Báo cáo công ước rome năm 1980 về luật áp dụng cho quan hệ nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng - Pdf 33

nghiên cứu - trao đổi

S

ự tồn tại của mỗi cá nhân bao giờ
cũng nằm trong mối liên quan với
nhiều cá nhân trong cộng đồng x hội.
Vì thế, khi thiếu vắng sự hiện diện của họ
sẽ làm thay đổi quá trình tồn tại và phát
triển của các quan hệ mà họ đang tham
gia. Khi cá nhân chết thì t cách chủ thể
của họ hoàn toàn chấm dứt trong thực tế.
Vì vậy, các quan hệ pháp luật mà họ tham
gia đơng nhiên chấm dứt (hoặc có sự
xáo trộn về chủ thể).
Trong thực tế, có nhiều trờng hợp cá
nhân vắng mặt quá lâu ngày mà không
thể xác định là họ còn sống hay đ chết.
Tình trạng này làm gián đoạn các quan hệ
mà họ đang tham gia và ảnh hởng tới
quyền lợi của chính họ cũng nh quyền
và lợi ích hợp pháp của những ngời liên
quan.
Nhằm duy trì trật tự các quan hệ pháp
luật hoặc chấm dứt một số quan hệ pháp
luật mà ngời tham gia đ vắng mặt quá
lâu ngày, góp phần bảo vệ quyền và lợi
ích của các chủ thể, Điều 91 Bộ luật dân
sự (BLDS) nớc ta đ quy định việc tuyên
bố một ngời là đ chết nh sau:
"1. Ngời có quyền, lợi ích liên quan

pháp luật đợc coi là ngày ngời đó
chết".
Trong phạm vi bài viết này chúng tôi
xin đề cập ba vấn đề sau đây:
1. Điều kiện để tuyên bố chết đối
với cá nhân
Có thể nói rằng, tuyên bố một ngời
là đ chết chỉ là sự suy đoán pháp lí của
tòa án về sự sống còn của một ngời khi
* Giảng viên Khoa t pháp
Trờng đại học luật Hà Nội


nghiên cứu - trao đổi

họ đ biệt tích một thời hạn nhất định.

Quyết định này của tòa án là cơ sở
pháp lí làm chấm dứt năng lực chủ thể
của cá nhân, qua đó sẽ xuất hiện nhiều
hậu quả pháp lí quan trọng. Để tăng
cờng tính chính xác của sự "suy đoán"
nhằm giảm thiểu những sai sót trong các
trờng hợp ngời biệt tích vẫn còn sống
nhng đ bị tòa án tuyên bố là đ chết,
trớc khi ra quyết định tuyên bố chết đối
với một cá nhân tòa án cần xem xét đầy
đủ các điều kiện sau đây:
Thứ nhất, đ qua thời hạn nhất định
mà cá nhân đó vẫn không có tin tức là

đầu để tính thời hạn năm năm là ngày có
tin tức cuối cùng về ngời đó. Nếu không
thể xác định đợc ngày thì tính từ ngày
đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin
tức cuối cùng, nếu không xác định đợc
ngày, tháng thì tính từ ngày đầu tiên của
năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng.
Trong BLDS không quy định phạm vi
không gian về nơi có tin tức cuối cùng
nên hiện nay có nhiều quan điểm khác
nhau về vấn đề này. Nhiều ngời căn cứ
vào hớng dẫn của Nghị quyết 03/HĐTP
ngày 19/10/1990 của Tòa án nhân dân tối
cao để xác định không gian của nơi có tin
tức cuối cùng là nơi c trú cuối cùng của
ngời đó.
Chúng tôi cho rằng, nơi c trú của cá
nhân đ đợc BLDS quy định với tinh
thần hoàn toàn mới nên việc xác định
phạm vi không gian về nơi có tin tức cuối
cùng theo hớng dẫn của nghị quyết nói
trên không còn phù hợp nữa. Mặt khác,
khi xác định về sự sống còn của một
ngời cần phải chú trọng đến tính thực tế
của nó. Chẳng hạn, ngời không có tin
tức sống còn tại nơi c trú cuối cùng của
họ đ quá năm năm nhng nếu có căn cứ
chính xác về việc ngời đó đ có lần xuất
hiện (có mặt) ở địa phơng khác thì vẫn
phải coi ngày mà họ có mặt ở địa phơng

