Báo cáo " Công ước Lahay năm 1993 về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế - so sánh với pháp luật Việt Nam về nuôi con nuôi " - Pdf 12



nghiªn cøu - trao ®æi
10 T¹p chÝ luËt häc sè 4/2011 TS. NguyÔn Hång B¾c *
au thời gian xem xét, hoàn thiện pháp
luật trong nước cho phù hợp với Công
ước về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh
vực con nuôi quốc tế, ngày 7/12/2010, Việt
Nam đã kí Công ước này. Việc Việt Nam kí
gia nhập Công ước này đánh dấu bước tiến
quan trọng trong việc từng bước hội nhập vào
khuôn khổ hợp tác đa phương về tư pháp
quốc tế mà trước hết là việc thực hiện Công
ước về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh
vực con nuôi quốc tế. Cùng với việc Luật
nuôi con nuôi có hiệu lực từ ngày 01/01/2011,
việc kí Công ước này chắc chắn tạo ra khuôn
khổ pháp luật đồng bộ, điều chỉnh cả vấn đề
nuôi con nuôi trong nước và nuôi con nuôi có
yếu tố nước ngoài vì lợi ích cao nhất của trẻ
em, trong đó có trẻ em Việt Nam.
(1)

Công ước Lahay năm 1993 được thông
qua ngày 29/5/1993, có hiệu lực từ ngày

ghi nhận bao gồm:
- Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản
của trẻ em; mọi chính sách pháp luật đều
phải vì lợi ích tốt nhất của trẻ em và thúc đẩy
việc thực hiện quyền của trẻ em;
- Tôn trọng quyền ưu tiên đối với trẻ em
là được cha mẹ đẻ chăm sóc;
- Nếu vì lí do nào đó mà trẻ em không
được cha mẹ đẻ chăm sóc thì cơ quan, tổ chức
có thẩm quyền có trách nhiệm bảo vệ trẻ em
và xem xét tất cả những giải pháp khác nhau
S
* Giảng viên chính Khoa pháp luật quốc tế
Trường Đại học Luật Hà Nội nghiªn cøu - trao ®æi
T¹p chÝ luËt häc sè 4/2011 11
để trẻ em được chăm sóc, nuôi dưỡng tại
quốc gia mình; nếu các giải pháp này không
thực hiện được thì có thể tìm kiếm giải pháp
thay thế như nuôi con nuôi, giám hộ hoặc
chăm sóc ở trung tâm bảo trợ xã hội;
- Chỉ cho phép những người ngoài gia
đình ruột thịt của trẻ em nhận trẻ em làm con
nuôi, nếu không có khả năng tìm thấy một
nơi ở phù hợp cho trẻ em ngay từ gia đình
gốc của mình;
- Việc nuôi con nuôi phải làm phát sinh
đầy đủ quan hệ cha mẹ và con theo pháp luật;

trong việc xác định thứ tự ưu tiên lựa chọn
gia đình thay thế cho trẻ. Theo Điều 5 Luật
nuôi con nuôi, thứ tự ưu tiên lựa chọn gia
đình thay thế cho trẻ được thực hiện như sau:
a) Cha dượng, mẹ kế, cô, cậu, dì, chú,
bác ruột của người được nhận làm con nuôi;
b) Công dân Việt Nam thường trú ở
trong nước;
c) Người nước ngoài thường trú ở Việt Nam;
d) Công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài;
đ) Người nước ngoài thường trú ở nước ngoài.
Trường hợp có nhiều người cùng hàng ưu
tiên xin nhận một người làm con nuôi thì xem
xét, giải quyết cho người có điều kiện nuôi
dưỡng, chăm sóc, giáo dục con nuôi tốt nhất.
b. Điều kiện nuôi con nuôi
Khi xem xét điều kiện nuôi con nuôi cần
xem xét dưới 2 khía cạnh: Điều kiện đối với
người nhận nuôi và điều kiện đối với con nuôi.
Thứ nhất, điều kiện đối với người nhận nuôi
Điều 2 Công ước quy định Công ước
được áp dụng khi trẻ em và cha mẹ nuôi
thường trú tại các quốc gia thành viên khác
nhau mà không áp dụng khi trẻ em và cha
mẹ nuôi cùng thường trú tại một quốc gia
thành viên, cũng như cha mẹ nuôi thường trú
ở một quốc gia không phải thành viên Công
ước và ngược lại. Công ước quy định: việc
nuôi con nuôi chỉ được chấp nhận đối với
người xin nhận con nuôi là một cặp vợ chồng

