nhng khú khn ca vic thc hin phỏp lut khuyn khớch u t trc
tip nc ngoi Vit Nam. Tuy nhiờn, hiu qu thc hin phỏp lut khụng ch ph thuc
vo thc trng phỏp lut m cũn ph thuc vo nhiu yu t khỏc.
Nh vy, cỏc cụng trỡnh nghiờn cu nờu trờn ó tip cn vn thc hin phỏp lut
khuyn khớch u t trc tip nc ngoi nhng phm vi v mc khỏc nhau, cho
n nay cha cú mt cụng trỡnh no i sõu vo nghiờn cu mt cỏch cú h thng, ng b,
gn vi vic kho sỏt thc tin, nht l sau khi cú Lut u t nm 2005.
3. Mc tiờu nghiờn cu ti:
Mc tiờu nghiờn cu:
ỏnh giỏ thc trng thc hin phỏp lut khuyn khớch u t trc tip nc ngoi
Vit Nam trong thi gian qua, t ú xut nhng gii phỏp nhm gii quyt nhng
vn bc xỳc m thc tin t ra, m bo thc hin mt cỏch cú hiu qu phỏp lut
khuyn khớch u t trc tip nc ngoi Vit Nam.
dựng và hoàn thiện pháp luật đầu tư.
- Sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho việc thực hiện pháp luật về đầu tư
trước mắt cũng như trong tương lai.
- Sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu, giảng dạy, học tập liên quan
tới xây dựng chính sách và pháp luật kinh tế.
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT KHUYẾN
KHÍCH
ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀ KINH NGHIỆM
THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI Ở MỘT SỐ NƯỚC
1.1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN
1.1.1.Khái niệm pháp luật khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Với những cách tiếp cận khác nhau, có nhiều định nghĩa khác nhau về đầu tư.
Tuy nhiên, định nghĩa về đầu tư được thừa nhận về mặt pháp lý ở Việt nam là định nghĩa
trong Điều 3 của Luật đầu tư năm 2005. Theo luật này, “Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn
bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động
đầu tư theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.”
Có nhiều cách phân loại đầu tư nhưng dựa vào tính chất đầu tư, người ta có thể
chia đầu tư thành đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp. Trong đó, đầu tư trực tiếp là hình
thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư. Với hình
thức đầu tư này, các nhà đầu tư thường kiểm soát hoạt động và chịu trách nhiệm về kết
quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có vốn đầu tư của mình. Đầu tư trực tiếp mang
theo sự đồng bộ về nguồn lực của đối tác kinh doanh( vốn, kỹ thuật, bí quyết kinh doanh,
khả năng cung ứng vốn và năng lực maketing) nên tạo ra nhiều nghành nghề mới và thúc
đẩy sự phát triển của tất cả các ngành trong nền kinh tế quốc dân.
sự bình đẳng trong quá trình đầu tư, các biện pháp khuyến khích đầu tư không thể tồn tại
dưới dạng các quan hệ xã hội bình thường mà cần phải có sự điều chỉnh của Pháp luật.
Dưới sự tác động của các quy phạm pháp luật, Nhà nước quản lý và hướng các hoạt động
đầu tư và ưu đãi đầu tư theo định hướng của mình. Do đó, pháp luật khuyến khích đầu tư
trong đó có đầu tư trực tiếp nước ngoài ra đời.
Pháp luật khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài là hệ thống những quy
phạm pháp luật, tạo những điều kiện thuận lợi nhất mà mỗi quốc gia có thể dành cho
nhà đầu tư nước ngoài nhằm thu hút vốn đầu tư và trên cơ sở đó tạo ra lợi thế so sánh
với các nước khác.