Việc thông báo tìm kiếm với mục
đích nhằm xác định lại lần cuối cùng về
tin tức sống còn của một ngời trớc khi
tòa án quyết định về thân phận pháp lí
của họ. Vì vậy, nếu thủ tục này không thể
thiếu khi tuyên bố cá nhân mất tích thì dĩ
nhiên cũng không thể thiếu đợc khi
tuyên bố là đ chết đối với cá nhân.
Mặc dù trong BLDS không quy định
về điều kiện này nhng chúng tôi cho
rằng không thể thiếu đợc khi muốn
tuyên bố một ngời là đ chết. Bởi lẽ, qua
thủ tục này sẽ nâng cao tính xác thực
trong quyết định của tòa án. Mặt khác, về
nguyên tắc, tòa án chỉ có thể tuyên bố
một ngời là đ chết khi họ "vẫn không
có tin tức là còn sống".
Qua việc phân tích trên chúng ta thấy
rằng, việc thông báo tìm kiếm là thủ tục
bắt buộc nếu muốn tuyên bố một ngời là
đ chết khi cha qua thủ tục tuyên bố mất
tích. Vậy đối với ngời đ bị tuyên bố
mất tích, nay muốn tuyên bố họ là đ chết
vì đ "sau 3 năm, kể từ ngày quyết định
tuyên bố mất tích của tòa án có hiệu lực
54 - Tạp chí luật học

pháp luật mà vẫn không có tin tức là còn
sống" thì có cần phải thực hiện thủ tục
thông báo tìm kiếm không?

những ngời nói trên có thể thực hiện và
bảo vệ các quyền, lợi ích của mình.
Chẳng hạn, một chủ nợ yêu cầu tòa án
tuyên bố một ngời (vốn là con nợ của
mình) là đ chết khi họ đ biệt tích lâu
ngày nhằm thu hồi khoản nợ từ tài sản mà
ngời đó để lại theo quy định của pháp
luật về thừa kế.
Mặt khác, theo nguyên tắc của pháp
luật tố tụng dân sự thì tòa án chỉ thụ lí vụ


nghiên cứu - trao đổi

việc khi có đơn khởi kiện của đơng sự.
Vì vậy, tòa án chỉ có thể ra quyết định
tuyên bố cá nhân là đ chết khi có yêu
cầu của ngời có quyền, lợi ích liên quan.
Thứ t, chỉ tuyên bố là đ chết đối với
ngời không nằm trong tình trạng bị truy
n theo lệnh của cơ quan điều tra.
Trong thực tế có nhiều trờng hợp cá
nhân bỏ trốn sau khi thực hiện hành vi
phạm tội nhằm trốn tránh sự trừng trị của
pháp luật nên cơ quan điều tra đ ra lệnh
truy n đối với họ. Việc bỏ trốn của cá
nhân trong những trờng hợp này đa phần
tạo nên tình trạng biệt tích, không có tin
tức gì về sự sống còn của họ và hầu nh
họ không trở về nếu nh cha bị bắt. Tình

