ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆDI ĐỘNG VÀO THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ

Đào Quốc Trung

ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ DI ĐỘNG VÀO
THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CHÍNH QUY
Ngành: Tin học
Cán bộ hướng dẫn: Thạc Sỹ Nguyễn Cảnh Hoàng
HÀ NỘI - 2005

Khoá luận tốt nghiệp - Ứng dụng công nghệ di động vào thương mại điện tử Ngô Văn Thứ, Đào Quốc Trung, K46, Trường Đại học Công nghệ. ĐHQG Hà Nội Trang 2
TÓM TẮT NỘI DUNG

Trong khóa luận này, chúng tôi sẽ trình bày về việc ứng dụng công nghệ di
động vào thương mại điện tử.
Phần đầu của khoá luận là tổng quan về công nghệ di động, các khái niệm cơ
bản trong lĩnh vực điện toán di động số (mobile computing) và nghiên cứu sơ qua một
số công nghệ di động phổ biến như GSM, CDMA, WireLess...Đặc biệt SMS, một
phương tiện sẽ được dùng để xây dự
ng ứng dụng thử nghiệm cho khoá luận sẽ được
nghiên cứu chi tiết hơn.
Phần tiếp theo của khoá luận dành để trình bày về các khái niệm cơ bản của
thương mại điện tử, một số mô hình thương mại điện tử và tình hình thương mại điện
tử ở Việt Nam. Cũng trong phần này, chúng tôi dành nhiều thời gian để nghiên cứu về
các khái niệm, cấ
u trúc và nguyên lí của một mô hình thương mại điện tử cho các thiết
bị di động (mobile commerce), đưa ra một số ứng dụng điển hình của mobile
commerce đối với các lĩnh vực trong cuộc sống.
Phần thứ ba của khoá luận dành để trình bày về ứng dụng thử nghiệm, về cơ
chế thanh toán trong giải pháp ví điện tử trong thương mại địên tử sử dụng SMS.
Khoá luận tốt nghiệp - Ứng dụng công nghệ di động vào thương mại điện tử Ngô Văn Thứ, Đào Quốc Trung, K46, Trường Đại học Công nghệ. ĐHQG Hà Nội Trang 4
2.3. Việt Nam với e-Commerce và m-Commerce .................................................54
2.3.1 Hiện trạng .................................................................................................54
2.3.2 Đánh giá....................................................................................................56
CHƯƠNG III. XÂY DỰNG ỨNG DỤNG THỬ
NGHIỆM VỀ VÍ ĐIỆN TỬ HOẠT
ĐỘNG DỰA TRÊN TIN NHẮN SMS ....................................................................................57
3.1. Ví điện tử ........................................................................................................58
Khoá luận tốt nghiệp - Ứng dụng công nghệ di động vào thương mại điện tử Ngô Văn Thứ, Đào Quốc Trung, K46, Trường Đại học Công nghệ. ĐHQG Hà Nội Trang 5
3.1.1. Khái niệm ví điện tử ...............................................................................58
3.1.2. Tại sao phải dùng ví điện tử ....................................................................59
3.2. Thử nghiệm hệ thống thanh toán qua SMS.....................................................61
3.2.1. Các yêu cầu và mục đích cần đạt được....................................................61
3.2.2. Phân tích và thiết kế hệ thống..................................................................61
Chương IV. TRIỂN KHAI ỨNG DỤNG THỬ NGHIỆM ........................................78
4.1. Giải pháp SelabSMS Server ..........................................................................78
4.2. Cài đặt ứng dụng thử nghiệm..........................................................................80
4.3. Kết quả thử nghiệm.........................................................................................81
KẾT LUẬN ................................................................................................................82
5.1. Đánh giá kết quả của khoá luận ......................................................................82
5.2. Định hướng tương lai......................................................................................82
Tài liệu tham khảo......................................................................................................84
Khoá luận tốt nghiệp - Ứng dụng công nghệ di động vào thương mại điện tử