Chính phủ các nước đã sử dụng nhiều biện pháp khuyến khích đầu tư trong các
quy định pháp luật. Ở Việt Nam, để thúc đẩy đầu tư trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế và
hng u t vo mt s a bn, lnh vc u tiờn phỏt trin, cỏc bin phỏp khuyn khớch
u t trong ú cú u t trc tip nc ngoi c quy nh nhiu vn bn phỏp lý t
Hin phỏp n cỏc o lut v cỏc vn bn di lut, th hin tp trung nht l trong Lut
u t, Lut t ai, Lut xõy dng, cỏc Lut Thu v cỏc vn bn hng dn thi hnh.
Nhỡn chung cỏc bin phỏp khuyến khích u t c quy nh trong pháp luật
bao gm cỏc các biện pháp -u đãi đầu t- và cỏc biện pháp hỗ trợ đầu t-. Trong ú, cỏc
bin phỏp u ói u t gm u ói v thu v u ói khỏc v ti chớnh. Mc tiờu chớnh
ca cỏc u ói thu l nhm gim bt gỏnh nng v thu thc s v nõng cao t l thu hi
vn i vi u t m ỏng k l quy nh min mt phn hoc ton b Thu thu nhp
doanh nghip thụng thng. Cỏc u ói v thu khỏc l vic min thu nhp khu, hon
thu nhp khu, khu hao nhanh, cỏc khon khu tr c th, gim thu i vi u t v
tỏi u t v cỏc khon khu tr i vi úng gúp an ninh xó hi. Cỏc u ói khỏc v ti
chớnh bao gm vic cung cp vn cho cỏc cụng ty ti tr cho cỏc d ỏn u t mi
hoc thanh toỏn vn v cỏc chi phớ hot ng, chuyn l trong kinh doanh, khu hao ti
sn, u ói v s dng tH tr u t l nhng bin phỏp tớch cc ch ng v phớa
nh nc nhm giỳp cỏc nh u t, cỏc doanh nghip. Cỏc bin phỏp ny thng
c ỏp dng trong trng hp xy ra nhng khú khn, nhng bt li, nhng ri ro i
chế độ pháp chế, được thể hiện thông qua hoạt động của các cơ quan nhà nước, tổ chức
xã hội và công dân; trở thành phương thức quản lý xã hội, quản lý nhà nước,cơ sở cho sự
tự quản xã hội, cho tổ chức đời sống cộng đồng. Thực hiện pháp luật là một hiện tượng
mang tính lịch sử, thể hiện ra là một quá trình hết sức phức tạp nhằm thực hiện hóa các
giá trị của pháp luật. Và cũng vì thế, trước đây cũng như hiện nay trong khoa học pháp lý
khái niệm thực hiện pháp luật vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm, nhận thức và cách thức
giải thích khác nhau, đáng chú ý là các quan niệm sau:
- Có quan điểm cho rằng “ Thực hiện pháp luật là hành vi hành động hoặc không
hành động của con người phù hợp với những quy định của pháp luật. Nói khác đi, tất cả
những hoạt động nào của con người, của các tổ chức mà thực hiện phù hợp với quy định
của pháp luật thì đều được coi là biểu hiện của việc thực hiện thực tế các quy phạm pháp
luật”2
2
Trường Đại học Luật Hà Nội (2004),Giáo trình lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, Nxb Công an nhân dân,
Hà Nội
- Quan điểm thứ hai cho rằng “ Thực hiện pháp luật là hiện tượng, quá trình có
mục đích làm cho những quy định của pháp luật trở thành hoạt động thực tế của các chủ
thể pháp luật”3.
- Lại có quan điểm coi “ Thực hiện pháp luật là một quá trình hoạt động có mục
đích làm cho những quy định của pháp luật trở thành hiện thực trong cuộc sống, tạo ra
cơ sở pháp lý cho hoạt động thực tế của các chủ thể pháp luật”4.
Các quan niệm trên đều tương đối đồng nhất về nội dung, đó là: Khẳng định thực
hiện pháp luật là hoạt động có mục đích nhằm là cho các quy định của pháp luật trở thành
hiện thực trong cuộc sống. Sự khác nhau trong các quan niệm là không cơ bản, chỉ ở chỗ
coi thực hiện pháp luật là một quá trình hay là một hiện tượng xã hội, song đều hướng
đến mục đích chung là hành vi hợp pháp của đối tượng thực hiện pháp luật.
mục đích luật định, như sử dụng quyền hay làm nghĩa vụ pháp lý; có thể là cách xử sự thụ
động (không hành động), là kiềm chế không làm những điều mà pháp luật cấm.
