®Æc san vÒ bLtThS n¨m 2003
ThS. NguyÔn ngäc Khanh *
T
rong Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS)
năm 2003, địa vị pháp lí của người bào
chữa, việc lựa chọn người bào chữa và các vấn
đề khác liên quan đến người bào chữa được quy
định tại các điều 56, 57 và 58. Về cơ bản, các
quy định trong những điều luật này kế thừa
những nội dung của các điều 35, 36 và 37
BLTTHS năm 1988, có sửa đổi, bổ sung một số
nội dung cho phù hợp với quy định tại các điều
luật khác có liên quan của Bộ luật và phù hợp
với tinh thần đổi mới của Đảng và Nhà nước ta,
đặc biệt là chủ trương cải cách tư pháp theo tinh
thần Nghị quyết số 08-NQ/TƯ ngày 02/1/2002
của Bộ chính trị “Về một số nhiệm vụ trọng
tâm công tác tư pháp trong thời gian tới”. Trong
bài viết này chúng tôi xin trình bày những điểm
mới trong các quy định tại các điều 56, 57, 58
BLTTHS năm 2003 so với các quy định tại các
điều 35, 36, 37 BLTTHS năm 1988. Đó là
những quy định về đối tượng của việc bào
chữa; thời điểm tham gia tố tụng của người bào
chữa; quyền và nghĩa vụ của người bào chữa;
việc lựa chọn, thay đổi người bào chữa và việc
cấp, thu hồi giấy chứng nhận bào chữa.
1. Về đối tượng của việc bào chữa
là người đã thừa nhận hành vi phạm tội của
mình (người phạm tội tự thú, đầu thú)... họ là
đối tượng bị (hoặc sẽ bị) truy cứu trách nhiệm
hình sự. Việc ghi nhận họ có quyền tự bào chữa
hoặc nhờ người khác bào chữa nhằm tạo điều
* Giảng viên Khoa luật hình sự
Trường đại học luật Hà Nội
T¹p chÝ luËt häc
®Æc san vÒ bLtThS n¨m 2003
kiện cho người bị tạm giữ bảo vệ quyền lợi cho
mình. Như vậy, theo quy định của BLTTHS
năm 2003, các đối tượng được bào chữa bao
gồm: Người bị tạm giữ, bị can và bị cáo.
2. Về thời điểm tham gia tố tụng của
người bào chữa
Theo quy định tại khoản 1 Điều 38
BLTTHS năm 1988, người bào chữa được
tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can. Trong
trường hợp cần phải giữ bí mật điều tra với các
tội xâm phạm an ninh quốc gia thì viện trưởng
viện kiểm sát nhân dân quyết định để người bào
chữa tham gia tố tụng từ khi kết thúc điều tra.
Khoản 1 Điều 58 BLTTHS năm 2003 cũng ghi
nhận người bào chữa có quyền tham gia tố tụng
từ khi khởi tố bị can. Bên cạnh đó, do ghi nhận
quyền bào chữa của người bị tạm giữ, khoản 1
thừa những nội dung của Điều 36 BLTTHS
năm 1988, có sửa đổi và bổ sung một số quyền
và nghĩa vụ của người bào chữa như sau:
3.1. Các quyền của người bào chữa được
sửa đổi, bổ sung
- Bổ sung quyền có mặt khi lấy lời khai của
người bị tạm giữ. Đây là quy định nhằm đảm
bảo cho người bào chữa thực hiện việc bào
chữa, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của
người bị tạm giữ. Theo quy định của BLTTHS
năm 2003, người bị tạm giữ có quyền “tự bào
chữa hoặc nhờ người khác bào chữa”. Quy định
người bào chữa có quyền “có mặt khi lấy lời
khai của người bị tạm giữ” là một trong những
đảm bảo thực hiện nguyên tắc đảm bảo quyền
bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo.
Khi có mặt trong cuộc lấy lời khai người bị tạm
giữ, nếu điều tra viên đồng ý thì người bào chữa
được hỏi người bị tạm giữ. Đây là một trong
những biện pháp để người bào chữa thực hiện
nhiệm vụ của mình;
- Bổ sung quyền được xem các biên bản về
hoạt động tố tụng có sự tham gia của mình và
các quyết định tố tụng có liên quan đến người
mà mình bào chữa. So với Điều 36 BLTTHS
năm 1988, đây là điểm mới quan trọng của
Điều 58 BLTTHS năm 2003 về quyền của
người bào chữa. Theo quy định tại Điều 36
BLTTHS năm 1988, người bào chữa chỉ có
35
tiến hành hỏi cung. Người bào chữa không thể
lúc nào cũng trực ở cơ quan điều tra để tham dự
cuộc hỏi cung được. Khắc phục tình trạng đó,
điểm b khoản 2 Điều 58 BLTTHS năm 2003
quy định cho người bào chữa có quyền đề nghị
cơ quan điều tra báo trước về thời gian và địa
điểm hỏi cung để người bào chữa thu xếp công
việc có mặt khi điều tra viên hỏi cung bị can.
