Nghiên cứu khoa học TÍNH CHẤT vật lý, cơ học và HƯỚNG sử DỤNG gỗ của một số LOÀI cây CHO TRỒNG RỪNG sản XUẤT VÙNG ĐÔNG NAM bộ - Pdf 33

TÍNH CHẤT VẬT LÝ, CƠ HỌC VÀ HƯỚNG SỬ DỤNG GỖ CỦA MỘT SỐ
LOÀI CÂY CHO TRỒNG RỪNG SẢN XUẤT VÙNG ĐÔNG NAM BỘ

Lê Thu Hiền, Đỗ Văn Bản, Nguyễn Tử Kim
Phòng Nghiên cứu Tài nguyên Thực vật rừng
Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam

TÓM TẮT
Nghiên cứu đặc tính cơ bản của gỗ trong đó bao gồm tính chất gỗ và cấu tạo gỗ là rất quan trọng bởi nó
liên quan chặt chẽ tới chế biến và sử dụng gỗ. Nghiên cứu về khoa học gỗ đã được tiến hành từ 50 năm
trước ở một số viện nghiên cứu, đặc biệt là Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam. Đề tài “Nghiên cứu cấu
tạo và tính chất cơ vật lý của một số loài gỗ và tre chủ yếu ở Việt Nam làm cơ sở cho chế biến, bảo quản và
sử dụng” đã được tiến hành từ năm 2006 có nội dung quan trọng là tổng hợp các nghiên cứu đã có về tính
chất cơ học, vật lý và cấu tạo giải phẫu của gỗ. Trong báo cáo này chúng tôi cung cấp các thông tin cơ bản
về tính chất vật lý, cơ học và định hướng sử dụng gỗ của 11 loài cây nằm trong danh lục các loài cây chủ
yếu cho trồng rừng sản xuất vùng Đông Nam Bộ.
Gỗ Bông gòn, Dó trầm, Gáo trắng, Lát mexico có khối lượng thể tích rất nhẹ (320-490 kg/m3); Hệ số co
rút thể tích nhỏ (0.31-0.38); Giới hạn bền khi nén dọc thớ và giới hạn bền khi uốn tĩnh yếu (lần lượt là 203369.5 kg/cm2 và 337-677 kg/cm2). Bông gòn và Dó trầm có sức chống tách yếu (6.28-9.8 kg/cm), hệ số uốn
va đạp trung bình (0.51-0.54); Gỗ Gáo trắng cả 2 giá trị ở mức trung bình trong khi Lát Mexico có sức chống
tách trung bình và hệ số va đập lớn. Điểm bão hòa thớ gỗ thấp (24%) ở gỗ Dó trầm, trung bình (25-27.8%)
ở gỗ Gáo trắng và gỗ Lát Mexico nhưng cao (36.9%) ở gỗ Bông gòn.
Gỗ Keo lá tràm, keo lai, Keo tai tượng, Xoan ta có khối lượng thể tích nhẹ (524-597 kg/m3); Hệ số co rút
thể tích trung bình (0.39-0.46); Giới hạn bền khi uốn tĩnh yếu (627-1013 kg/cm2); Súc chống tách trung bình
(10.5-12.7 kg/cm). Keo lai và Xoan ta có giới hạn bền khi nén dọc thớ yếu (335-417 kg/cm2). Keo lá tràm và
Keo tai tượng có giới hạn bền khi nén dọc thớ ở mức trung bình (432-462 kg/cm2). Hệ số uốn va đập nhỏ
(0.54) ở Xoan ta và cao (1.1) ở Keo lá tràm.
3

Gỗ Dầu rái, Sao đen, Xoan mộc có khối lượng thể tích trung bình (690-754 kg/m ); Điểm bão hòa thớ gỗ
thấp (18-24%); Giới hạn bền khi nén dọc và uốn tĩnh ở mức trung bình ( lần lượt là 570-740 kg/cm2 và 11452
1635 kg/cm ); Sức chống tách trung bình (16-16.6 kg/cm). Hệ số co rút thể tích trung bình (0.45-0.54) ở gỗ

1.