Vì vậy, hành vi hợp pháp rất đa dạng, được thực hiện tùy thuộc vào ý chí mỗi cá
nhân, vào ý chí của nhà nước. Hành vi hợp pháp có thể được thực hiện trên cơ sở nhận
thức sâu sắc của chủ thể về sự cần thiết phải xử sự theo pháp luật, và do vậy nó là hành vi
tự giác, tích cực. Cũng có thể hành vi hợp pháp được thực hiện thụ động, do ảnh hưởng
của nhiều yếu tố khác nhau, trong khi chủ thể thực hiện pháp luật chưa hoặc không nhận
thức được đầy đủ tại sao phải làm như vậy. Cũng có thể có những hành vi hợp pháp được
thực hiện do kết quả của việc áp dụng những biện pháp cưỡng chế nhà nước hoặc do sợ bị
trừng phạt.
Những trường hợp trên đều cho thấy thực hiện pháp luật là quá trình hiện thực hóa
pháp luật; quá trình này diễn ra với nhiều hình thức khác nhau, tùy thuộc vào tính chất
các quy phạm pháp luật, vào yêu cầu của các chủ thể, và vào vị trí, vai trò của các chủ thể
đó trong xã hội, đối với Nhà nước. Căn cứ vào tính chất của hoạt động thực hiện pháp
luật, khoa học pháp lý xác định những hình thức thực hiện pháp luật sau:
Thứ nhất, hình thức tuân thủ pháp luật.
Tuân thủ pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật thụ động, trong đó các chủ thể
pháp luật kiềm chế không tiến hành những hoạt động mà pháp luật ngăn cấm. Xét về tính
chất, các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành được phân chia thành nhiều loại khác
nhau, trong đó có quy phạm mệnh lệnh buộc chủ thể phải thực hiện hoặc không thực hiện
một hành vi nào đó. Về hình thức, những quy phạm này có thể không mổ tả cụ thể hành
vi, nhưng quy định rõ các chế tài sẽ được áp dụng khi chủ thể vi phạm. Trong thực tế lập
pháp, các quy phạm mệnh lệnh được Nhà nước sử dụng phổ biến trong lĩnh vực hình sự,
hành chính, hoặc trong pháp luật về các lĩnh vực chuyên ngành.
Thứ hai, hình thức thi hành hay chấp hành pháp luật.
Thi hành hay chấp hành pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật trong đó các
chủ thể pháp luật thực hiện nghĩa vụ pháp lý của mình bằng hành động tích cực. Những
quy phạm pháp luật quy định nghĩa vụ của chủ thể phải thực hiện hành vi tích cực được
được thực hiện theo một quy trình, thủ tục chặt chẽ do pháp luật quy định; điều chỉnh cá
biệt, cụ thể đối với các quan hệ xã hội xác định; đòi hỏi tính sáng tạo.
1.1.3 Khái niệm thực hiện pháp luật khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Pháp luật chỉ phát huy hiệu lực, hiệu quả khi nó được thực hiện trong đời sống
thực tiễn. Vì vậy, có một hệ thống pháp luật về khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài
hoàn thiện cũng không có nghĩa là Nhà nước thực hiện được việc điều chỉnh các quan hệ
xã hội trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài, thu hút được các nguồn lực nước ngoài, thúc đẩy
mạnh mẽ sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Muốn phát huy vai trò đó của pháp
luật khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài đòi hỏi Nhà nước phải xác lập được cơ chế,
quy trình nhờ đó tác động lên ý thức, hành vi của chủ thể pháp luật quan hệ đầu tư nước
ngoài, làm cho các chủ thể này thực hiện đúng đắn, chính xác những yêu cầu, đòi hỏi mà
các quy phạm pháp luật đầu tư nước ngoài đề ra. Do vậy, có thể quan niệm thực hiện
pháp luật về khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài là quá trình hoạt động có mục
đích, theo một cơ chế và quy trình chặt chẽ nhờ đó các chủ thể đầu tư nước ngoài thực
hiện các hành vi phù hợp với yêu cầu của các quy phạm pháp luật khuyến khích đầu
tư trực tiếp nước ngoài, đảm bảo cho pháp luật khuyến khích đầu tư trực tiếp nước
ngoài trở thành hiện thực trong cuộc sống.