Theo tinh thần đó, nếu điều tra viên hoãn cuộc
36
hỏi cung hoặc thay đổi địa điểm hỏi cung thì
cũng phải báo cho người bào chữa biết.
- Bổ sung quyền thu thập tài liệu, đồ vật,
tình tiết liên quan đến việc bào chữa từ người bị
tạm giữ, bị can, bị cáo, người thân thích của
những người này hoặc từ cơ quan, tổ chức, cá
nhân theo yêu cầu của người bị tạm giữ, bị can,
bị cáo nếu không thuộc bí mật Nhà nước, bí
mật công tác.
Người bào chữa có quyền độc lập thu thập
tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến vụ án để
chuẩn bị luận cứ cho bài bào chữa của mình.
Đây không phải là hoạt động tố tụng mà đơn
thuần là biện pháp để người bào chữa thực hiện
nhiệm vụ của mình. Người bào chữa có thể thu
thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến việc
bào chữa thông qua việc tiếp xúc với người bị
tạm giữ, bị can, bị cáo, người thân thích của
những đồ vật, tài liệu, mặc dù chúng có thể có
liên quan đến vụ án nhưng những đồ vật, tài
liệu đó chưa thể được gọi là chứng cứ. Bởi vậy,
chỉ có thể quy định người bào chữa có quyền
“đưa ra đồ vật, tài liệu” chứ không thể quy định
người bào chữa có quyền “đưa ra chứng cứ";
- Bổ sung quyền được gặp người đang bị
tạm giữ. Đây là một quy định nhằm đảm bảo
cho việc thực hiện quyền thu thập tài liệu, đồ
vật, tình tiết liên quan đến việc bào chữa đã
được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 58
BLTTHS năm 2003. Để thu thập được tài liệu,
đồ vật, tình tiết liên quan đến vụ án, nếu đối
tượng được bào chữa là người bị tạm giữ, người
bào chữa có quyền được gặp người bị tạm giữ.
Qua việc gặp người đang bị tạm giữ người bào
chữa còn có thể giúp người bào chữa về mặt
pháp lí, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp
của người bị tạm giữ. Khi gặp người bị tạm giữ
người bào chữa phải tuân thủ các quy định của
pháp luật về tạm giữ (Nghị định số 89/NĐ-CP
ngày 07/11/1998 ban hành quy chế về tạm giữ,
tạm giam);
- Bổ sung quyền được sao chụp những tài
liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc bào
chữa sau khi kết thúc điều tra theo quy định của
pháp luật.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 36
BLTTHS năm 1988, người bào chữa “được đọc
hồ sơ vụ án và ghi chép những điều cần thiết
ràng, rất có thể dẫn đến tình trạng người bào
chữa vì mục đích cá nhân lợi dụng quy định
này để đọc, ghi chép cả những vấn đề không
liên quan đến việc bào chữa;
- Sửa đổi quyền “khiếu nại các quyết định
của cơ quan tiến hành tố tụng” thành quyền
“khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ
quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng”.
Quy định tại điểm i khoản 2 Điều 58 BLTTHS
năm 2003 mở rộng đối tượng có thể bị người
bào chữa khiếu nại. Bên cạnh các quyết định
37
của các cơ quan tiến hành tố tụng thì cả những
hành vi tố tụng của những người có thẩm quyền
tiến hành tố tụng cũng có thể bị người bào chữa
khiếu nại. Ví dụ: Khi hỏi cung bị can điều tra
viên đã cố ý cản trở việc người bào chữa tham
dự cuộc hỏi cung mà không có lí do chính
đáng, người bào chữa có quyền khiếu nại với
hành vi đó của điều tra viên;
- Tại điểm k khoản 2 BLTTHS năm 2003,
cụm từ “nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần”
trong khoản 2 Điều 36 BLTTHS 1988 được đổi
lại là “nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất”.