MỞ ĐẦU
Trong vài năm gần đây, sự phát triển nhanh của công nghệ di động đã tạo ra
những thay đổi lớn trong nhiều lĩnh vực quan trọng như thương mại, giáo dục, y tế,
giao thông, công nghiệp giải trí...
Năm 2004, Việt Nam đã tiêu thụ 1,6 triệu máy điện thoại di động, tăng 50% so
với năm 2003 ( Theo dự báo của các chuyên gia
công nghệ và tập đoàn nghiên cứu thị trường GFK (www.gfk.com), năm 2005 doanh
số đi
ện thoại di động trên thị trường Việt Nam tiếp tục tăng với dự tính khoảng 2,4
triệu chiếc sẽ được bán. Trong khi đó, các nhà sản xuất không ngừng đưa ra những sản
phẩm mới được tích hợp các tính năng và công nghệ hiện đại nhất với mức giá hợp lí
góp phần tạo nên sự tăng trưởng chung của thị trường di động Việt Nam. Chính phủ và
bộ bưu chính viễ
n thông (VNPT) đã đưa ra cơ chế đổi mới cùng với chủ trương xây
dựng một thị trường di động sôi động, có sự cạnh tranh lành mạnh giữa những nhà
cung cấp dịch vụ, đem lại lợi ích thật sự cho người sử dụng. Nhờ vậy, sự xuất hiện của
các nhà cung cấp dịch vụ mới như S-Fone, CityPhone, Viettel và sắp tới là VP
Telecom và Ha Noi Telecom sẽ làm cho thị trường di động n
ước nhà ngày càng khởi
sắc.
Tại khu vực Châu Á Thái Bình Dương, công nghệ di động đã trở nên phổ
biến. Trên 164 triệu chiếc điện thoại cầm tay đã được bán trong năm 2004 (chưa tính
số lượng tiêu thụ tại Nhật Bản, một cường quốc công nghệ của thế giới). Đây là một
con số ấn tượng thể hiện tiềm năng phát triển của ngành điện toán di
động trong tương
lai.

khía cạnh liên quan tới các xu thế, nguyên lí, cấu trúc của mô hình thương mại điện tử
dựa trên thiết bị di động. Khoá luận sẽ không nghiên cứu chi ti
ết các công nghệ liên
quan khác của thương mại điện tử dựa trên thiết bị di động như: bảo mật, ngân hàng,
thanh toán, công nghệ tác tử di động (mobile agent)...
Khoá luận bao gồm 4 chương
Chương I: Tổng quan về các công nghệ di động phổ biến nhất, các yếu tố cấu
thành một hệ thống thương mại điện tử nói chung và thương mại điện tử cho thiết bị di
độ
ng (mobile commerce) nói riêng.
Do khoá luận định huớng đến việc xây dựng một ứng dụng thanh toán thông
qua thiết bị di động, có sử dụng tin nhắn SMS làm cơ chế điều khiển ví điện tử nên
trong chương này chúng tôi cũng sẽ tập trung vào nghiên cứu sâu về SMS.
Chương II: Các vấn đề chung về thương mại điện tử và thương mại điện tử
dựa trên các hệ thống di động (mobile commerce) và các
ứng dụng của nó. Chương
này sẽ giới thiệu chi tiết về thương mại điện tử nói chung và đi sâu vào nghiên cứu mô
hình thương mại điện tử dựa trên thiết bị di động, đồng thời đưa ra cấu trúc chi tiết của
mô hình này.
Cuối cùng, chúng tôi tập trung trình bày về các vấn đề liên quan tới thanh toán
và các nguy cơ an ninh có thể ảnh hưởng tới hệ thống thương mại điện t
ử nhằm tìm ra
giải pháp thanh toán hợp lí cho các giao thương trong thương mại điện tử.
Khoá luận tốt nghiệp - Ứng dụng công nghệ di động vào thương mại điện tử Ngô Văn Thứ, Đào Quốc Trung, K46, Trường Đại học Công nghệ. ĐHQG Hà Nội Trang 9

