Xây dựng pháp luật
Hớng hoàn thiện pháp luật về
dịch vụ t vấn pháp luật tại Việt Nam
TS. Hà Hùng Cờng *
Ths. Nguyễn Thị Minh
T
rên thế giới, dịch vụ t vấn pháp luật
đợc thừa nhận là một trong các dịch
vụ quan trọng, góp phần tạo lập môi trờng
pháp lí an toàn, tin cậy cho hoạt động đầu
t, kinh doanh, thơng mại, dân sự, giúp
hạn chế việc phát sinh các tranh chấp cũng
nh bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
các doanh nghiệp và cá nhân trong nền
kinh tế thị trờng với nhiều mối quan hệ
pháp lí đa dạng, phức tạp và năng động.
Trớc năm 1987, nền kinh tế nớc ta
còn vận hành theo cơ chế tập trung quan
liêu, bao cấp, hoạt động t vấn pháp luật ít
đợc quan tâm, cha trở thành nhu cầu của
x hội và do đó, cũng cha đợc x hội
thừa nhận nh loại hình dịch vụ, loại nghề
nghiệp. Cùng với việc thực hiện chính sách
đổi mới do Đại hội VI của Đảng đề ra, hoạt
động t vấn pháp luật đ trở thành nhu cầu
khách quan của x hội, loại hình dịch vụ,
loại nghề nghiệp không thể thiếu đợc
trong sự phát triển kinh tế x hội của đất
đợc ban hành trong những năm đầu
chuyển đổi cơ chế, vai trò của t vấn pháp
luật cha đợc quan tâm nên các điều
khoản của Pháp lệnh này chủ yếu tập trung
điều chỉnh lĩnh vực tranh tụng của luật s,
cha có các quy định điều chỉnh hoạt động
t vấn pháp luật với t cách là nghề nghiệp.
Công ti luật đợc thành lập và hoạt
động trên cơ sở vận dụng các quy định của
Luật công ti năm 1990. Trên thực tế, các
công ti luật nằm ngoài sự quản lí thống
nhất của Nhà nớc đối với việc hành nghề
t vấn pháp luật. Theo quy định của Luật
công ti thì công ti luật chỉ phải báo cáo về
hoạt động kinh doanh, thực hiện nghĩa vụ
thuế, không buộc phải báo cáo về tổ chức
hoạt động nghề nghiệp cho cơ quan quản lí
nhà nớc về t vấn pháp luật và Luật công
ti cũng không quy định chế tài về trách
* Bộ t pháp
Tạp chí luật học - 57
Xây dựng pháp luật
nhiệm nghề nghiệp của công ti trong trờng
hợp gây thiệt hại về lợi ích vật chất hay uy
tín đối với khách hàng. Ngoài ra, Luật công
ti chỉ điều chỉnh tổ chức và hoạt động của
Nam. Song có vấn đề phát sinh trong thực
tế là: Phạm vi của "lĩnh vực kinh doanh,
đầu t, thơng mại", việc t vấn về pháp
luật nhập c của Mĩ cho khách hàng Việt
Nam và khách hàng nớc ngoài có thuộc
các lĩnh vực đợc nêu không? Vấn đề này
vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau và còn phải
tiếp tục nghiên cứu để sửa đổi cho phù hợp
với tình hình thực tế và xu hớng chung.
58 - Tạp chí luật học
Các văn phòng và trung tâm t vấn pháp
luật của hội luật gia đợc thành lập và hoạt
động theo Thông t số 1119/QLTPK ngày
24/12/1987 của Bộ t pháp về hoạt động t
vấn pháp luật. Nhng thực chất hoạt động
của các văn phòng t vấn pháp luật của hội
luật gia là hành nghề t vấn pháp luật có
thu, đa số vì mục đích lợi nhuận chứ không
phải phục vụ miễn phí nh các văn phòng
t vấn pháp luật của các tổ chức đoàn thể
khác nh công đoàn hay hội phụ nữ.
Tóm lại, hiện nay cha có hành lang
pháp lí thống nhất cho hoạt động t vấn
pháp luật. Cơ sở pháp lí cho việc hình thành
và phát triển hoạt động t vấn pháp luật còn
nhiều quy định cha phù hợp với tính chất
chuyên nghiệp của nghề t vấn pháp luật.
Xuất phát từ việc cha có cách hiểu
thống nhất về dịch vụ t vấn pháp luật nên
còn rất nhiều vấn đề cha lờng hết đợc
và cha chín muồi ở thời điểm đó. Do đó,
so với yêu cầu phát triển hiện nay của nghề
luật s nói chung và t vấn pháp luật nói
riêng của đất nớc thì Pháp lệnh tổ chức
luật s có rất nhiều điểm bất cập, không
hoàn thiện.