Thực hiện pháp luật khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài là thực hiện pháp
luật về một lĩnh vực cụ thể, do đó, ngoài những đặc điểm chung của thực hiện pháp luật,
việc thực hiện lĩnh vực pháp luật này còn có những đặc điểm riêng. Đó là những đặc điểm
quy định bởi những đặc điểm của hoạt động đầu tư nước ngoài. Có thể phân tích một số
đặc điểm riêng biệt đó của thực hiện pháp luật về khuyến khích đầu tư trực tiếp nước
ngoài như sau:
Một là, tính phức tạp và liên ngành trong thực hiện pháp luật về khuyến khích đầu
tư trực tiếp nước ngoài.
Các quy phạm pháp luật khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài rất rộng, được
quy định ở nhiều văn bản khác nhau, thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội,
với thứ bậc về hiệu lực pháp lý khác nhau. Mặc khác, lĩnh vực pháp luật này liên quan
đến nhiều loại chủ thể khác nhau trong xã hội, từ cơ quan hoạt động nhân danh quyền lực
tuyên bố phá sản, các quy phạm pháp luật là cơ sở pháp lý trực tiếp điều chỉnh các quan
hệ phát sinh trong quá trình giải quyết phá sản doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
chủ yếu lại thuộc Luật phá sản và các văn bản quy định cụ thể, hướng dẫn thực hiện Luật
này….
Đặc điểm về tính liên ngành trong thực hiện pháp luật về khuyến khích đầu tư trực
tiếp nước ngoài đặt ra các yêu cầu cần phải đáp ứng. Đó là: 1) Phải đảm bảo tính đồng bộ,
liên thông giữa các quy phạm pháp luật về khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài với
các quy phạm thuộc các lĩnh vực khác; 2) Đòi hỏi các cơ quan nhà nước thực thi pháp
luật, cả chủ thể đầu tư nước ngoài và các doanh nghiệp Việt Nam phải am hiểu pháp luật,
nhất là các lĩnh vực pháp luật trực tiếp liên quan, các điều ước quốc tế mà Việt Nam là
thành viên có liên quan
Hai là, thực hiện pháp luật về khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài trên cơ sở
nguyên tắc về tính ưu trội của các quy định trong các điều ước quốc tế và quy định về giải
quyết xung đột pháp luật.
Trong quá trình thực hiện chính sách mở cửa, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế,
Nhà nước Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia nhiều điều ước quốc tế có liên quan đến đầu
tư nước ngoài, ký kết các hiệp định song phương với nhiều nước để khuyến khích đầu tư
nước ngoài tại Việt Nam. Chính vì vậy, các quy định về đầu tư nước ngoài trong nhiều
điều ước quốc tế được coi là một bộ phận quan trọng của pháp luật về khuyến khích đầu
tư trực tiếp nước ngoài của một quốc gia. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, nếu
điều ước quốc tế có quy định khác với quy định của Luật trong nước thì áp dụng các quy
định của điều ước quốc tế. Như vậy, trong trường hợp này các cơ quan có thẩm quyền
phải kịp thời sửa đổi, bổ sung các quy định cho phù hợp với các quy định của điều ước
quốc tế, trường hợp có xung đột pháp luật trong việc điều chỉnh các quan hệ đầu tư nước
ngoài thì phải áp dụng các biện pháp giải quyết xung đột pháp luật đã được quy định
trong các điều ước quốc tế.