tiên (Motorola Dyna) được giới thiệu tại New York vào năm 1973. Trong vòng 30
năm qua, thế giới đã chứng kiến sự phát triển vượt bậc của ngành công nghệ di động
số. Điện thoại di động ngày càng trở nên cần thiết và tiện lợi. Ở những nướ
c phát triển,
hầu hết người dân đều sở hữu ít nhất một thiết bị di động.
Khoá luận tốt nghiệp - Ứng dụng công nghệ di động vào thương mại điện tử Ngô Văn Thứ, Đào Quốc Trung, K46, Trường Đại học Công nghệ. ĐHQG Hà Nội Trang 10
Với sự bùng nổ của công nghệ số, ngày nay điện thoại di động đã được tích
hợp rất nhiều tính năng số hiện đại như khả năng chụp ảnh số, chức năng đa phương
tiện, khả năng kết nối không dây băng thông rộng...Chưa kể tới những dòng thiêt bị hỗ
trợ cá nhân (PDA) có gắn chức năng điện thoạ
i với hệ điều hành và phần mềm kèm
theo không thua kém so với máy tính sách tay. Bên cạnh đó, điện thoại thế hệ thứ 3
(3G) cũng đang là niềm mơ ước của những người ham mê khám phá công nghệ mới.
Ngày 16/03/1993 bộ bưu chính viễn thông (VNPT) đã thành lập công ty VMS
Mobifone (công ty viễn thông cung cấp dịch vụ di động đầu tiên của Việt Nam) nhằm
cung cấp dịch vụ di động 090 theo chuẩn công nghệ GSM ở tần số
900KHz. Chỉ sau
12 năm, thị trường di động Việt Nam đã có sự tham gia của rất nhiều nhà sản xuất thiết
bị di động nổi tiếng thế giới, những nhà cung cấp giải pháp công nghệ và dịch vụ có
kinh nghiệm từ Châu Âu, cùng với sự ra đời của một số nhà cung cấp dịch vụ di động
trong và ngoài VNPT. Hơn 3,3 triệu thuê bao di động tính đến tháng 12 năm 2004 và
tỷ lệ tăng trưởng trên 50% mỗ
i năm sẽ làm cho điện thoại di động phổ cập hơn cả điện
thoại cố định. Không những thế, số thuê bao di động cũng lớn hơn nhiều lần so với số

nhà sản xuất. Bảng dưới đây sẽ chỉ rõ những thiết bị phổ biến nhất với những tính
năng cơ bản.
Bảng 1: Chi tiết một số thiết bị di động phổ biến
Thiết bị Hệ ĐH Bộ xử lí RAM Nhập liệu Tính năng
Compaq iPAQ
H3870
MS
Pocket PC
2002
206 MHz Intel
StrongARM 32-
bit RISC
64 MB/32
MB
Touchscreen Wireless E-
mail/Internet
Handspring
Treo 300
Palm OS
3.5.2H
33 MHz Motorola
Dragonball VZ
16 MB/8 MB Keyboard/
Stylus
CDMA
network
Motorola
Accompli 009
Wisdom
OS 5.0

Multimedia
Toshiba E740 MS
Pocket PC
2002
400 MHz Intel
PXA250
64 MB/32
MB
Stylus/Touchsc
reen
Wireless
Internet
1.1.1 .2. Hệ điều hành
Mặc dù thị trường thiết bị di động rất đa dạng, nhưng hệ điều hành, thành
phần quan trọng nhất để điều khiển mọi hoạt động của một thiết bị cầm tay lại chỉ
được đề cập với 3 dòng sản phẩm nổi bật Palm OS, Pocket PC, và Symbian OS
("Mobile Computing", 2002). Gần đây, với sự đầu tư mạnh của Microsoft, hệ điều
hành ‘Microsoft Windows Mobile 2003 Second Edition’ và công nghệ .NET kèm theo
đã tạo nên một cuộc cách mạng thực sự khiến các thiết bị cầm tay ngày càng giống
một máy tính thực thụ.
Khoá luận tốt nghiệp - Ứng dụng công nghệ di động vào thương mại điện tử Ngô Văn Thứ, Đào Quốc Trung, K46, Trường Đại học Công nghệ. ĐHQG Hà Nội Trang 12
Palm OS
Palm OS là hệ điều hành cho máy Palm, xuất hiện khá sớm với rất nhiều ưu
điểm như thời lượng dùng pin dài, hỗ trợ nhiều chuẩn công nghệ không dây, có nhiều