Thứ hai, phải khẳng định rằng hoạt
động t vấn pháp luật ở nớc ta là sản
phẩm của chính sách đổi mới, của cơ chế
thị trờng nhng bản thân sự phát triển của
nó lại cha đợc đặt trong bối cảnh thị
trờng. Mặc dù thị trờng t vấn pháp luật
ở nớc ta còn rất nhỏ bé so với tiềm năng
của đất nớc gần 80 triệu dân và đang
quyết tâm phát triển kinh tế với nhịp độ
tăng trởng trên dới 7% năm nhng điều
đó không cho phép chúng ta buông xuôi,
thả nổi cho sự tự phát, sự cạnh tranh không
lành mạnh, thiếu trách nhiệm với ngời tiêu
dùng. Phải nói rằng thực chất chúng ta cha
có nhận thức thống nhất, rõ ràng về dịch vụ
t vấn pháp luật với t cách là loại nghề,
chính vì vậy, cho đến nay cha có văn bản
quy phạm pháp luật về hành nghề t vấn
pháp luật, cha có quy định chuẩn, thống
nhất về yêu cầu tối thiểu đối với trình độ
của ngời thực hiện dịch vụ t vấn pháp
luật, cha có yêu cầu về quy tắc đạo đức
nghề nghiệp đối với ngời thực hiện t vấn
định thơng mại Việt - Mĩ có hiệu lực hoặc
theo các cam kết của Việt Nam trong
trơng trình hợp tác về dịch vụ t vấn pháp
luật ASEAN (2001 - 2010) thì các quy định
nêu trên sẽ không còn phù hợp.
Vấn đề lớn đặt ra hiện nay là làm thế
nào để trong thời gian ngắn (có thể đến
năm 2010) phát triển đợc đội ngũ luật s
Việt Nam đông đảo về số lợng, ít ra là gấp
10 lần hiện nay đồng thời có kĩ năng hành
nghề theo kịp các luật s quốc tế, khu vực
để vừa đáp ứng nhu cầu phát triển của đất
nớc, chiếm lĩnh thị trờng ngoài nớc,
cạnh tranh với các luật s nớc ngoài? Nếu
chúng ta xem đó là mục tiêu tổng quát của
chiến lợc phát triển dịch vụ t vấn pháp
luật của Việt Nam thì vấn đề cấp thiết hiện
nay là phải đổi mới, hoàn thiện khung pháp
luật điều chỉnh lĩnh vực nghề nghiệp này.
Tuy nhiên, cũng cần phải lựa chọn bớc đi
cho phù hợp.
Theo chúng tôi, về định hớng cho giai
đoạn 2001 - 2005 nên xây dựng đạo luật
chung về hành nghề luật s cho cả luật s
trong nớc và luật s nớc ngoài, khắc
phục tình trạng cát cứ nh hiện nay, phải
coi luật s nớc ngoài hành nghề tại Việt
Nam là bộ phận của luật s Việt Nam, dần
Tạp chí luật học - 59
s Việt Nam với nhau; luật s phải là nghề
nghiệp chung bao gồm cả luật s tranh tụng
và luật s t vấn pháp luật, không hạn chế
luật s chỉ đợc hành nghề tranh tụng hoặc
hành nghề t vấn pháp luật; họ đợc tự do
lựa chọn lĩnh vực hành nghề phù hợp với sở
trờng của họ, họ cũng có thể hành nghề
trên cả hai lĩnh vực nh pháp luật hiện hành
quy định.
Thứ hai, phải chính quy hóa tiêu chuẩn
luật s. Khác với các dịch vụ thông thờng,
t vấn pháp luật là dịch vụ cung cấp cho
khách hàng kiến thức pháp luật, hớng dẫn
cho họ xử sự theo pháp luật, xử lí các tình
huống tranh chấp theo pháp luật, do đó đòi
hỏi ngời t vấn phải có trình độ pháp luật
60 - Tạp chí luật học
nhất định. Trên thực tế, có những ngời
hoàn toàn không đợc đào tạo về luật cũng
thành lập công ti luật; các luật gia, các luật
s thực hiện t vấn pháp luật thì đợc đào
tạo về kĩ năng hành nghề. Theo chúng tôi,
Dự án Pháp lệnh luật s (sửa đổi) về
nguyên tắc cần quy định cụ thể các tiêu
chuẩn về trình độ để đợc cấp chứng chỉ
hành nghề luật s nh sau:
+ Đ tốt nghiệp đại học luật;
+ Đ tốt nghiệp khóa đào tạo nghề luật
s;
loại hình bảo hiểm mới cha đợc quy định
Xây dựng pháp luật
trong pháp luật về bảo hiểm của Việt Nam
và điều này cần thiết phải đợc nghiên cứu,
bổ sung trong thời gian tới.
