Tiểu luận
Môn: Thương mại quốc tế
Đề tài:
Vận dụng nội dung đã nghiên cứu về thương mại quốc tế hãy
phân tích nội dung đổi mới chính sách thương mại quốc tế và
hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam.
Liên hệ thực tiễn
Hà Nội - 2006
Cùng với sự phát triển của lịch sử loài người, các hoạt động kinh tế diễn ra với
quy mô ngày càng lớn, phạmvi các quan hệ kinh tế ngày càng rộng, tính chất của chúng
ngày càng phức tạp, trình độ phát triển của chúng ngày càng cao. Từ khi phương thức sản
xuất tư bản chủ nghĩa ra đời, quan hệ thương mại giữa các quốc gia ngày càng phát triển
cả về chiều rộng và chiều sâu, sự phân công lao động diễn ra ở tầm quốc tế, các doanh
nghiệp tìm cách mở rộng thị trường ra nước ngoài, các quan hệ kinh tế quốc tế diễn ra
không những trên lĩnh vực thương mại mà cả trên lĩnh vực: đầu tư, chuyển giao công
nghệ, di chuyển quốc tế sức lao động và nhiều lĩnh vực khác. Do sự phát triển của các
hoạt động thương mại quốc tế và các hoạt động trao đổi quốc tế khác, thị trường thế giới
được hình thành. Nhưng không phải từ khi hình thành thị trường thế giới là đã xuất hiện
khái niệm nền kinh tế thế giới. Khái niệm nền kinh tế thế giới chỉ ra đời trên cơ sở sự
phát triển đến một trình độ nhất định không những của các nền kinh tế quốc gia mà quan
trọng hơn là sự phát triển đáng kể của các quan hệ kinh tế quốc tế, vì chính các quan hệ
kinh tế quốc tế mới làm cho nền kinh tế quốc gia liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau, tác động
qua lại và thúc đẩy lẫn nhau, tạo nên tính thống nhất, tính chỉnh thể của nền kinh tế thế
giới.
Cơ cấu của nền kinh tế thế giới có thể được xem xét trên nhiều
góc độ:
- Theo hệ thống kinh tế - xã hội, người ta chia nền kinh tế thế giới ra thành hệ
cuối cùng được thể hiện tập trung trong thương mại quốc tế và quan hệ hàng hóa - tiền tệ
vẫn là quan hệ phổ biến nhất trong các quan hệ kinh tế quốc tế.
Chính sách thương mại quốc tế là một hệ thống các quan điểm, mục tiêu, nguyên
tắc và các công cụ, biện pháp thích hợp mà nhà nước sử dụng để điều chỉnh các hoạt
động thương mại quốc tế của một quốc gia trong một thời kỳ nhất định phù hợp với định
hướng, chiến lược, mục đích đã định trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của quốc
gia đó.
Mặc dù thương mại quốc tế nói chung đưa lại những lợi ích to lớn nhưng với
nhiều lý do khác nhau, mỗi quốc gia có chủ quyền đều có chính sách thương mại quốc tế
riêng thể hiện ý chí và mục tiêu của nhà nước đó trong việc can thiệp và điều chỉnh các
hoạt động thương mại quốc tế có liên quan đến nền kinh tế quốc gia. Do sự phát triển
không đều giữa các quốc gia nên khả năng và điều kiện tham gia vào thương mại quốc tế
của mỗi nước là không giống nhau, trong khi đó yêu cầu và nhiệm vụ phát triển kinh tế
và xã hội có những đặc điểm riêng đòi hỏi phải có sự hỗ trợ từ phía chính sách thương
mại quốc tế. Môi trường kinh tế thế giới còn chịu sự chi phối và tác động của nhiều mối
quan hệ chính trị và các mục tiêu phi kinh tế khác, cho nên chính sách thương mại quốc
tế của mỗi quốc gia cũng phải đáp ứng cho nhiều mục tiêu khác nhau. Mục tiêu của chính
sách thương mại quốc tế của mỗi quốc gia có thể thay đổi qua mỗi thời kỳ, nhưng đều có
chức năng chung là điều chỉnh các hoạt động thương mại quốc tế theo chiều hướng có lợi
cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Chức năng này thể hiện trên hai mặt sau
đây:
Một là, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong nước mở rộng thị
trường ra nước ngoài, tham gia mạnh mẽ vào phân công lao động quốc tế và mậu dịch
quốc tế, khai thác triệt để lợi thế so sánh của nền kinh tế trong nước.