được nhúng trong nhiều thiết bị di động số; EPOC32 là phiên bản 32 bit hỗ trợ đa tác
vụ. Vào giữa năm 1998, Psion hợp tác với Ericsson, Nokia, và Motorola để thành lập
một liên doanh nhằm phát triển sản phẩm với tên Symbian OS
Khoá luận tốt nghiệp - Ứng dụng công nghệ di động vào thương mại điện tử Ngô Văn Thứ, Đào Quốc Trung, K46, Trường Đại học Công nghệ. ĐHQG Hà Nội Trang 13
( một hệ điều hành mới cho các thiết bị cầm tay. Không
giống Windows CE, liên doanh phát triển Symbian OS với mục đích ngay từ đâu tạo
ra một hệ điều hành cho thiết bị cầm tay có đầy đủ chức năng mạnh mẽ. Những chức
năng chính của OS này bao gồm: tích hợp công nghệ di động đa luồng, đa chức năng,
tạo một môi trường ứng dụng mở,
đa tác vụ và đồng bộ hoá dữ liệu
1.1.2. GSM
GSM bắt đầu được nghiên cứu tại châu Âu từ đầu những năm 80 của thế kỷ
trước. Vào giữa năm 1991, chuẩn công nghệ di động GSM (Global System for Mobile
communications) chính thức được đưa vào sử dụng tại thị trường châu Âu. Sau hai
năm hoạt động, đã có 36 mạng GSM thuộc 22 quốc gia được xây dựng. Và cho tới
tháng 10 năm 1997, đã có trên 50 triệu thuê bao GSM. Cho tới nay, GSM không còn là
chuẩn công nghệ di động của riêng châu Âu nữa, nó đã được sử
dụng rộng rãi trên hầu
hết các quốc gia trên thế giới. Con số thuê bao GSM đã đạt tới mức đáng kinh ngạc,
lớn hơn gấp nhiều lần thuê bao của các mạng với chuẩn khác như CDMA, HBP...
GSM hoạt động ở hai dải sóng cao tần 900MHz và 1800MHz (Mạng
VinaPhone, MobiFone của Việt Nam sử dụng giải tần 900MHz)
Sử dụng chuẩn ITU-T , truyền thông trong GSM được tách biệt thành các gói
dịch vụ truyền tải riêng rẽ, d

một cách tiếp cận khác.
1.1.3. CDMA
Hình 1: Cấu trúc của một hệ thống GSM
Khoá luận tốt nghiệp - Ứng dụng công nghệ di động vào thương mại điện tử Ngô Văn Thứ, Đào Quốc Trung, K46, Trường Đại học Công nghệ. ĐHQG Hà Nội Trang 15
Công nghệ CDMA (Code Division Multiple Access) đã ra đời như một lựa
chọn thay thế cho kiến trúc tế bào GSM và góp phần vào sự tăng trưởng bùng nổ trên
thị trường công nghệ không dây trong thập kỷ qua. CDMA, như GSM, đã đưa ra
những cải tiến không ngừng trong suốt thời kỳ này. Hiện cả hai mạng đang trong quá
trình chuyển giao sang các hệ thống thế hệ 3G trên toàn cầu, cho phép tăng băng thông
và các dịch vụ dữ liệu. Tuy không phổ cậ
p bằng GSM nhưng công nghệ CDMA
(spread-spectrum) cũng đã chứng tỏ tính ưu việt của mình bằng những thị phần khá
lớn tại Mỹ, Châu Á đặc biệt là Hàn Quốc.
CDMSOne hỗ trợ chuẩn truyền thông di động 2G đã bị quên lãng. Chuẩn
CDMA IS-95 của TIA/EIA (công bố vào tháng 7/1993) thiết lập những nguyên tắc nền
tảng cho hệ thống truyền thông không dây số đầu cuối. Kiến trúc hệ thống mạng
thương m
ại dựa trên chuẩn này được biết với tên CDMA One. IS-95 của TIA/EIA và
phiên bản có sửa đổi tiếp theo IS-95A (công bố vào tháng 3/1995) tạo ra cơ sở cho
phần lớn các mạng trên nền tảng CDMA 2G được triển khai trên toàn thế giới. Cơ sở
hạ tầng CDMA 2G lúc đầu đã chứng tỏ tính hiệu quả trong việc chuyển giao với chất
lượng cao, lưu lượng thoại mất mát thấp. Tuy vậy, nó cũng không tồn tại đượ
c lâu do
người dùng di động bắt đầu có những nhu cầu về các dịch vụ dữ liệu cơ bản như các