Ba là, việc thực hiện pháp luật về khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài liên
quan đến nhiều chủ thể khác nhau, trong đó có chủ thể là nhà đầu tư nước ngoài. Đó là
điều chỉnh chung của pháp luật. Trật tự pháp luật của xã hội là do chính các chủ thể trong
xã hội bằng hành vi hợp pháp của mình tạo lập ra và để đảm bảo cho sự phát triển của
chính mình.
- Yêu cầu khách quan bảo đảm thực hiện pháp luật trong nhà nước xã hội chủ
nghĩa còn do nhu cầu xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Yêu cầu khách quan
này phản ánh mối quan hệ hữu cơ giữa người thực hiện được pháp luật hay không trước
hết phụ thuộc vào chất lượng pháp luật; pháp luật phải là một hệ thống hoàn thiện, thể
hiện chính xác ý chí của nhân dân, với đầy đủ các thuộc tính của hệ thống hiện đại, mang
đậm bản sắc truyền thống văn hóa của dân tộc. Như vậy, yêu cầu này chỉ đạt được khi
công tác xây dựng pháp luật phải phản ánh chính xác những nhu cầu điều chỉnh pháp luật
của xã hội, của nhà nước mà những nhu cầu này chỉ có thể phát hiện ra qua thực tiễn thực
hiện pháp luật. Thực tiễn thực hiện pháp luật cũng là tiêu chuẩn kiểm nghiệm chất lượng
pháp luật, chất lượng xây dựng pháp luật. Trên cơ sở thực trạng mà phát hiện ra những
mâu thuẫn, chồng chéo, những điểm không còn phù hợp trong chính sách và pháp luật, từ
đó sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tế khách quan. Đồng thời, cũng trên cơ sở đánh
giá đúng thực trạng thực hiện pháp luật mà phát hiện ra những nhu cầu điều chỉnh mới
của pháp luật để kịp thời xây dựng và ban hành pháp luật. Nếu không có những khảo sát,
đánh giá từ thực tiễn cuộc sống thì không thể có cơ sở khoa học và thực tiễn xác đáng để
xây dựng và thực hiện pháp luật, không phát huy được vai trò của nó trong cuộc sống.
* Từ những yêu cầu chung mang tính khái quát trên, đối chiếu với bối cảnh lịch sử
của giai đoạn hiện nay của cách mạng Việt Nam, và từ vị trí, vai trò của pháp luật về
khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài, từ những điều kiện kinh tế - xã hội, chính trị,
văn hóa hết sức đặc thù của Việt Nam, có thể phân tích một số yêu cầu khách quan của
việc bảo đảm thực hiện pháp luật về khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt
Nam như sau:
Một là, thực hiện pháp luật khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài nhằm đảm
bảo hiệu lực và hiệu quả trong quản lý nhà nước về đầu tư.
Hoạt động quản lý nhà nước nói chung, quản lý đầu tư nói riêng là chức năng quan
không chỉ làm cho thị trường đầu tư của các nước nói chung và Việt Nam nói riêng có
một sự cạnh tranh sôi động mà còn đảm bảo cho hoạt động quản lý nhà nước trong lĩnh
vực đầu tư có hiệu quả. Thực hiện pháp luật khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài
một mặt đảm bảo cho các hoạt động đầu tư vận động theo đúng các quy luật khách quan
đồng thời thu hút, hấp dẫn và tạo được niềm tin cho các nhà đầu tư. Nếu không có sự
quản lý các biện pháp khuyến khích đầu tư bằng pháp luật sẽ làm cho môi trường đầu tư
trở nên kém hiệu quả, bản thân các biện pháp khuyến khích đầu tư sẽ phản lại tác dụng
của nó, Nhà nước sẽ không thể quản lý hoạt động đầu tư; quốc gia sẽ mất đi vị thế trong
thị trường đầu tư đang diễn ra hết sức sôi động, bình đẳng và lành mạnh trên thế giới.