Hai là, bảo vệ thị trường nội địa, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước
có khả năng đứng vững và vươn lên trong hoạt động kinh doanh quốc tế, đáp ứng cho
nhu cầu tăng cường lợi ích quốc gia.
Để thựchiện nhiệm vụ trên, chính sách thương mại quốc tế của một quốc gia bao
một quốc gia. Chung lại là một bộ phận cấu thành của chính sách kinh tế - xã hội nhằm
phục vụ cho việc thực hiện các mục tiêu chiến lược trong chính sách phát triển kinh tế và
xã hội của đất nước trong từng giai đoạn.
Như vậy, chính sách thương mại quốc tế là một bộ phận của chính sách kinh tế xã hội của nhà nước, nó có quan hệ chặt chẽ và phục vụ cho sự phát triển kinh tế và xã
hội của đất nước. Nó tác động mạnh mẽ đến quá trình tái sản xuất, chuyển dịch cơ cấu
kinh tế của đất nước, đến quy mô và phương thức tham gia của nền kinh tế mỗi nước vào
phân công lao động quốc tế và thương mại quốc tế. Chính sách thương mại quốc tế có vai
trò to lớn trong việc khai thác triệt để lợi thế so sánh của nền kinh tế trong nước, phát
triển các ngành sản xuất và dịch vụ đến quy mô tối ưu, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng và
nâng cao hiệu quả của các hoạt động kinh tế.
Chính sách thương mại quốc tế có thể tạo nên các tác động tích cực khi nó có cơ
sở khoa học và thực tiễn, tức là nó xuất phát từ các bối cảnh khách quan của nền kinh tế
thế giới, chú ý đến đặc điểm và trình độ phát triển của nền kinh tế trong nước, tuân theo
các quy luật khách quan trong vận động của các quan hệ kinh tế quốc tế và thường xuyên
được bổ sung, hoàn chỉnh phù hợp với những biến đổi mau lẹ của thực tiễn.
* Những xu hướng cơ bản trong chính sách thương mại quốc tế.
Trên thực tế, chính sách thương mại quốc tế của mỗi quốc gia là rất khác nhau.
Qua mỗi giai đoạn phát triển kinh tế của họ do các điều kiện kinh tế - xã hội - chính trị tự nhiên trong từng thời kỳ lịch sử ấy quy định. Song dù khác nhau như thế nào, chúng
đều vận động theo những quy luật chung và chịu sự chi phối của hai xu hướng cơ bản
sau: Xu hướng tự do hóa thương mại và xu hướng mậu dịch. Hai xu hướng này mang tính
khách quan và tạo nên cơ sở cho việc hình thành chính sách thương mại quốc tế của mỗi
quốc gia trong từng giai đoạn.
* Những dạng chính sách thương mại quốc tế điển hình:
1. Các chính sách hướng nội ban đầu. Chính phủ của các nước đang phát triển
đôi khi lựa chọn chính sách thương mại để thúc đẩy tính tự lực quốc gia thể hiện ở việc
tăng cường sản xuất lương thực, các nông sản và khoáng sản mà chúng không được nhập
khẩu. Qua đó mà bảo đảm sự an toàn lương thực. Người ta còn dùng các biểu thuế nhập
khẩu hoặc quota nhập khẩu lương thực, khi ấy thuế lương thực không phải chủ yếu nhằm
với xuất khẩu.
Các chính sách thương mại tốt nhất cho các chính sách thương mại hướng ngoại
sẽ trở nên trung hòa khi quan tâm đến việc cung cấp các đầu vào cho nhà xuất khẩu, tức
là dỡ bỏ các trở ngại đối với xuất khẩu. Các chính sách - thương mại tốt nhất cho các
chính sách hướng ngoại sẽ trở nên trung hòa và có lựa chọn với sự thay thế nhập khẩu có
hiệu quả và đẩy mạnh xuất khẩu trên cơ sở tài năng quản lý của Chính phủ.
Bốn loại chính sách thương mại nói trên là một sự khái quát hóa, tập trung vào
những đặc điểm quan trọng và trong thực tế chính sách thương mại quốc tế của mỗi nước
có thể bao gồm các yếu tố của bốn chế độ này.