động.
CDMA2000 1xEV bao gồm hai biến thể, cả hai đều tương thích ngược với các
công nghệ CDMA2000 1X và CDMAOne.
CDMA2000 1xEV-DO (Data Only - chỉ dữ
liệu) có khả năng phân bổ các dịch
vụ dữ liệu đa phương tiện như truyền MP3, hội nghị truyền hình với tốc độ dữ liệu tối
đa là 2.4 Mbit/s cho mỗi thuê bao trong môi trường di động.
CDMA2000 1xEV-DV (Data Voice - dữ liệu và thoại) cung cấp các dịch vụ
dữ liệu đa phương tiện và thoại tích hợp đồng thời với tốc độ dữ liệu tối đa là 3.09
Mbit/s cho m
ỗi thuê bao.
Một cấu trúc mạng được thiết kế cho truyền thông gói hoá.
Hình minh hoạ một mạng CDMA2000 1X đơn giản hoá, cho thấy cả hai cấu
trúc điện thoại (ANSI-41, xem viết tắt cuối bài) và dữ liệu. Hình 2. Sơ đồ kiến trúc của hệ thống CDMA.

Trạm di động (MS - Mobile Station)
Khoá luận tốt nghiệp - Ứng dụng công nghệ di động vào thương mại điện tử Ngô Văn Thứ, Đào Quốc Trung, K46, Trường Đại học Công nghệ. ĐHQG Hà Nội Trang 17
Trong một mạng CDMA2000 1X, trạm di động MS - chính là máy thu phát
của thuê bao hay thiết bị di động mạng CDMA - hoạt động như một client IP di động .
Trạm di động tương tác với Access Network (mạng truy nhập) nhằm giành lấy
các tài nguyên vô tuyến thích hợp để trao đổi các gói tin và giám sát trạng thái tài

động và PDSN (Packet Data Serving Node). Việc chỉ định địa chỉ IP cho mỗi thiết
bị di động có thể được cung cấp bởi PDSN hoặc một máy phục vụ DHCP (Dynamic
Host Configuration Protocol) qua một HA (Home Agent). RAN (Mạng truy nhập vô
Khoá luận tốt nghiệp - Ứng dụng công nghệ di động vào thương mại điện tử Ngô Văn Thứ, Đào Quốc Trung, K46, Trường Đại học Công nghệ. ĐHQG Hà Nội Trang 18
tuyến: Radio Access Network) là điểm vào của thuê bao di động cho truyền thông dữ
liệu hay thoại bao gồm: liên kết không gian (air link) Tháp/ăngten vị trí ô phủ sóng
(cell) và kết nối cáp tới BTS (Um) BTS (Base Station Transceiver Subsystem) Đường
truyền thông từ BTS tới BSC (Abis) BSC (Base Station Controller) PCF (Packet
Control Function). Đặc biệt, RAN có một số trách nhiệm tác động đến việc cung cấp
dịch vụ gói tin của mạng. RAN phải ánh xạ đến danh tính client di động tham chiếu
đến một danh tính lớp liên kết duy nhất được sử dụng
để liên lạc với PDSN, xác nhận
tính hợp lệ trạm di động cho dịch vụ truy nhập và duy trì các liên kết truyền đã thiết
lập.
BTS (Base Station Transceiver Subsystem) điều khiển hoạt động của liên kết
không gian (air link) và có chức năng giao diện giữa mạng và thiết bị di động. Các tài
nguyên RF như sự ấn định tần số, phân chia khu vực và điều khiển nguồn truyền được
quản lý bởi BTS. Ngoài ra, BTS còn quản lý l
ưu lượng về từ vị trí ô phủ sóng đến
BSC (Base Station Controller) để giảm thiểu bất cứ thời gian trễ nào giữa hai thành
phần này. Thông thường một BTS kết nối đến BSC thông qua các phương tiện không
phân kênh (un-channelized) T1 hay trực tiếp đi cáp trong thiết bị cùng vị trí. Các giao
thức được sử dụng bên trong phương tiện này giữ độc quyền dựa trên nền tảng HDLC
(High-level Data Link Control).

