triển vọng kinh tế xã hội của năng lượng xanh - Pdf 33

TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA SƢ PHẠM
BỘ MÔN SƢ PHẠM VẬT LÝ

TRIỂN VỌNG KINH TẾ XÃ HỘI CỦA NĂNG LƢỢNG XANH
Luận văn tốt nghiệp
Ngành: SƢ PHẠM VẬT LÝ - TIN HỌC

Giáo viên hƣớng dẫn:

Sinh viên thực hiện:

Ths.GVC.Hoàng Xuân Dinh

Nguyễn Xuân Phƣơng
Mã số SV: 1117559
Lớp: Sƣ phạm Lý - Tin
Khóa: 37

Cần Thơ, năm 2014


Luận văn tốt nghiệp TRIỂN VỌNG KINH TẾ XÃ HỘI CỦA NĂNG LƯỢNG XANH
MỤC LỤC
Phần MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài.............................................................................................................. 1
2. Mục đích của đề tài .......................................................................................................... 1
3. Giới hạn của đề tài ........................................................................................................... 1
4. Phương pháp và phương tiện thực hiện ........................................................................... 1
5. Các bước thực hiện .......................................................................................................... 1
Phần NỘI DUNG ................................................................................................................. 2

3.1.2. Năng lượng xanh ở Trung Quốc .............................................................................. 22
3.1.3. Năng lượng xanh ở Nhật Bản .................................................................................. 23
SVTH: Nguyễn Xuân Phương

GVHD: ThS. GVC. Hoàng Xuân Dinh
i


Luận văn tốt nghiệp TRIỂN VỌNG KINH TẾ XÃ HỘI CỦA NĂNG LƯỢNG XANH
3.2. Năng lượng xanh ở châu Âu ....................................................................................... 24
3.2.1. Cách mạng năng lượng xanh của châu Âu .............................................................. 24
3.2.2. Một số công trình năng lượng xanh ở châu Âu ....................................................... 24
3.2.3. Nước Đức đi đầu về năng lượng xanh ..................................................................... 26
3.3. Năng lượng xanh ở một số nước châu Mỹ ................................................................. 29
3.3.1. Năng lượng xanh ở Mỹ ............................................................................................ 29
3.3.2. Năng lượng xanh ở Canada ..................................................................................... 31
3.4. Năng lượng xanh ở châu Phi....................................................................................... 31
Chương 4: SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG HIỆU QUẢ, MỘT HƯỚNG TIẾP CẬN CỦA
NĂNG LƯỢNG XANH .................................................................................................... 33
4.1. Các khái niệm liên quan .............................................................................................. 33
4.2. IEA và tiết kiệm năng lượng toàn cầu ........................................................................ 33
4.3. Hiệu quả năng lượng áp dụng cho tòa nhà ................................................................. 34
4.4. Sử dụng năng lượng hiệu quả ..................................................................................... 34
4.4.1. Sử dụng năng lượng hiệu quả trong công nghiệp .................................................... 35
4.4.2. Sử dụng năng lượng hiệu quả trong lĩnh vực năng lượng ....................................... 35
4.4.3. Sử dụng năng lượng hiệu quả trong giao thông ....................................................... 36
4.5. Vấn đề sử dụng năng lượng ở Việt Nam .................................................................... 36
4.5.1. Sự cần thiết của việc cải thiện hiệu quả sử dụng năng lượng .................................. 36
4.5.2. Các ngành cần tập trung để thúc đẩy năng lượng hiệu quả tại Việt Nam .............. 37
4.5.3. Sử dụng nhiên liệu và điện trong công nghiệp ở Việt Nam .................................... 38

lượng xanh sẽ giải quyết được vấn đề đặt ra và mang lại nhiều triển vọng kinh tế xã hội.
Chính vì lý do trên mà em chọn đề tài “ Triển vọng kinh tế xã hội của năng lượng
xanh” làm đề tài nghiên cứu Luận văn tốt nghiệp của mình.

2. MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI
Nghiên cứu và tìm ra những triển vọng kinh tế xã hội của năng lượng xanh. Từ đó
làm tăng tính thuyết phục trong việc tăng cường sản xuất và sử dụng năng lượng xanh
trong xã hội.

3. GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở lý thuyết kết hợp tình hình sử dụng năng lượng
xanh thực tế ở một số nước.
Phạm vi nghiên cứu đề tài chỉ dừng lại ở một số nước trên thế giới.