Thông qua thực hiện pháp luật khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài góp phần
nâng cao năng lực quản lý, điều hành bằng pháp luật của các cấp chính quyền, bảo đảm
cho bộ máy chính quyền thể hiện được đầy đủ những đặc trưng của bộ máy nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; đội ngũ công chức
được rèn luyện, hình thành phẩm chất và kỹ năng quản lý bằng pháp luật, tuân thủ
nghiêm pháp luật.
Hai là, thực hiện pháp luật khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài nhằm tăng
cường khả năng cạnh tranh và thu hút vốn đầu tư.
Trong bối cảnh nền kinh tế quốc tế và nền kinh tế khu vực đang ngày càng phát
triển và xích lại gần nhau hơn, tốc độ công nghiệp hoá và chuyên môn hoá ngày càng cao.
Trong hành trang quốc tế hoá, mỗi quốc gia có những thế mạnh riêng của mình, các quốc
gia có nguồn tư bản dồi dào muốn mang nguồn vốn của mình đầu tư, sản xuất, kinh
doanh để kiếm lợi nhuận. Các quốc gia thiếu vốn có nhu cầu thu hút vốn đầu tư để phát
triển nền kinh tế. Để thu hút nguồn vốn đầu tư ngày càng nhiều, việc ban nhành và thực
hiện pháp luật khuyến khích đầu tư là đòi hỏi khách quan. Thực tế, nhà đầu tư với mục
đích cuối cùng rất rõ ràng là lợi nhuận, việc lựa chọn và quyết định địa bàn và lĩnh vực
đầu tư là một sự tính toán rất kỹ lưỡng. Trong sự tính toàn đó, nhà đầu tư hết sức để ý đến
các chính sách và các biện pháp thu hút đầu tư. Quốc gia nào có các biện pháp khuyến
khích và bảo đảm đầu tư hợp lý, hiệu quả và hấp dẫn nhất sẽ thu hút được nhiều nguồn
Thực hiện pháp luật khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài tạo điều kiện thúc
đẩy các quan hệ kinh tế phát triển. Trong nền kinh tế thị trường, việc xác lập và thực hiện
các nguyên tắc pháp lý cơ bản như nguyên tắc cạnh tranh, nguyên tắc bình đẳng, cùng có
lợi, tôn trọng độc lập, chủ quyền…sẽ đảm bảo cho sự vận hành hoạt động đầu tư của nhà
đầu tư có hiệu quả.
Thực hiện pháp luật về khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài chính là đảm
bảo một môi trường pháp lý an toàn cho các hoạt động đầu tư, để hoạt động đầu tư được
điều chỉnh theo một trật tự. Đây là vấn đề mang tính quy luật, bởi lẽ quyền lợi và hoạt
động đầu tư của nhà đầu tư chỉ có thể phát triển trong một môi trường chính trị - kinh tế xã hội ổn định và có đủ độ tin cậy.
Hơn nữa, pháp luật nói chung, pháp luật về khuyến khích đầu tư trực tiếp nước
ngoài nói riêng là phương tiện có ý nghĩa quan trọng việc tạo lập môi trường ổn định mà
ở đó mọi chủ thể tham gia quan hệ pháp luật, cụ thể là nhà đầu tư, phải tôn trọng các cam
kết và phải chịu trách nhiệm về những hậu quả có thể xảy ra.
Năm là, thực hiện pháp luật khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài góp phần
thực hiện chính sách phát triển văn hóa – xã hội, xây dựng môi trường văn hóa, xã hội
văn minh, làm lành mạnh, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hóa tinh thần ngày càng cao của
nhân dân, tiếp thu tinh hoa văn hóa của các nước, đồng thời cũng góp phần phòng ngừa,
ngăn chặn du nhập văn hóa lai căng, trái với truyền thống văn hóa dân tộc.