nghệ WCDMA là thế hệ di động thứ 3 (3G). Dịch vụ số liệu truyền thống của mạng
GSM chỉ có tốc độ tối đa là 9.6 kbps (kilobit/giây), trong khi đối với hệ thống 3G tốc
độ
tối đa lên đến 2 Mbps (2048 kbps). Để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của khách
hàng trong việc sử dụng các dịch vụ giá trị gia tăng, và cũng là một bước chuyển tiếp
trên con đường tiến đến thế hệ 3G, công nghệ GPRS đã ra đời. Vì vậy công nghệ
GPRS còn được gọi là công nghệ thế hệ 2.5 (2.5G).
GPRS (General Packet Radio Services - dịch vụ vô tuyến gói chung) được
xem như là một dịch vụ mới của mạng thông tin di độ
ng GSM, nó dùng công nghệ
chuyển mạch gói để truy cập đến các mạng số liệu bên ngoài (như mạng LAN, mạng
Internet, ...) bằng giao thức IP (Internet Protocol) với tốc độ cao. Tốc độ tối đa theo lý
thuyết có thể lên đến 171.2 kbps khi sử dụng tối đa 8 kênh lưu lượng không sửa lỗi
cho mỗi thuê bao, gấp 3 lần tốc độ truyền số liệu qua modem trên mạng điện thoại cố
định và gần 20 lần so v
ới dịch vụ số liệu của mạng GSM. Để đạt đến tốc độ cao cần
phải có sự hỗ trợ từ hai phía, cả hệ thống mạng và máy đầu cuối GPRS.
Nói một cách khác, GPRS là một phương thức truyền số liệu mới cho mạng di
động GSM, ngoài phương thức truyền thống là quay số dịch vụ data. Nó cho phép thuê
bao của mạng GSM tiếp cận các dịch vụ giá trị gia tăng có yêu c
ầu đường truyền số
liệu tốc độ cao với một chi phí tiết kiệm nhất. Các dịch vụ đó bao gồm: WAP, dịch vụ
tin nhắn đa phương tiện MMS (Multimedia Messaging Service), truy cập Internet, xem
video, ...
Có thể kể ra một số ưu điểm của dịch vụ GPRS đối với khách hàng như sau:
- Tốc độ truy cập số liệu cao hơn, thời gian kết nối nhanh hơn.Người sử d
ụng
GPRS được lợi từ việc thời gian truy nhập ngắn hơn cũng như tốc độ truyền số liệu
cao hơn. Đối với dịch vụ data truyền thống, thông thường việc thiết lập kết nối diễn ra
trong khoảng 30 giây (tương đương với thời gian thiết lập cuộc gọi thoại) và tốc độ