Thứ năm, Pháp lệnh luật s (sửa đổi)
cần quy định rõ một số các điều cấm làm
liên quan đến đạo đức nghề nghiệp của luật
s, ví dụ: Cấm tiết lộ bí mật của khách
hàng mà luật s biết đợc trong khi hành
nghề; cấm quan hệ với ngời có thẩm
quyền nhằm giải quyết vụ việc một cách
trái pháp luật; cấm xúi bẩy đơng sự khiếu
nại, khiếu kiện, tố cáo không có căn cứ;
cấm sách nhiễu khách hàng; cấm gây khó
khăn hoặc cản trở hoạt động của cơ quan
Nhà nớc một cách bất hợp pháp; cấm trực
tiếp nhận thù lao và các chi phí từ khách
hàng; cấm kinh doanh các ngành nghề
khác.
Ngoài các điều cấm nói trên do pháp
luật quy định, các luật s còn phải tuân
theo các quy tắc đạo đức nghề nghiệp của
mình, thờng do đoàn luật s hoặc hiệp hội
luật s quy định. Các quy tắc này vừa cụ
thể hóa các điều cấm do pháp luật quy định
vừa là những điều tuy pháp luật không cấm
trờng. Do vậy, nội dung quản lí nhà nớc
nên chăng chủ yếu tập trung vào cơ chế cấp
hoặc tớc chứng chỉ hành nghề của luật s
và hoạt động của các tổ chức hành nghề
luật s? Các nội dung quản lí khác nên quy
định thuộc chế độ tự quản của tổ chức x
hội nghề nghiệp của luật s.
- Đối với luật s nớc ngoài, theo chúng
tôi, trong một vài năm tới cũng cần kiến
nghị Chính phủ báo cáo Quốc hội cho phép
hoàn thiện Nghị định, nâng lên thành Pháp
lệnh về hành nghề t vấn pháp luật của luật
s nớc ngoài tại Việt Nam. Bởi lẽ, quy chế
về hành nghề t vấn pháp luật của luật s
nớc ngoài hiện nay đợc ban hành dới
hình thức nghị định vừa không phù hợp với
quy định của Luật ban hành văn bản quy
phạm pháp luật vừa không tơng xứng với
hình thức văn bản quy định đối với việc
hành nghề của luật s trong nớc. Việc
soạn thảo ban hành Pháp lệnh về luật s
nớc ngoài phải chăng cũng là bớc chuẩn
bị cho ban hành đạo luật chung về hành
nghề luật s tại Việt Nam nh đ trình bày
ở trên.
Trong khi cha ban hành đợc Pháp
lệnh, theo chúng tôi trớc mắt, cũng cần
thiết phải nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung
Nghị định số 92/1998/NĐ-CP ngày
10/11/1998 cho phù hợp yêu cầu thực tế.
chính đối với việc xem xét cấp giấy phép
đặt chi nhánh và đăng kí hành nghề của chi
nhánh tổ chức luật s nớc ngoài tại Việt
Nam. Chẳng hạn, theo Điều 11 Nghị định
số 92/1998/NĐ-CP, tổ chức luật s nớc
ngoài phải nộp 7 loại giấy tờ kèm theo đơn
xin phép đặt chi nhánh tại Việt Nam. Dự
thảo Nghị định (sửa đổi) chỉ nên giữ lại 3
trong số 7 giấy tờ đó. Hoặc là giảm bớt các
điều kiện để đợc phép hành nghề tại Việt
Nam đối với tổ chức luật s nớc ngoài,
các quy định không cần thiết từ giác độ
quản lí Nhà nớc mà tạo cảm giác gây khó
khăn trong việc cấp giấy phép đặt chi
nhánh nh điều kiện "có khách hàng hoạt
động đầu t, kinh doanh tại Việt Nam:, "có
uy tín"... Điều kiện duy nhất theo chúng tôi
nên để lại là tổ chức luật s đó phải đợc
thành lập và hoạt động hợp pháp ở nớc
ngoài.
62 - Tạp chí luật học
Thứ ba, tạo cơ chế linh hoạt và thuận lợi
hơn cho hoạt động hợp tác giữa chi nhánh
tổ chức luật s nớc ngoài và tổ chức t vấn
pháp luật Việt Nam, không nên bắt buộc
các chi nhánh tổ chức luật s nớc ngoài
trong mọi trờng hợp phải kí hợp đồng hợp
tác cũng không cần thiết phải gửi bản sao
hợp đồng cho sở t pháp.
Chính phủ ngày 10/11/1998 về hành nghề t vấn pháp
luật của tổ chức luật s nớc ngoài tại Việt Nam quy
định: "Chi nhánh có nghĩa vụ mua bảo hiểm trách
nhiệm nghề nghiệp cho luật s của mình hành nghề tại
Việt Nam".