của pháp luật nước nơi người đó thường trú
và quy định tại Điều 14 của Luật nuôi con
nuôi năm 2010. Cụ thể: Người nhận con nuôi
phải có đủ các điều kiện sau đây:
- Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;
- Hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên;
- Có điều kiện về sức khoẻ, kinh tế, chỗ
ở bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo
dục con nuôi;
- Có tư cách đạo đức tốt.
Công dân Việt Nam nhận người nước
ngoài làm con nuôi phải có đủ các điều kiện
trên và pháp luật của nước nơi người được
nhận làm con nuôi thường trú (Điều 29 Luật
nuôi con nuôi năm 2010).
Như vậy, pháp luật Việt Nam đã kết hợp
giữa nguyên tắc luật nơi thường trú và luật
Việt Nam đề điều chỉnh điều kiện của người
nhận nuôi. Theo Điều 28 khoản 1 Luật nuôi
con nuôi năm 2010, người nước ngoài phải
thường trú ở nước cùng là thành viên của điều
ước quốc tế về nuôi con nuôi với Việt Nam
mới được nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi.
Thứ hai, điều kiện đối với con nuôi
Công ước quy định việc nuôi con nuôi
được áp dụng đối với trẻ em dưới 18 tuổi
(Điều 3). Theo hướng dẫn của Uỷ ban thường
trực Công ước Lahay thì quy định của Công
ước chỉ nhằm mục đích xác định phạm vi áp
dụng của Công ước, không có ý tạo lập độ

T¹p chÝ luËt häc sè 4/2011 13
kiến ở mức độ cần thiết và được thông báo
kĩ lưỡng về những hệ quả mà sự đồng ý của
họ có thể đem lại (như sự đồng ý của người
mẹ, của trẻ được nhận làm con nuôi…).
So sánh với pháp luật Việt Nam cho thấy
quy định của pháp luật Việt Nam về độ tuổi
của con nuôi thấp hơn so với quy định của
Công ước. Điều 8 Luật nuôi con nuôi năm
2010 quy định độ tuổi của người được nhận
làm con nuôi như sau:
- Trẻ em dưới 16 tuổi
- Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi
nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
+ Được cha dượng, mẹ kế nhận làm
con nuôi;
+ Được cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận
làm con nuôi.
Tuy nhiên, theo hướng dẫn của Uỷ ban
thường trực Công ước Lahay như đã trình bày
ở trên thì pháp luật của nước gốc (Việt Nam)
sẽ được áp dụng mà không tính đến Điều 3
của Công ước. Như vậy, Luật nuôi con nuôi
của nước ta quy định trẻ em từ 16 tuổi trở
xuống được cho làm con nuôi, quy định như
vậy không trái với Công ước Lahay năm 1993.
c. Hệ quả pháp lí của việc nuôi con nuôi
Về nguyên tắc, việc nhận nuôi con nuôi
giữa công dân của hai nước kí kết được nhà
chức trách có thẩm quyền của nước kí kết

có hậu quả như vậy. Mục đích của quy định
này là để đảm bảo rằng trẻ em được nhận làm
con nuôi phù hợp với quy định của Công ước
sẽ có địa vị pháp lí và được bảo vệ như bất kì
trẻ em nào khác trên lãnh thổ của nước nhận.
Tuy nhiên, việc chấm dứt quan hệ pháp lí
giữa cha mẹ đẻ và trẻ em cũng không phải là
giải pháp chắc chắn, vì pháp luật của các
nước quy định rất khác nhau về vấn đề này.
Vì vậy, Điều 27 Công ước cho phép chuyển
đổi hình thức nuôi con nuôi (từ đơn giản sang
trọn vẹn). nước nhận sẽ áp dụng pháp luật của
mình để cho phép chuyển đổi hình thức nuôi
con nuôi. Việc chuyển đổi này, cũng như hệ
quả pháp lí của nó, sẽ được công nhận tại các
quốc gia thành viên khác. Công ước Lahay
năm 1993 cũng không bắt buộc việc nuôi con
nuôi làm chấm dứt quan hệ pháp lí giữa cha
mẹ đẻ với trẻ em. Việc nuôi con nuôi chỉ làm nghiªn cøu - trao ®æi
14 T¹p chÝ luËt häc sè 4/2011
chấm dứt quan hệ đó nếu việc nuôi con nuôi
đó có hệ quả như vậy tại nước kí kết nơi thực
hiện việc nuôi con nuôi (nước nhận).
Về hệ quả pháp lí của việc nuôi con
nuôi, Luật hôn nhân và gia đình năm 2000
không quy định là làm chấm dứt hay vẫn tồn
tại quan hệ pháp lí giữa cha mẹ đẻ và trẻ em

nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, cấp dưỡng,
đại diện theo pháp luật, bồi thường thiệt hại,
quản lí, định đoạt tài sản riêng đối với con đã
cho làm con nuôi.
Như vậy, theo quy định trên của Luật
nuôi con nuôi năm 2010, trẻ em khi được
nhận làm con nuôi chỉ có mối quan hệ giữa
đứa trẻ và cha mẹ nuôi cũng như các thành
viên khác của cha mẹ nuôi. Nó có thể bị thay
đổi họ, tên, dân tộc theo yêu cầu của cha mẹ
nuôi. Cha mẹ đẻ không còn quyền, nghĩa vụ
chăm sóc, nuôi dưỡng, cấp dưỡng, đại diện
theo pháp luật, bồi thường thiệt hại, quản lí,
định đoạt tài sản riêng đối với con đã cho
làm con nuôi (trừ trường hợp giữa cha mẹ đẻ
và cha mẹ nuôi có thoả thuận khác). Tức là,
trẻ em Việt Nam không còn có quan hệ pháp
lí với cha mẹ đẻ.
Quy định trên là cần thiết bởi thực tế khi
cho con làm con nuôi ở nước ngoài thì cha
mẹ đẻ ở Việt Nam không thể có cơ hội và
điều kiện thực tế để thực hiện quyền và
nghĩa vụ pháp lí của mình đối với con. Mặt
khác, điều đó sẽ bảo đảm cho con nuôi Việt
Nam được hưởng đầy đủ các quyền và lợi
ích như mọi trẻ em sinh sống tại nước nhận
đồng thời cũng tránh được việc cha mẹ đẻ có
thể lợi dụng quyền làm cha mẹ để đòi hỏi
cha mẹ nuôi hoặc con đã cho làm con nuôi
giúp đỡ về vật chất.

Việt Nam (quốc tịch của cha mẹ đẻ) đến
năm 18 tuổi. Đủ 18 tuổi, con nuôi có quyền
lựa chọn quốc tịch hoặc quốc tịch của cha
mẹ nuôi hoặc quốc tịch quốc gia nào đó.
d. Cơ quan có thẩm quyền và trình tự,
thủ tục giải quyết việc nuôi con nuôi
* Cơ quan có thẩm quyền giải quyết việc
nuôi con nuôi
Điều 6 Công ước quy định cả nước nhận
và nước gốc phải chỉ định một cơ quan ở
trung ương có đủ thẩm quyền, làm đầu mối
trong việc bảo đảm thực thi Công ước, tạo
điều kiện trao đổi thông tin với các nước.
Việc chỉ định cơ quan trung ương về con
nuôi quốc tế là bắt buộc.
Những quốc gia có nhiều bang hoặc
những quốc gia có không chỉ một hệ thống
pháp luật hay các quốc gia có những đơn vị
lãnh thổ tự trị phải được tự do chỉ định nhiều
cơ quan trung ương có thẩm quyền và xác
định rõ phạm vi chức năng theo lãnh thổ cũng
như theo cá nhân của các cơ quan này đồng
thời cũng phải chỉ định một cơ quan trung
ương có thẩm quyền để tiếp nhận bất kì thông
tin nào có thể được gửi đến và chuyển những
thông tin đó cho cơ quan trung ương thích
hợp có thẩm quyền của quốc gia đó.
Theo Điều 8 và Điều 9 Công ước, cơ
quan trung ương về con nuôi quốc tế có
nghĩa vụ áp dụng trực tiếp hoặc với sự giúp