GPRS là bước phát triển kịp thời đáp ứng nhu cầu trao đổi dữ liệu ngày càng
cao và là sự chuyển tiếp hợp lý giữa thông tin di động thế hệ thứ 2 GSM và thông tin
di động thế hệ thứ 3 UMTS.
Để sử dụng được GPRS và các d
ịch vụ cộng thêm, thuê bao phải có máy đầu
cuối hỗ trợ GPRS, và phải hỗ trợ các dịch vụ cộng thêm đó (như WAP, MMS, hoặc
video). Ngoài ra thuê bao phải đăng ký sử dụng dịch vụ data, WAP, GPRS tại các bưu
điện tỉnh, thành phố.
Máy đầu cuối hỗ trợ GPRS được chia làm 3 loại sau:
- Class A: thuê bao có thể đăng nhập vào cả 2 dịch vụ GSM và GPRS, và có
thể sử dụng cả 2 dịch vụ
đó đồng thời (vừa đàm thoại vừa truyền số liệu).
- Class B: thuê bao có thể đăng nhập vào cả 2 dịch vụ GSM và GPRS, nhưng
tại mỗi thời điểm chỉ có thể sử dụng 1 dịch vụ mà thôi.
- Class C: thuê bao chỉ có thể đăng nhập vào 1 trong 2 dịch vụ GSM hoặc
GPRS.
Khoá luận tốt nghiệp - Ứng dụng công nghệ di động vào thương mại điện tử Ngô Văn Thứ, Đào Quốc Trung, K46, Trường Đại học Công nghệ. ĐHQG Hà Nội Trang 21
Hiện nay đa số các máy đầu cuối GPRS được bán trên thị trường Việt nam là
loại Class B.
Ngoài ra, máy đầu cuối GPRS còn được phân loại tuỳ theo tốc độ truy cập tối
đa, có hỗ trợ MMS hay không, có tích hợp trình duyệt web hay không, có hỗ trợ xem
video hay không, v.v...
1.1.5. Phần mềm trung gian
Thuật ngữ middleware diễn tả một lớp phần mềm trung gian giữa hệ điều hành

sử dụng
WAP
Khoá luận tốt nghiệp - Ứng dụng công nghệ di động vào thương mại điện tử Ngô Văn Thứ, Đào Quốc Trung, K46, Trường Đại học Công nghệ. ĐHQG Hà Nội Trang 22
WAP () là một chuẩn giao thức mở, phổ biến, cho
phép người dùng thiết bị di động số có thể dễ dàng tương tác với các thông tin và dịch
vụ tức thời. WAP rất mềm dẻo và là chuẩn giao thức cơ bản trên hầu hết các mạng di
động sử dụng công nghệ CDPD, CDMA, GSM, PDC, PHS, TDMA, FLEX, ReFLEX,
iDEN, TETRA, DECT, DataTAC, Mobitex, và GRPS. Hầu hết các hệ điều hành cho
thiết bị cầm tay đều hỗ trợ WAP, bao gồm Palm OS, EPOC, Windows CE, FLEXOS,
OS/9, và JavaOS. Công nghệ quan trọng nh
ất tạo nên WAP chính là WAP Gateway,
bằng việc biên dịch yêu cầu từ ngăn xếp giao thức WAP tới ngăn xếp WWW, từ đó
các yêu cầu sẽ được cung cấp cho web Servers. Ví dụ, yêu cầu từ thiết bị cầm tay được
gửi theo một URL thông qua mạng tới WAP Gateway; Đáp ứng được gửi từ trình
duyệt tới WAP Gateway ở dạng HTML và tại đây nó được biên dịch sang chuẩn
WML rồi gửi trả về
cho thiết bị cầm tay. Cần nói thêm, WML (Wireless Markup
Language) là một ngôn ngữ chuẩn có thể hiển thị nội dung dữ liệu trên trình duyệt thu
gọn (microbrowser), nó được xây dựng dựa trên ngôn ngữ XML và đã được điều chỉnh
để phù hợp với những nội dung, giao diện đặc biệt của thiết bị cầm tay. Do vậy, WAP
có thể hỗ trợ HTML, XML, và thậm chí cả WMLScript (giống như JavaScript nhưng
đã được rút gọn để
phù hợp với điều kiện xử lí của thiết bị cầm tay)
i-Mode