Sáu là, qua thực hiện pháp luật nói chung, thực hiện pháp luật khuyến khích đầu tư
trực tiếp nước ngoài nói riêng góp phần xây dựng lối sống, lối làm việc, sinh hoạt theo
pháp luật, hình thành và nâng cao trình độ ứng xử có văn hóa pháp lý, làm sâu sắc lối
sống văn hóa thanh lịch của người Việt.
1.3 NHỮNG ĐẢM BẢO PHÁP LÝ CHO VIỆC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT
KHUYẾN KHÍCH ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
Việc thực hiện pháp luật khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài có hiệu quả hay
không phụ thuộc vào những điều kiện pháp lý cụ thể, đó là: sự hoàn thiện của hệ thống
pháp luật, trong đó có văn bản quy phạm pháp luật về khuyến khích đầu tư trực tiếp nước
ngoài; hiệu quả hoạt động tổ chức thực hiện pháp luật khuyến khích đầu tư trực tiếp nước
Pháp luật phải nhất quán, hệ thống: Pháp luật phải có tính nhất quán, thể hiện ở
chỗ các văn bản pháp luật trong lĩnh vực đầu tư trực tiếp nước ngoài cùng với các quy
phạm pháp luật trong nhiều lĩnh vực khác đều phải bảo đảm thực hiện quyền và lợi ích
hợp pháp của chủ thể. Tính hệ thống cũng có những khía cạnh tương đồng với tính nhất
quán. Tuy nhiên, tính nhất quán của pháp luật hàm chứa khía cạnh nội dung và chính sách
trong lúc đó tính hệ thống được thể hiện nhiều qua cấu trúc, cách sắp xếp, phân loại thứ
bậc, hiệu lực của quy phạm pháp luật.Tính nhất quán, hệ thống của pháp luật đòi hỏi sự
thống nhất không chồng chéo, mâu thuẫn giữa các văn bản pháp luật với nhau và giữa các
quy phạm pháp luật với nhau. Sự không đồng bộ của hệ thống pháp luật sẽ gây cản trở rất
lớn đến hiệu quả điều chỉnh của pháp luật đối với các hoạt động kinh tế - xã hội. Những
quy định pháp luật chồng chéo mâu thuẫn sẽ dẫn đến những cách áp dụng khác nhau gây
ra những tranh chấp về quyền lợi ích của các chủ thể, tranh chấp về thẩm quyền giữa các
cơ quan Nhà nước trong quản lý kiểm tra, giám sát, xử lý các vi phạm pháp luật.
Pháp luật phải đảm bảo tính phù hợp: Một trong những yêu cầu rất quan trọng đối
với hệ thống pháp luật là có tính khả thi cao. Đảm bảo được yêu cầu này mới thực sự phát
huy được vai trò của pháp luật trong điều chỉnh các quan hệ kinh tế - xã hội. Tính khả thi
trước hết đòi hỏi hệ thống pháp luật phải phù hợp với đời sống kinh tế- xã hội với pháp
luật và thông lệ quốc tế. Để đảm bảo sự phù hợp này, cần giải quyết tốt mối quan hệ giữa
5
“The law that changes every day is worse than no law at all”.
pháp luật với kinh tế, chính trị, đạo đức , tập quán truyền thống các quy phạm xã hội khác
và thông lệ quốc tế. Sự phù hợp của pháp luật sẽ đảm bảo cho pháp luật có khả năng điều
chỉnh một cách có hiệu quả và dễ dàng quan hệ kinh tế, xã hội bởi khi đó pháp luật không
chỉ được đảm bảo bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước mà còn đảm bảo bởi sức
mạnh từ các quy tắc đạo đức, tôn giáo, tập quán, từ niềm tin pháp luật của chủ thể tham
gia vào quan hệ pháp luật. Vì vậy, để xây dựng hệ thống pháp luật có tính khả thi cao đòi
hỏi cơ quan xây dựng pháp luật phải bám sát thực tiễn nắm bắt kịp thời các yêu cầu khách