nhân hay không nếu họ là ngời đang bị
cơ quan điều tra truy n .
Chúng tôi thấy rằng, về nguyên tắc,
tòa án không đợc tuyên bố là đ chết đối
với ngời đang bị truy n . Trong những
trờng hợp cần thiết phải bảo vệ quyền,
lợi ích của những ngời liên quan thì tòa
án chỉ đợc ra quyết định tuyên bố ngời
đó mất tích.
2. Xác định ngày chết của ngời bị
tuyên bố là đã chết
Việc xác định ngày chết của một
ngời hết sức quan trọng. Đó là một vấn
đề có ý nghĩa thực tế, liên quan đến
quyền, lợi ích của nhiều ngời. Ngày chết
của ngời bị tuyên bố là đ chết là cơ sở
để xác định ngày mở thừa kế đối với di
sản của ngời đó và là ngày để xác định
các quan hệ khác mà ngời đó tham gia
đợc coi là chấm dứt... Tuy nhiên, BLDS
mới chỉ quy định một cách chung nhất về
việc xác định ngày chết nh sau:
"Tùy từng trờng hợp, tòa án xác định
ngày chết của ngời bị tuyên bố là đ
chết, nếu không xác định đợc ngày đó
thì ngày mà quyết định của tòa án tuyên
bố ngời đó là đ chết có hiệu lực pháp
luật đợc coi là ngày ngời đó chết"
(khoản 2 Điều 91 BLDS).
Theo quy định trên thì ngày chết của

thụ lí đơn yêu cầu của anh B thì anh B bị
chết vì tai nạn. Chị H (vợ của anh B) tiếp
tục yêu cầu tòa án tuyên bố ông A là đ
chết. Nếu vụ việc trên đợc tiến hành giải
quyết thì ngày chết của ông A đợc xác
định theo ngày quyết định tuyên bố chết
của tòa án có hiệu lực pháp luật. Nh vậy,
về logic pháp lí, anh B đ chết trớc ông
A nên anh B không đợc hởng thừa kế
đối với tài sản mà ông A để lại (nghĩa là
chị H không đợc kế quyền thừa kế của
anh B để hởng di sản của ông A), logic
pháp lí này hoàn toàn trái ngợc với tính
thực tế của vụ việc là chính anh B yêu cầu
tòa án tuyên bố về cái chết của ông A
nhng lại chết trớc ông A.
Qua ví dụ trên, chúng tôi thấy rằng
nếu ngày chết của ngời bị tuyên bố là đ
chết đợc xác định theo ngày có hiệu lực
pháp luật của quyết định tuyên bố là đ
chết sẽ gây ra bất cập trong nhiều trờng
hợp tơng tự. Vì lẽ đó, cơ quan nhà nớc
có thẩm quyền cần ban hành văn bản để
hớng dẫn cụ thể về vấn đề này.
Để khắc phục tình trạng trên thì ngày
chết của ngời bị tuyên bố là đ chết phải
đợc xác định cụ thể trong mọi trờng
56 - Tạp chí luật học

hợp, không nên coi ngày có hiệu lực pháp

ngời bị tuyên bố là đ chết là ngời đ
bị tuyên bố mất tích thì ngày chết của họ
là ngày tròn ba năm kể từ khi quyết định
tuyên bố mất tích có hiệu lực pháp luật.
Đối với ngời bị tuyên bố là đ chết vì
không xác định đợc là còn sống hay đ
chết sau vụ tai nạn, thiên tai, thảm họa thì
ngày chết của họ là ngày tròn một năm kể
từ khi vụ tai nạn, thiên tai, thảm họa đó
chấm dứt.
Đối với ngời bị tuyên bố là đ chết vì
mất tích trong chiến tranh thì ngày chết


nghiên cứu - trao đổi

của họ là ngày tròn năm năm kể từ khi
cuộc chiến tranh đó kết thúc.
3. Giải quyết hậu quả pháp lí khi
ngời bị tuyên bố là đã chết trở về
Khi quyết định tuyên bố chết đối với
cá nhân của tòa án có hiệu lực pháp luật
thì cá nhân đó coi nh đ chết. Có thể có
trờng hợp trong thực tế ngời đó vẫn còn
sống nhng họ vẫn bị coi là đ chết về
mặt pháp lí. Vì vậy, tất cả các quan hệ mà
ngời đó tham gia đều sẽ đợc giải quyết
nh đối với ngời đ chết. Chẳng hạn nh
quan hệ hôn nhân đơng nhiên chấm dứt,
các khoản nợ về tài sản mà ngời đó cha

