nghiên cứu - trao đổi
T
rong BLDS ban hành năm 1995 và có
hiệu lực thi hành từ ngày 1 tháng 7
năm 1996, nghĩa vụ cấp dỡng đợc đề
cập trong trờng hợp bồi thờng thiệt hại
ngoài hợp đồng. Theo quy định tại Điều
613 và Điều 614 BLDS về trách nhiệm
bồi thờng thiệt hại do sức khoẻ và tính
mạng bị xâm hại, trong trờng hợp ngời
bị thiệt hại mất hoàn toàn khả năng lao
động hoặc chết thì ngời gây thiệt hại có
nghĩa vụ bồi thờng khoản chi phí cấp
dỡng cho ngời mà khi còn sống họ có
nghĩa vụ cấp dỡng. Nh vậy, theo các
quy định nêu trên, việc xác định và tính
toán chi phí cấp dỡng chỉ đặt ra khi
ngời bị thiệt hại chết hoặc mất hoàn
toàn khả năng lao động và nghĩa vụ cấp
dỡng trong trờng hợp này là thực tế.
BLDS không quy định cụ thể những
ngời nào mà ngời gây thiệt hại phải trả
khoản tiền cấp dỡng. Theo tinh thần
Điều 616 BLDS thì ngời mà ngời bị
thiệt hại có nghĩa vụ cấp dỡng (nếu có)
bao gồm:
- Ngời cha thành niên hoặc ngời
đ thành thai là con của ngời chết và
còn sống sau khi sinh.
sau đây có nghĩa vụ nuôi dỡng và có
quyền đợc nuôi dỡng:
- Cha mẹ có nghĩa vụ nuôi dỡng con
cha thành niên và con đ thành niên mà
không có khả năng lao động để tự nuôi
mình.
- Con có nghĩa vụ nuôi dỡng bố mẹ.
- Ông, bà có nghĩa vụ nuôi dỡng
cháu cha thành niên trong trờng hợp
cháu không còn cha mẹ.
- Cháu đ thành niên có nghĩa vụ nuôi
dỡng ông bà trong trờng hợp ông bà
không còn con. Anh chị em có nghĩa vụ
đùm bọc lẫn nhau trong trờng hợp
không còn cha mẹ.
Nh vậy, theo các quy định trên
trờng hợp cha mẹ có nghĩa vụ nuôi
* Phòng cảnh sát giao thông
Công an tỉnh Thanh Hóa.
nghiên cứu - trao đổi
dỡng con cha thành niên và con đ
thành niên mà không có khả năng lao
động để tự nuôi dỡng mình, những
trờng hợp khác là đối tợng của nghĩa
vụ nuôi dỡng có thuộc nghĩa vụ mà
ngời thiệt hại phải cấp dỡng hay
không? Đây là vấn đề cần có sự nhận
đây sẽ không đồng nhất với nghĩa vụ nuôi
dỡng trong quy định của Luật HN&GĐ
năm 1986.
Trong Luật HN&GĐ sửa đổi năm
2000 quy định về cấp dỡng trong quan
hệ giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu;
giữa anh, chị, em trong gia đình (các điều
58, 59) và quy định về nghĩa vụ cấp
dỡng (Điều 50); mức cấp dỡng (Điều
53); các hình thức và phơng thức thực
hiện nghĩa vụ cấp dỡng (các điều 51, 52,
54) thì đối tợng đợc cấp dỡng bao
gồm: Nghĩa vụ cấp dỡng giữa vợ và
chồng khi li hôn (Điều 60); giữa cha, mẹ
đối với con khi li hôn (Điều 56); giữa
anh, chị, em (Điều 58); giữa ông bà nội,
ông bà ngoại và cháu (Điều 59)...
Nh vậy, trong các quy định của Luật
HN&GĐ sửa đổi năm 2000 đ xác định
cụ thể các đối tợng đợc cấp dỡng
trong quan hệ HN&GĐ đồng thời cũng
đ phân biệt khái niệm nuôi dỡng và cấp
dỡng.
- Trên thực tế hiện nay, vấn đề đợc
đặt ra là có trờng hợp ngời bị thiệt hại
đang cung cấp một phần (cơ bản) hay
toàn bộ chi phí cho cuộc sống sinh hoạt
thờng ngày cho những cá nhân mà họ
nhận đỡ đầu nh những ngời có hoàn
đ cấp dỡng nh thế nào; mức cấp
dỡng cụ thể là bao nhiêu để làm căn cứ
xác định mức chi phí cấp dỡng.