Bông gòn (Ceiba pentandra (L.) Gaertn)

2.

Dầu rái (Dipterocarpus alatus Roxb. ex G. Don)

3.

Dó trầm (Aquilaria crassna Pierre ex Lecomte)

4.

Gáo Trắng (Neolamrckia cadamba Booser)

5.

Keo lá tràm (Acacia auriculiformis A.Cunn.)

6.

Keo lai (Acacia mangium x Acacia auriculiformis)

7.

Keo tai tượng (Acacia mangium Willd.)

8.


Tính chất

Tính chất vật lý

Tính chất cơ học

1

Bông gòn

320

36,9

0,31

Giới hạn
bền khi
nén dọc
thớ
(kg/cm2)
203

2

Dầu rái

754

24


Gáo Trắng

460

25

0,38

372

677

14

0,73

5

Keo lá tràm

597

-

0,41

462

1.009


0,46

432

994

12,7

-

8

Lát Mexico

490

27,8

0,35

369,5

640

11,2

1,1

9


10,5

0,54

11

Xoan mộc

690

23

0,64

740

1.450

16,6

0,7

Tên gỗ

Khối
lượng thể
tích
(kg/m3)


(0,31), điểm bão hòa thớ gỗ cao (36,9%), giới hạn bền khi nén dọc thớ thấp (203 kG/cm2), giới hạn bền khi
uốn tĩnh thấp (337 kG/cm2), sức chống tách thấp (6,28 kG/cm) và hệ số uốn va đập trung bình (0,54).
Gỗ Dầu rái nặng trung bình, khối lượng thể tích ở độ ẩm 12% bằng 754kg/m3. Gỗ có hệ số co rút thể
tích trung bình (0,54), điểm bão hòa thớ gỗ thấp (24%), giới hạn bền khi nén dọc thớ trung bình (570
kG/cm2), giới hạn bền khi uốn tĩnh trung bình (1145 kg/cm 2), sức chống tách trung bình (16 kg/cm) và
hệ số uốn va đập trung bình (0,60).
3

Gỗ Dó trầm rất nhẹ, khối lượng thể tích ở độ ẩm 12% chỉ bằng 360 kg/m . Gỗ có hệ số co rút thể tích
trung bình (0,36), điểm bão hòa thớ gỗ thấp (24%), giới hạn bền khi nén dọc thớ thấp (222 kg/cm2), giới hạn
2
bền khi uốn tĩnh thấp (434 kg/cm ), sức chống tách thấp (9,8 kg/cm) và hệ số uốn va đập trung bình (0,51).
3

Gỗ Gáo trắng rất nhẹ, khối lượng thể tích ở độ ẩm 12% bằng 460 kg/m . Gỗ có hệ số co rút thể tích nhỏ
2
(0,38), điểm bão hòa thớ gỗ trung bình (25%), giới hạn bền khi nén dọc thớ thấp (372 kg/cm ), giới hạn bền
2
khi uốn tĩnh thấp (677 kg/cm , sức chống tách thấp (14 kg/cm) và hệ số uốn va đập trung bình (0,74).
Gỗ Keo lá tràm nhẹ, khối lượng thể tích ở độ ẩm 12% bằng 597 kg/m3. Gỗ của loài này có hệ số co rút
2
thể tích trung bình (0,41), giới hạn bền khi nén dọc thớ trung bình (462 kg/cm ), giới hạn bền khi uốn tĩnh
2
thấp (1.009 kg/cm ), sức chống tách trung bình (11 kg/cm), tuy nhiên hệ số uốn va đập lại lớn (1,2).
Gỗ Keo lai nhẹ, khối lượng thể tích ở độ ẩm 12% bằng 574 kg/m3. Gỗ có hệ số co rút thể tích trung bình
2
2
(0,39), giới hạn bền khi nén dọc thớ thấp (417 kg/cm ), giới hạn bền khi uốn tĩnh thuộc thấp (1.013 kg/cm )
và sức chống tách trung bình (12 kg/cm).
Gỗ Keo tai tượng nhẹ, khối lượng thể tích ở độ ẩm 12% bằng 586 kg/m3, có hệ số co rút thể tích trung