cho sự suy đoán rơi vào tình trạng không
còn cơ sở. Mặt khác, việc xuất hiện của
cá nhân bị tuyên bố là đ chết dù ở tình

trạng nào thì họ vẫn là thực thể đang tồn
tại nên vẫn phải chịu sự tác động của
pháp luật và các mối quan hệ khác. Nghĩa
là pháp luật vẫn phải đảm bảo quyền lợi
cho họ và họ vẫn phải gánh vác các nghĩa
vụ nhất định. Vì vậy, chúng tôi cho rằng
tại thời điểm ngời bị tuyên bố là đ chết
xuất hiện thì các quyền nhân thân hợp
pháp của họ đơng nhiên đợc khôi phục
đồng thời họ phải chịu trách nhiệm với
những hành vi của chính mình. Nếu áp
dụng theo quy định tại khoản 2 Điều 93
của BLDS thì thân phận pháp lí của họ sẽ
nh thế nào trong thời gian tòa án cha ra
quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố là
đ chết đối với họ? Các quyền nhân thân
của họ trong thời gian đó có đợc pháp
luật thừa nhận và bảo vệ không? Các
quyền về tài sản của họ nh thế nào? Nếu
vợ hoặc chồng của họ cha kết hôn với
ngời khác thì quan hệ vợ chồng của họ
có đơng nhiên tái lập không? Tái lập từ
thời điểm họ trở về hay từ thời điểm
quyết định tuyên bố chết bị hủy bỏ? Khi
tái lập quan hệ hôn nhân họ có phải thực
hiện lại việc đăng kí kết hôn không hay

việc tái tục cuộc hôn nhân của họ.
Nếu ngời vợ hay chồng cha kết hôn
với ngời khác nhng khi ngời bị tuyên
bố là đ chết trở về mà tình cảm giữa họ
đ rạn nứt, không muốn sống chung với
nhau nữa thì khi ra quyết định hủy quyết
định tuyên bố chết, tòa án không công
nhận tái tục hôn nhân. Quan hệ hôn nhân
giữa họ vẫn coi nh đ chấm dứt từ trớc.
Vì vậy, mỗi ngời trong số họ đều có
quyền kết hôn với ngời khác.
- Trong trờng hợp ngời bị tuyên bố
là đ chết trở về mà tài sản của họ cha
phân chia cho những ngời thừa kế thì
quyền sở hữu đối với tài sản của họ
đơng nhiên đợc khôi phục. Họ có
quyền nhận lại tài sản do ngời đang
quản lí tài sản chuyển giao, sau khi đ
thanh toán chi phí quản lí. Nếu tài sản
của họ đ đợc phân chia cho những
ngời thừa kế thì họ "có quyền yêu cầu
những ngời đ nhận tài sản thừa kế trả
lại tài sản hiện còn. Trong trờng hợp
ngời thừa kế của ngời bị tuyên bố là đ
chết biết ngời này còn sống mà cố tình
giấu giếm nhằm hởng thừa kế thì ngời
đó phải hoàn trả toàn bộ tài sản đ nhận,
kể cả hoa lợi, lợi tức; nếu gây thiệt hại thì
phải bồi thờng" (khoản 3 Điều 93
BLDS).

nhng có đủ căn cứ để xác định ngời
thừa kế đ định đoạt tài sản thừa kế đó để
tạo lập tài sản khác (thông qua hợp đồng
mua bán, đổi tài sản...). Trong trờng hợp
này tài sản mà ngời thừa kế phải trả lại
cho ngời bị tuyên bố là đ chết nhng
còn sống là phần giá trị mà ngời thừa kế
đ thu đợc thông qua việc định đoạt tài
sản thừa kế đó./.
(1). Nghị quyết 03/HĐTP đ có hớng dẫn nh sau:
"Trình tự tố tụng đối với việc xác định một ngời là
đ chết cũng giống nh xác định một ngời đ mất
tích".




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status