4. PHƢƠNG PHÁP VÀ PHƢƠNG TIỆN THỰC HIỆN
Nghiên cứu đề tài này dựa trên cơ sở tham khảo, phân tích và tổng hợp các nguồn tài
liệu có liên quan trên sách, báo, internet,… Từ đó đưa ra những nhận xét, đánh giá chung
nhất và trao đổi với giáo viên hướng dẫn.

5. CÁC BƢỚC THỰC HIỆN
Bước 1 : Nhận đề tài
Bước 2: Tìm tài liệu và viết đề cương.
Bước 3: Viết luận văn
Bước 4: Nộp luận văn cho giáo viên hướng dẫn xem xét và chỉnh sửa.
Bước 5: Hoàn chỉnh luận văn.
Bước 6: Bảo vệ luận văn.
SVTH: Nguyễn Xuân Phương

GVHD: ThS. GVC. Hoàng Xuân Dinh
1

mă ̣t trời sẽ đươ ̣c kế t nố i vào hê ̣ thố ng lưới điê ̣n có sẵn trong gia đình . Trong trường hơ ̣p
sử du ̣ng điê ̣n lưới, sẽ cắt nguồn điện từ bình ắcquy . Còn những hệ thống năng lượng mặt
trời công suấ t thấ p sẽ dùng hê ̣ thố ng dẫn điê ̣n riêng để tránh tiêu hao công suấ t . Hiện nay
trên thi ̣trường có khá nhiề u hê ̣ thố ng sử du ̣ng nguồ n năng lươ ̣ng mă ̣t trời .
Hiê ̣n trên th ị trường có ba hê ̣ thố ng sử du ̣ng nguồ n năng lươ ̣ng mă ̣t trời với mức giá
tương ứng. Hê ̣ thố ng đi ện năng lượng mặt trời nhỏ nhất, sử dụng tấm pin năng lượng từ
10 – 20W, thắp sáng 2 – 4 bóng đèn LED (loại 12V). Ngoài ra , lươ ̣ng điê ̣n tích trữ khi
sạc đủ , có thể dùng thêm các loa ̣i qu ạt sạc hoặc các thiết bị di động như điê ̣n thoa ̣i di
đô ̣ng, máy nghe nhạc MP 3. Vì công suất thấp nên thời gian sử dụng của hệ thống dao
đô ̣ng từ 4 – 5 tiế ng/ngày. Tuỳ theo xuấ t xứ của sản phẩ m mà giá dao đô ̣ng t ừ 1,6 – 3,5
triệu đồng/bộ. Hê ̣ thố ng điện năng lượng mặt trời loại vừa, sử dụng tấm pin năng lượng
100W. Hê ̣ thố ng này có b ộ điều khiển nạp điện từ năng lươ ̣ng mă ̣t trời và kèm theo b ộ
chuyển đổi năng lươ ̣ng từ nguồ n đi ện 220V. Hê ̣ thố ng này cho phép s ử dụng các loa ̣i
SVTH: Nguyễn Xuân Phương

GVHD: ThS. GVC. Hoàng Xuân Dinh
2


Luận văn tốt nghiệp TRIỂN VỌNG KINH TẾ XÃ HỘI CỦA NĂNG LƯỢNG XANH
thiế t bi ̣như : đèn, quạt, máy tính xách tay, tivi… Thời gian sử dụng cũng từ 4 – 6
tiế ng/ngày. Giá từ 14,5 – 20 triệu đồng/bộ. Hê ̣ thố ng năng lươ ̣ng l ớn được thiết kế theo
nhu cầu của từng gia đình . Hê ̣ thố ng này đươ ̣c l ắp ghép từ 10 – 20 tấm pin năng lượng,
sử dụng 8 – 10 bình ắc quy trữ điện, sẵn sàng đáp ứng các thiế t bi ̣ti êu thu ̣ điê ̣n cao như
máy lạnh, tủ lạnh, máy bơm… Hê ̣ thố ng này có giá thành khá cao , từ 300 – 500 triệu
đồng.