nuôi quốc tế thuộc Bộ y tế và phúc lợi xã hội
(Thụy Điển)… cơ quan trung ương về con
nuôi quốc tế của các nước là cơ quan đầu
mối trong việc thi hành Công ước. nghiên cứu - trao đổi
16 Tạp chí luật học số 4/2011
Cụng c Lahay cng quy nh cỏc quc
gia thnh viờn cú th thnh lp hoc cho
phộp t chc trong nc hot ng trong
lnh vc nuụi con nuụi (gi l t chc c
u quyn). T chc ny cú cỏc ngha v:
hot ng vỡ mc ớch phi li nhun, khụng
v li theo nhng iu kin do phỏp lut cỏc
nc hu quan quy nh; chu s lónh o v
iu hnh ca nhng ngi tiờu chun v
o c, c o to hoc cú kinh nghim
lm vic trong lnh vc con nuụi cú yu
t nc ngoi; chu s kim tra, giỏm sỏt ca
c quan cú thm quyn (v c cu, hot
ng v tỡnh trng ti chớnh); ch c hot
ng quc gia thnh viờn khỏc nu c
c quan cú thm quyn ca c hai quc gia
liờn quan cho phộp.
Hin nay, cú th coi cỏc t chc con nuụi
nc ngoi (c cp phộp hot ng ti
Vit Nam) l cỏc t chc c ch nh theo
Cụng c Lahay. Phỏp lut Vit Nam hin
khụng cú quy nh cm nhng cng cha cú

trỳ quc gia thnh viờn khỏc (nc gc)
lm con nuụi cn phi liờn h vi c quan
trung ng ca nc ni h thng trỳ. C
quan trung ng nc nhn cú trỏch nhim
kim tra cỏc iu kin c nhn con nuụi,
nu nhng ngi xin con nuụi ỏp ng cỏc
iu kin v thớch hp nuụi con nuụi thỡ c
quan ny phi lm mt bỏo cỏo bao gm
nhng thụng tin v ngi xin nhn con nuụi
v s phự hp nuụi con nuụi, v kh nng
m nhn vic nuụi con nuụi quc t cng
nh cỏc c im ca tr em m h thy thớch
hp nhn nuụi. Bỏo cỏo ú phi c
chuyn cho c quan trung ng ca nc gc.
Sau khi nhn c bỏo cỏo ca c quan
trung ng nc nhn, c quan trung ng
ca nc gc nu nhn thy tr em iu
kin cho lm con nuụi thỡ lp bỏo cỏo bao
gm nhng thụng tin v tr em, v kh nng
c cho lm con nuụi v v nhng nhu cu
c bit ca cỏc em, xỏc nhn rng vic cho
tr em lm con nuụi l vỡ li ớch tt nht ca
tr em v chuyn bỏo cỏo ny cho c quan
trung ng ca nc nhn cựng bng chng
v nhng s ng ý cn thit ó cú c v
nhng lớ do xỏc nhn vic gii thiu tr em. nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học số 4/2011 17

tui v mc trng thnh ca tr em v tr
em phi c tham kho ý kin, trng hp
cn thit thỡ phi cú s ng ý ca tr em.
(3)

Ngoi c quan trung ng, Cụng c
cũn quy nh cỏc c quan cụng quyn hoc
cỏc t chc, cỏ nhõn c u nhim cú th
thc hin nhng chc nng ca c quan
trung ng cú thm quyn trong quỏ trỡnh
gii quyt vic nuụi con nuụi (iu 22)
nhng phi tuõn th cỏc iu kin nht nh
theo quy nh ca Cụng c.
i chiu nhng quy nh trờn ca Cụng
c vi quy nh ca phỏp lut Vit Nam cho
thy v c bn, cỏc quy nh v trỡnh t, th
tc gii quyt vic nuụi con nuụi theo cỏc vn
bn phỏp lut hin hnh ca Vit Nam khụng
trỏi vi cỏc quy nh ca Cụng c Lahay nm
1993. Tuy nhiờn, phỏp lut Vit Nam cha cú
y cỏc quy nh cn thit bo m ỳng
yờu cu v trỡnh t, th tc gii quyt vic nuụi
con nuụi theo chun mc Cụng c nh: Cha
cú quy nh m bo y quyn quyt nh
ca Cc con nuụi vi t cỏch l c quan trung
ng v nuụi con nuụi quc t.
Túm li, Cụng c Lahay nm 1993 ó
to dng khuụn kh phỏp lớ bao quỏt v hu
hiu, m ra kh nng hiu chnh vn nuụi
con nuụi quc t khụng ch giai on u


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status