3.2. Hướng sử dụng gỗ
Gỗ Bông gòn có điểm bão hoà thớ gỗ cao và hệ số co rút thể tích nhỏ rất thuận lợi cho quá trình phơi
sấy. Gỗ rất nhẹ, mặt gỗ thô, vân gỗ không đặc biệt, gỗ có tính chất cơ học chủ yếu thấp nên không thể dùng
cho mục đích chịu lực. Trong thực tế, gỗ thường dùng để làm bao bì, làm diêm, sản xuất ván dán hoặc xẻ
ván làm vách ngăn, trần nhà. Cây gỗ có kích thước lớn nên cho nhiều gỗ. Tuy nhiên cần phải tiến hành
nghiên cứu xử lý bảo quản để nâng cao độ bền tự nhiên hoặc biến tính tăng độ bền cơ học nhằm nâng cao
giá trị sử dụng gỗ.
Gỗ Dầu rái có hệ số co rút thể tích trung bình nhưng gần với giới hạn lớn nên độ co dãn sẽ cao khi độ ẩm
có thay đổi, ảnh hưởng rất nhiều đến quá trình hong sấy. Gỗ có thể dùng trong xây dựng làm những cấu kiện
cần đến khả năng chịu nén dọc thớ, uốn tĩnh và chống tách từ trung bình đến cao. Hệ số uốn va đập của gỗ
trung bình và có thể dùng trong những cấu kiện cần chịu đựng va chạm và rung động.
Gỗ Dó trầm thuộc loại rất mềm và rất nhẹ, kém chịu lực. Do điểm bão hoà thớ gỗ trung bình, hệ số co rút
thể tích trung bình, độ hút nước cao và tốc độ hút nước nhanh nên thuận lợi cho việc xử lý bảo quản. Gỗ Dó
trầm chỉ có thể dùng để đóng đồ mộc thông thường, kém giá trị. Để nâng cao giá trị sử dụng gỗ cần nghiên
cứu xử lý bảo quản và chế biến ván nhân tạo hoặc xử lý biến tính gỗ.
Gỗ Gáo trắng có điểm bão hoà thớ gỗ trung bình, hệ số co rút thể tích nhỏ nên thuận lợi cho quá trình
hong sấy. Do gỗ rất nhẹ, mặt gỗ thô, vân gỗ không đặc biệt, khả năng chịu lực kém đến trung bình nên chỉ
có thể dùng trong xây dựng tạm thời, làm dầm, xà, ván ốp trần, guốc, đũa, ... Gỗ Gáo trắng được dùng để
sản xuất ván bóc làm ván dán. Cây gỗ có kích thước lớn nên cho nhiều gỗ. Cần tiến hành nghiên cứu biến
tính để nâng cao giá trị sử dụng gỗ.
Gỗ Keo lá tràm nhẹ, có độ bền cơ học từ thấp đến trung bình, hệ số uốn và đập lớn nên có thể dùng vào
các kết cấu chịu đựng va chạm và rung động. Cây gỗ lớn sử dụng trong xây dựng, làm đồ thủ công mỹ
nghệ, đóng đồ mộc. Cây gỗ nhỏ thường được dùng làm nguyên liệu giấy, ván dăm, ván sợi và gỗ trụ mỏ.
Gỗ Keo lai nhẹ, độ bền cơ học kém, dùng làm nguyên liệu giấy, ván ghép thanh, ván dăm, ván sợi và gỗ
trụ mỏ. Cây gỗ lớn có thể xẻ để đóng đồ mộc.
Gỗ Keo tai tượng nhẹ, độ bền cơ học từ thấp đến trung bình. Gỗ lớn dùng trong xây dựng, đóng đồ mộc.
Gỗ nhỏ dùng làm nguyên liệu giấy, ván ghép thanh, ván dăm, ván sợi và gỗ trụ mỏ.
Gỗ Lát Mexico rất nhẹ, có điểm bão hoà và hệ số co rút trung bình nên thích hợp để sản xuất ván lạng,
bóc dán, ván ghép thanh, ván dăm. Gỗ có khả năng chịu lực thấp, kém dẻo dai nên chỉ có thể sử dụng trong
sản xuất đồ mộc thông dụng, trong xây dựng. Hệ số uốn va đập lớn có thể dùng trong những cấu kiện cần