Hình 1.1: Hệ thống pin mặt trời quy mô lớn ở Mỹ.
1.1.2.2. Năng lượng địa nhiệt
Năng lượng địa nhiệt là năng lượng được tách ra từ nhiệt trong lòng Trái Đất. Năng

máy điện thủy triều. Về lâu dài, hiện tượng thủy triều sẽ giảm dần mức độ, do tiêu thụ
dần động năng tự quay của Trái Đất, cho đến lúc Trái Đất luôn hướng một mặt về phía
Mặt Trăng. Thời gian kéo dài của hiện tượng thủy triều cũng nhỏ hơn so với tuổi thọ của
Mặt Trời.
1.1.2.4. Thủy điện
Thuỷ điện là nguồn điện có được từ năng lượng nước. Đa số năng lượng thuỷ điện có
được từ thế năng của nước được tích tại các đập nước làm quay một tuốc bin
nước và máy phát điện. Kiểu ít được biết đến hơn là sử dụng năng lượng động lực của
nước hay các nguồn nước không bị tích bằng các đập nước như năng lượng thuỷ triều.
Thuỷ điện là nguồn năng lượng tái tạo.
Thuỷ điện chiếm 20% lượng điện của thế giới. Na Uy sản xuất toàn bộ lượng điện
của mình bằng sức nước, trong khi Iceland sản xuất tới 83% nhu cầu của họ
(2004), Áo sản xuất 67% số điện quốc gia bằng sức nước (hơn 70% nhu cầu của họ).
Canada là nước sản xuất điện từ năng lượng nước lớn nhất thế giới và lượng điện này
chiếm hơn 70% tổng lượng sản xuất của họ.
Ngoài một số nước có nhiều tiềm năng thuỷ điện, năng lực nước cũng thường được
dùng để đáp ứng cho giờ cao điểm bởi vì có thể tích trữ nó vào giờ thấp điểm (trên thực
tế các hồ chứa thuỷ điện bằng bơm – pumped-storage hydroelectric reservoir - thỉnh
thoảng được dùng để tích trữ điện được sản xuất bởi các nhà máy nhiệt điện để dành sử
dụng vào giờ cao điểm). Thuỷ điện không phải là một sự lựa chọn chủ chốt tại các nước
phát triển bởi vì đa số các địa điểm chính tại các nước đó có tiềm năng khai thác thuỷ
điện theo cách đó đã bị khai thác rồi hay không thể khai thác được vì các lý do khác
như môi trường.
1.1.2.5. Năng lượng gió
Năng lượng gió là động năng của không khí di chuyển trong bầu khí quyển Trái Đất.
Năng lượng gió là một hình thức gián tiếp của năng lượng mặt trời. Năng lượng gió được
con người khai thác từ các tua bin gió.
Trong số 20 thị trường lớn nhất trên thế giới, chỉ riêng châu Âu đã có 13 nước với
Đức là nước dẫn đầu về công suất của các nhà máy dùng năng lượng gió với khoảng cách
xa so với các nước còn lại. Tại Đức, Đan Mạch và Tây Ban Nha việc phát triển năng