Trong thực tiễn bồi thờng tiền chi
phí cấp dỡng, vấn đề còn nhiều quan
điểm khác nhau là mức cấp dỡng.
Nghiên cứu pháp luật về bồi thờng
thiệt hại trong sự cố giao thông của Trung
Quốc cho thấy bồi thờng chi phí cấp
dỡng đợc xác định là phí sinh hoạt của
những ngời phải nuôi dỡng. Phí này
đợc tính toán trên cơ sở tiêu chuẩn của
cơ quan nhà nớc có thẩm quyền quy
định để hỗ trợ, giúp những khó khăn
trong sinh hoạt của dân c nơi xảy ra sự
cố giao thông. Phí này đợc phân thành 3
loại: Chi phí đối với những ngời cha đủ
16 tuổi; chi phí đối với ngời mất khả
năng lao động; chi phí đối với những
ngời phải nuôi dỡng ngời khác. Thời
hạn đợc hởng chi phí sinh hoạt đối với
ngời không có khả năng lao động là 20
năm nhng nếu ngời đó trên 50 tuổi
đợc giảm đi 1 năm, thấp nhất không
giảm đến 10 năm, phí nuôi dỡng là 5
năm đối với ngời trên 70 tuổi, đối với
những ngời phải nuôi dỡng khác thì chi
phí nuôi dỡng là 5 năm.
Có quan điểm cho rằng, căn cứ vào
mức thu nhập của ngời bị thiệt hại và
bộ khoản tiền cấp dỡng nh trong
trờng hợp Toà án nhân dân thành phố
Thanh Hoá buộc Nguyễn Văn Thủy lái
xe Công ti cầu 1 Thăng Long do vi phạm
các quy định về trật tự an toàn giao thông
đ gây ra hậu quả nghiêm trọng là làm
chết chị Nguyễn Thị Hoa phải bồi thờng
toàn bộ khoản tiền cấp dỡng nuôi hai
con của chị mà không đề cập trách nhiệm
nuôi dỡng của bố các cháu, mặc dù
ngời bố có thu nhập(1).
Thời hạn đợc hởng khoản tiền bồi
thờng cấp dỡng của ngời đợc cấp
dỡng quy định trong BLDS còn thiếu cụ
thể và thiếu chặt chẽ. Khoản 2 Điều 616
BLDS chỉ mới quy định:
"Trong trờng hợp ngời bị thiệt hại
chết thì những ngời mà ngời này có
nghĩa vụ cấp dỡng khi còn sống đợc
hởng tiền cấp dỡng trong thời hạn sau
đây:
a- Ngời cha thành niên hoặc ngời
đ thành thai là con của ngời chết và
còn sống sau khi sinh ra đợc hởng bồi
thờng cho đến khi đủ mời tám tuổi, trừ
trờng hợp ngời từ đủ mời lăm tuổi đến
cha đủ mời tám tuổi đ tham gia lao
động và có thu nhập đủ nuôi sống bản
thân;
nguồn nguy hiểm cao độ) gây ra, do đó
trách nhiệm bồi thờng thiệt hại nói
chung và việc bồi thờng khoản tiền cấp
dỡng có những đặc điểm riêng. Các đặc
điểm đó bao gồm:
- Ngời phải bồi thờng thiệt hại xảy
ra thông thờng là chủ phơng tiện.
Nhng cũng có thể xảy ra các trờng hợp
sau: Nếu chủ phơng tiện đ giao cho
ngời khác chiếm hữu, sử dụng thì ngời
đợc giao chiếm hữu, sử dụng phải bồi
thờng thiệt hại. Nếu phơng tiện bị
chiếm hữu, sử dụng trái phép thì ngời
đang chiếm hữu, sử dụng trái phép phải
bồi thờng. Nếu chủ phơng tiện cũng có
lỗi trong việc để ngời khác chiếm hữu,
sử dụng trái phép thì cũng phải liên đới
chịu trách nhiệm bồi thờng trơng ứng
28 - tạp chí luật học
với phần lỗi của mình.
- Chủ phơng tiện, ngời đợc chủ
phơng tiện giao chiếm hữu, sử dụng
phơng tiện phải bồi thờng thiệt hại
ngay cả khi không có lỗi nh trong các
trờng hợp do sự cố kĩ thuật phơng tiện.
Chỉ trong trờng hợp thiệt hại xảy ra
hoàn toàn do lỗi cố ý của ngời bị thiệt
hại, thiệt hại xảy ra trong trờng hợp bất
khả kháng thì ngời gây thiệt hại mới
luật./.
(1). Báo nhân dân số ra ngày 9/6/2000