5. Chính sách thương mại quốc tế của những nước đang phát triển.
Do đặc điểm của thị trường thế giới và do trình độ kinh tế của các nước đang
phát triển người ta rất quan tâm đến việc xây dựng một chính sách thương mại quốc tế
phù hợp sao cho phục vụ tốt nhất các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc
gia. Một số quốc gia đã đạt được thành công đáng kể trong các thập kỷ 60, 70, 80 khit
hực hiện chính sách công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu và ngày nay họ đã trở thành các
nước công nghiệp mới (NICs). Một số quốc gia khác tỏ ra thận trọng hơn đã thực hiện
chính sách thay thế nhập khẩu. Có ý kiến cho rằng chính sách thay thế nhập khẩu là giai
đoạn đầu cần thiết của một chính sách hướng mạnh về xuất khẩu bởi vì trước khi có thể
xuất khẩu mạnhmẽ ra thị trường nội địa. Tuy nhiên, cả về lý luận và thực tiễn thì nội
dung và mục tiêu cũng như phương tiện cần sử dụng của chính sách hướng mạnh về xuất
khẩu có nhiều vấn đề khác so với chính sách thay thế nhập khẩu. Chính điều này quyết
định việc bố trí cơ cấu kinh tế, việc áp dụng khoa học và công nghệ, việc phân bố các
nguồn lực cũng như việc sử dụng các công cụ của chính sách thương mại.
* Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam.
- Quá trình tham gia vào hội nhập kinh tế khu vực là tất yếu, nhưng thực tiễn cho
thấy hội nhập kinh tế gây nên sức ép lớn của các nước phát triển về tốc độ tự do hóa
thương mại, đầu tư và tài chính; gặp phải sự bành trướng về kinh tế của các tập đoàn
xuyên quốc gia; có thể gây nên những hậu quả của sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng XHCN; bảo đảm giữ vững ổn định chính trị, an ninh quốc phòng và giữ gìn bản
sắc văn hóa dân tộc.
- Hội nhập khu vực trên cơ sở sự chuẩn bị cả về tiềm năng, vị trí, về kế hoạch
bước đi, không ngừng phát huy nội lực, nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh
nghiệp, các ngành kinh tế.
- Hội nhập khu vực theo phương châm đa dạng hóa, đa phương hóa, bảo đảm
nguyên tắc bình đẳng và cùng có lợi vừa hợp tác vừa đấu tranh.
Trên cơ sở các nguyên tắc nêu trên, cần thực hiện một số giải pháp chủ yếu sau
đây:
- Chuẩn bị tốt các điều kiện cần thiết cho quá trình hội nhập kinh tế khu vực, bao
gồm việc thống nhất ý chí và hành động tăng cường phối hợp giữa các cơ quan chức năng
ở Trung ương và địa phương, hoàn thiện từng bước các văn bản pháp lý theo hướng hội
nhập kinh tế.
- Tập trung nhân tài vật lực để nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, hướng
vào một số ngành và lĩnh vực lựa chọn, tạo thực lực cho quá trình hội nhập kinh tế.
- Xây dựng lộ trình hội nhập kinh tế khu vực với sự tính toán tỷ mỉ, nêu rõ trách
nhiệm của các ngành các cấp với mốc thời gian rõ ràng và phù hợp với yêu cầu của tổ
chức kinh tế quốc tế khu vực AFTA, APEC.
- Tiếp tục cơ chế quản lý kinh tế phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế thị trường
định hướng XHCN, tổ chức và hoàn thiện các loại hình doanh nghiệp để đáp ứng yêu cầu
cạnh tranh khi hội nhập.
- Xây dựng đội ngũ cán bộ, bao gồm cán bộ quản lý kinh tế và kinh doanh, cán
bộ khoa học - công nghệ và cả cán bộ quản lý nhà nước. Các cấp có đủ năng lực và phẩm
chất để tổ chức triển khai quá trình hội nhập ở các đơn vị cơ sở phù hợp với chiến lược
chung của Nhà nước. Tăng cường và nâng cao vai trò của các tổ chức Đảng và đoà thể
quần chúng xứng ngang tầm với đòi hỏi của quá trình hội nhập.