inh tuyến, đó là Home Agent (HA) và Foreign Agent (FA),
được định nghĩa để hỗ trợ định tuyến khi các trạm (mobile node ) xa mạng trung tâm.
Tất cả các gói tin dự trù cho mobile node đều bị chặn bởi HA để dò tìm FA. FA sau đó
nhận mang các gói tin đó tới mobile node đích thông qua cơ sở địa chỉ đã được thiết
lập khi mobile node đích đựơc gắn với FA.
TCP cho mạng di động
Transmission Control Protocol (TCP) được thiết kế như một giao thức truyền
tin đ
áng tin cậy trong một môi trường mạng máy tính. Nó có các thông số để đảm bảo
có thể dò đường trong một môi trường mạng cụ thể. Khi giao thức TCP được áp dụng
trực tiếp vào mạng di động, một số lỗi quan trọng đã phát sinh và tính kém hiệu quả
thể hiện rõ ràng. Để khắc phục vấn đề này và đưa TCP trở thành một giao thức đáng
tin cậy trong các mạng di động, người ta đã bổ xung một s
ố thông số mới cho TCP
dùng các trong mạng di động.
1.1.6. Các mạng không dây
Cơ sở hạ tầng và dịch vụ mạng cung cấp các tài nguyên truyền thông có bản
chất âm thanh và dữ liệu tới cho khách hàng. Trong quá trình phát triển từ thương mại
điện tử (Electronic Commerce: EC) lên thương mại điện tử dựa trên thiết bị di động
(Mobile Commerce: MC), chúng ta phải nhờ tới vai trò quan trọng của các cơ sở hạ
tầng mạng cũ (wired network), ví dụ mạng Internet sẽ được gia cố thêm với mạng
không dây h
ỗ trợ khả năng truy cập di động của người dùng cuối. Công nghệ mạng
không dây đang có những bước tiến dài và ta có thể hình dung chúng theo nhiều góc
nhìn khác nhau, có thể qua các vùng địa lí khác nhau, qua các thế hệ công nghệ như
1G, 2G, 3G, hoặc qua tầm ảnh hưởng của giải pháp công nghệ đó tới nền công nghệ di
động nói chung. Tuy nhiên, trong mục này, chúng tôi trình bày mạng di động ở quy
Khoá luận tốt nghiệp - Ứng dụng công nghệ di động vào thương mại điện tử
tiện trong các văn phòng, cửa hàng và gia đình. Với những nhu cầu chuyên nghiệp đòi
hỏi băng thông cao hơn, chuẩn 802.11a/g sẽ là những chuẩn phù hợp và tương lai sẽ
dành cho chúng.
1.1.6.2. Mạng không dây khu vực
Công nghệ quan trọng nhất của hệ thống này là các tế bào mạng không dây.
Hệ thống tế bào hướng người dùng có thể định hướng cho các điều khiển thương mại
điện tử dựa trên thiết bị di động hướng tới các tế bào đích nằm trong điện thoại của
Khoá luận tốt nghiệp - Ứng dụng công nghệ di động vào thương mại điện tử Ngô Văn Thứ, Đào Quốc Trung, K46, Trường Đại học Công nghệ. ĐHQG Hà Nội Trang 25
người dùng. Tương tự như thế, các tế bào từ thiết bị của người dùng cuối kết nối trực
tiếp với một trạm gần nhất, tại đó hoạt động truyền thông sẽ được chuyển tiếp tới đích
thông qua các mạng truy cập dùng sóng radio (radio access network : RAN) và một số
mạng cố định khác. Ban đầu chỉ được thiết kế để truyền tín hiệu giọng nói, các h

thống tế bào tiến hoá từ mạng tín hiệu tương tự qua mạng tín hiệu số, rồi tới mạng
chuyển mạch, chuyển gói, từ đó đã có đủ điều kiện để xây dựng dịch vụ cho các ứng
dụng dịch vụ thương mại điện tử dựa trên thiết bị di động.
Bảng dưới cho ta một tổng kết về các thế
hệ tế bào mạng di động không dây
co bản. Như đã nói tới trước đây, lịch sử phát triển của công nghệ mạng di động được
chia làm 3 thế hệ, các đặc điểm cơ bản về mặt kỹ thuật của các thế hệ được trình bày
tóm tắt trong bảng. Có một điểm đặc biệt, bảng có đưa ra một thế hệ chuyển tiếp giữa
2G và 3G
đó là 2.5G. Với những yêu cầu cao về băng thông cho các ứng dụng đa
phương tiện, thế hệ điện thoại với chuẩn công nghệ 3G chắc chắn sẽ mang lại cho


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status