còn 5 loài: Tếch (Tectona grandis L), Xà cừ (Khaya senegalensis (Desr) A.Fuss), Thông caribê (Pinus
caribaea Morelet), Keo lưỡi liềm (Acacia crassicarpa A.Cunn. ex Benth) và Bạch đàn caman (Eucalyptus
camaldulensis Dehanh) cần phải được nghiên cứu bổ sung về đặc tính gỗ để hoàn chỉnh cơ sở dữ liệu về
cây trồng rừng cho vùng sinh thái này.
TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH
Đỗ Văn Bản, 2002. Xác định một số tính chất vật lý, cơ học và khả năng sử dụng gỗ Lát Mêhicô. Báo
Cáo tổng kết đề tài. Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam.
Nguyễn Văn Chương, 2008. Tổng kết đánh giá những nghiên cứu về tính chất vật lý, cơ học và giải phẫu
gỗ tại Trường ĐHLN Xuân Mai. Tham luận tại Hội thảo Viện KH Lâm nghiệp Việt Nam.
Nguyễn Đình Hưng, Lê Thu Hiền, 2008. Nhìn lại những vấn đề nghiên cứu cơ bản về đặc tính gỗ từ 1961
– 2000 tại Viện KHLN VN. Tham luận tại Hội thảo Viện KH Lâm nghiệp Việt Nam.
Nguyễn Đình Hưng, Lê Thu Hiền, Nguyễn Xuân Quát, 2008. Các loại gỗ thông dụng ở Việt Nam. Nhà
xuất bản Nông nghiệp.
Lê Thu Hiền và các cộng tác viên, 2008. Tổng quát nghiên cứu cấu tạo giải phẫu, tính chất vật lý và cơ
học gỗ Việt Nam 1960-2007. Tham luận tại Hội thảo Viện KH Lâm nghiệp Việt Nam.
Lê Thu Hiền và các cộng tác viên, 2008. Báo cáo sơ kết đề tài Nghiên cứu tính chất cơ vật lý và giải phẫu
của một số loài gỗ và tre thông dụng ở Việt Nam làm cơ sở cho chế biến, bảo quản và sử dụng. Viện KH
Lâm nghiệp Việt Nam.
Hoàng Thanh Hương, 2008. Tổng kết đánh giá những nghiên cứu về tính chất vật lý, cơ học và giải phẩu
gỗ tại Trường ĐHNL TP HCM. Tham luận tại Hội thảo Viện KH Lâm nghiệp Việt Nam.
PHYSICAL AND MECHANICAL CHARACTERISTICS AND USES OF SOME PRODUCTION FOREST
SPECIES IN SOUTHEASTERN VIETNAM

Le Thu Hien, Do Van Ban, Nguyen Tu Kim
Forest Science Institute of Vietnam

SUMMARY
The study of wood features including wood properties and wood anatomy is very important because it is
related to wood processing and wood utilization. Studies on wood sciences have been carried out for 50
years in some institutes and at the Forest Science Institute of Vietnam in particular. This project titled “The

moderate (0.6-0.7) in Dipterocarpus alatus and Toona surenii but was high (1.08) in Hopea odorata.
Keywords: Wood, wood characteristics

411




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status