Ngoài những quyền trên, tại khoản 2
Điều 58 BLTTHS năm 2003 cũng ghi nhận
một số quyền khác của người bào chữa giống
như quy định tại khoản 2 Điều 36 BLTTHS
BLTTHS năm 2003 bổ sung thêm cụm từ
“người bị tạm giữ” vào trước cụm từ “bị can, bị
cáo” vì theo quy định của BLTTHS năm 2003,
như phần trên đã phân tích, người bị tạm giữ
cũng là đối tượng của việc bào chữa. Đối với
nghĩa vụ thứ tư của người bào chữa, tại khoản 3
Điều 58 BLTTHS năm 2003, nghĩa vụ này
được quy định cụ thể hơn. Khoản 3 Điều 58
BLTTHS năm 2003 cũng bổ sung thêm một số
nghĩa vụ cho người bào chữa. Theo đó, người
bào chữa có những nghĩa vụ sau:
- Sử dụng mọi biện pháp do pháp luật quy
định để làm sáng tỏ những tình tiết xác định
người bị tạm giữ, bị can, bị cáo vô tội, những
tình tiết làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của
bị can, bị cáo.
Các biện pháp pháp luật quy định cho
người bào chữa để thực hiện nhiệm vụ của
mình là tham gia các cuộc hỏi cung, tham gia
vào các hoạt động điều tra khác, gặp gỡ người
bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người thân thích của
những người này để thu thập các tài liệu, đồ vật,
tình tiết liên quan đến việc bào chữa hoặc thu
thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến việc
bào chữa từ cơ quan, tổ chức, cá nhân theo yêu
cầu của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nếu
không thuộc bí mật nhà nước, bí mật công tác.
Người bào chữa không được sử dụng các biện
pháp bào chữa trái pháp luật như mua chuộc, dụ
dỗ người làm chứng, người bị hại, người tiến
sẽ được giao cho cơ quan điều tra, viện kiểm sát
hoặc toà án. Việc giao nhận các tài liệu, đồ vật
đó giữa người bào chữa và cơ quan tiến hành tố
tụng phải được lập biên bản theo quy định tại
Điều 95 của BLTTHS năm 2003.
- Giúp người bị tạm giữ, bị can, bị cáo về
mặt pháp lí nhằm bảo vệ quyền lợi và lợi ích
hợp pháp của họ.
Nghĩa vụ của người bào chữa trong tố tụng
hình sự không chỉ nhằm bào chữa cho người bị
tạm giữ, bị can, bị cáo mà với tư cách là người
hiểu biết pháp luật họ còn phải giúp người bị
tạm giữ, bị can, bị cáo về mặt pháp lí nhằm bảo
vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của họ như tư
T¹p chÝ luËt häc
vấn cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo để họ
thực hiện tốt nhất các quyền của mình trong tố
tụng để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp
của họ. Ví dụ, khi điều tra viên có những hành
vi xâm hại một cách trái pháp luật tới quyền và
lợi ích hợp pháp của bị can, người bào chữa có
thể giúp bị can khiếu nại với hành vi trái pháp
luật đó của điều tra viên.
- Không được từ chối bào chữa cho người
bị tạm giữ, bị can, bị cáo mà mình đã đảm nhận
bào chữa nếu không có lí do chính đáng;
- Tôn trọng sự thật và pháp luật; không
được mua chuộc, cưỡng ép hoặc xúi giục
người khác khai báo gian dối, cung cấp tài
mặt theo giấy triệu tập của toà án để thực hiện
nhiệm vụ bào chữa của mình và đồng thời họ
cũng được có mặt tại phiên toà để thực hiện
quyền tham gia xét hỏi, tranh luận tại phiên toà
theo quy định tại điểm h khoản 2 Điều 58
BLTTHS năm 2003.
- Không được tiết lộ bí mật điều tra mà
mình biết được khi thực hiện việc bào chữa;
không được sử dụng tài liệu đã ghi chép, sao
chụp trong hồ sơ vụ án vào mục đích xâm
phạm lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp
pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân.
BLTTHS ghi nhận người bào chữa có
quyền có mặt khi lấy lời khai người bị tạm giữ,
hỏi cung bị can, có mặt trong các hoạt động
điều tra khác để thu thập các thông tin cần thiết
cho việc bào chữa của mình. Trong quá trình
tham dự các hoạt động điều tra, người bào chữa
có thể biết được những bí mật điều tra, theo quy
định tại khoản 3 Điều 58 BLTTHS năm 2003,
người bào chữa không được tiết lộ những bí
mật điều tra mà mình biết. Sau khi kết thúc điều
tra, người bào chữa có quyền đọc, ghi chép và
sao chụp những tài liệu trong hồ sơ vụ án liên
quan đến việc bào chữa, họ chỉ được phép sử
dụng những tài liệu, tình tiết đó cho mục đích
bào chữa cho bị can, bị cáo mà không được sử
dụng vào mục đích xâm phạm lợi ích của Nhà
nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ
chức và cá nhân.
hoặc toà án phải yêu cầu đoàn luật sư phân
công văn phòng luật sư cử người bào chữa
cho họ hoặc đề nghị Uỷ ban Mặt trận tổ quốc
Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận
cử người bào chữa cho thành viên của tổ
chức mình.
So với quy định tại Điều 275 BLTTHS
năm 1988, quy định tại Điều 305 BLTTHS
năm 2003 quy định cụ thể hơn về thủ tục cử
người bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can,
bị cáo là người chưa thành niên theo tinh
thần Pháp lệnh luật sư năm 2002.
5. Về việc cấp, thu hồi giấy chứng
nhận người bào chữa
Trong BLTTHS năm 1988 việc cấp giấy
chứng nhận cho người bào chữa được quy
định tại khoản 4 Điều 35. Theo đó, thủ
trưởng cơ quan điều tra, viện trưởng viện
kiểm sát, chánh án toà án hoặc hội đồng xét
xử cấp giấy chứng nhận người bào chữa
trong vụ án để họ thực hiện nhiệm vụ của
mình. Điều 35 chỉ quy định về thẩm quyền
cấp giấy chứng nhận người bào chữa mà
không quy định trách nhiệm của những
người có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận
người bào chữa, thời hạn cấp giấy chứng
T¹p chÝ luËt häc
nhận người bào chữa. Bởi vậy, trong thực tế,
nhiều trường hợp người bào chữa gặp rất
như khoản 4 Điều 35 BLTTHS năm 1988. Ở
cơ quan điều tra, viện kiểm sát, toà án, thẩm
quyền cấp giấy chứng nhận người bào chữa
cụ thể được quy định tại các điều luật khác
của Bộ luật như Điều 36, Điều 37 và Điều 38
41
BLTTHS năm 2003. Cụ thể là ở cơ quan
điều tra, thẩm quyền cấp giấy chứng nhận
thuộc về thủ trưởng và phó thủ trưởng cơ
quan điều tra khi được phân công điều tra vụ
án hình sự (các khoản 2, 3 Điều 36); ở viện
kiểm sát, thẩm quyền thuộc về viện trưởng và
phó viện trưởng viện kiểm sát khi được phân
công thực hành quyền công tố và kiểm sát việc
tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng đối
với vụ án hình sự (các khoản 2, 3 Điều 37); ở
toà án, thẩm quyền thuộc về chánh án và phó
chánh án toà án khi được phân công giải
quyết, xét xử vụ án hình sự (các khoản 2, 3
Điều 38) và thẩm phán giữ chức vụ chánh toà,
phó chánh toà toà phúc thẩm Toà án nhân dân
tối cao (khoản 3 Điều 39);
- Khoản 4 Điều 56 BLTTHS năm 2003
quy định rõ trách nhiệm của cơ quan điều
tra, viện kiểm sát và toà án là trong thời
hạn 03 ngày, kể từ ngày nhận được đề nghị
của người bào chữa kèm theo giấy tờ liên
quan đến việc bào chữa phải xem xét, cấp
+ Các quy định về người bào chữa được
sửa đổi, bổ sung theo hướng ghi nhận thời
điểm tham gia tố tụng của người bào chữa
sớm hơn, mở rộng thêm quyền cho người
bào chữa (như quyền có mặt khi lấy lời khai
người bị tạm giữ, quyền được thu thập tài
liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến việc bào
chữa từ người bị tạm giữ...) và quy định cụ
thể hơn trách nhiệm của người bào chữa khi
tham gia tố tụng hình sự. BLTTHS năm
2003 cũng quy định rõ hơn trách nhiệm của
các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc tạo
điều kiện cho người bào chữa tham gia tố
tụng, góp phần bảo đảm thực hiện nguyên
tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị
tạm giữ, bị can, bị cáo;
+ Các quy định của BLTTHS về người
bào chữa được sửa đổi, bổ sung phù hợp với
các quy định khác có liên quan của
BLTTHS, của Pháp lệnh luật sư năm 2002
và phù hợp với tinh thần Nghị quyết số 08NQ/TƯ ngày 02/1/2002 của Bộ chính trị
“Về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư
pháp trong thời gian tới”./.
T¹p chÝ luËt häc