GVHD: ThS. GVC. Hoàng Xuân Dinh
5


Luận văn tốt nghiệp TRIỂN VỌNG KINH TẾ XÃ HỘI CỦA NĂNG LƯỢNG XANH

Hình 1.3: Tận dụng nguồn sinh khối từ trấu tại khu công nghiệp Trà Nóc, Cần Thơ.
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vựa lúa lớn, chiếm 50% sản lượng trong cả
nước. Đây cũng là nơi tập trung nhiều nhà máy và cụm xay xát lúa. Với trên 3,8 triệu tấn
trấu/năm tạo ra từ các nhà máy xay xát, chưa có kế hoạch sử dụng, khu vực ĐBSCL đang
phải đối mặt với tình trạng ô nhiễm môi trường khá nghiêm trọng. Việc xây dựng nhà
máy đồng phát nhiệt - điện dùng nhiên liệu từ trấu được xây dựng tại khu công nghiệp
Trà Nóc, Cần Thơ không những góp phần giải quyết ô nhiễm môi trường mà còn góp
phần phát triển kinh tế - xã hội khu vực này. Khi nhà máy vận hành ở chế độ sản xuất hơi
nước (công suất sản xuất hơi nước thiết kế là 14 tấn/giờ), công suất điện sẽ là 740 kWh.
Khi đó, nhà máy sẽ vận hành 24giờ /ngày và 324 ngày/ năm. Tổng số giờ vận hành là
7.776 giờ/năm ở chế độ vận hành phát hơi nước và điện. Lượng trấu tiêu thụ khoảng 6
tấn/giờ. Ưu điểm của Nhà máy nhiệt - điện dùng nhiên liệu trấu là sử dụng công nghệ
mới nên không ô nhiễm môi trường như dùng than hoặc dầu mỏ. Ngoài ra, trấu không có
lưu huỳnh nên không phát thải SO2 ra khí quyển. Việc tận dụng trấu để sản xuất năng
lượng góp phần giúp TP.Cần Thơ cũng như ĐBSCL giải quyết vấn đề ô nhiễm môi
trường nước cũng như không khí do trấu gây nên. Đồng thời, giảm thải CO2 rất nhiều so
với sử dụng than và khí đốt từ dầu mỏ, góp phần hạn chế biến đổi khí hậu, điều mà cả thế
giới đang quan tâm.
1.1.2.7. Nhiên liệu sinh học
Nhiên liệu sinh học là loại nhiên liệu được hình thành từ các hợp chất có nguồn
gốc động thực vật như nhiên liệu chế xuất từ chất béo của động thực vật (mỡ động
vật, dầu dừa...), ngũ cốc (lúa mỳ, ngô, đậu tương...), chất thải trong nông nghiệp (rơm
rạ, phân...), sản phẩm thải trong công nghiệp (mùn cưa, sản phẩm gỗ thải...),...

xuất nhiên liệu từ nguồn này vẫn chưa thực sự có hiệu quả kinh tế do các rào cản về mặt
kỹ thuật cũng như gây thế độc canh, mất cân bằng sinh thái. Được coi là nguồn nguyên
liệu tiềm năng cho nhiên liệu sinh học thế hệ thứ ba và giải quyết được hầu hết các tồn tại
SVTH: Nguyễn Xuân Phương

GVHD: ThS. GVC. Hoàng Xuân Dinh
7


Luận văn tốt nghiệp TRIỂN VỌNG KINH TẾ XÃ HỘI CỦA NĂNG LƯỢNG XANH
nói trên, vi tảo nói chung và vi tảo biển nói riêng đã được các nhà khoa học Việt Nam lựa
chọn. Đây là hướng đi có tính khả thi cao.
1.1.3. Tỉ trọng của lƣợng xanh so với năng lƣợng toàn cầu
Trong năm 2009 năng lượng xanh toàn cầu chiếm tỉ trọng 16% so với 81 % nhiên
liệu hóa thạch và 2,8% từ năng lượng hạt nhân và đã tăng 5,4% trong năm 2010. Trong
đó điện năng từ gió, mặt trời, sinh khối, địa nhiệt chiếm 0,7%, nhiên liệu sinh học 0,6%,
thủy điện 3,4%. Nhiệt năng từ sinh khối, Mặt Trời, địa nhiệt là 1,5% và năng lượng sinh
khối truyền thống là 10%. Mặc dù con số chưa khả quan nhưng xu hướng tăng trưởng
năng lượng mới rất đáng chú ý. Chẳng hạn, trong số 194 GW điện lắp mới trong năm
2010 một nữa trong đó là nguồn năng lượng mới. Tổng công suất điện từ năng lượng mới
vào năm 2010 đạt 1 320 GW, tăng 8% so với năm 2009 (REN21).

1.2. VAI TRÒ CỦA NĂNG LƢỢNG XANH TRONG BẢO VỆ MÔI
TRƢỜNG
1.2.1. Năng lƣợng xanh làm giảm lƣợng khí thải vào môi trƣờng
Mỗi ngày trên toàn thế giới sử dụng gần 90 triệu thùng dầu cho các hoạt động từ dân
dụng đến công nghiệp. Việc đốt cháy các sản phẩm từ dầu mỏ sinh ra các khí độc hại trực
tiếp nguy hiểm hơn rất nhiều so với khí nhà kính tác dụng gián tiếp, đó là các hợp chất
vòng thơm, các khí NOx với nguy cơ gây bệnh hô hấp và ung thư rất cao. Nếu thay thế
bằng năng lượng xanh, tỉ lệ các bệnh hô hấp, dị ứng khói xe, khói bụi từ các ống khói nhà

giảm tốc độ tăng nhiêt độ toàn cầu, Trái Đất sẽ cân bằng dễ dàng hơn. Nhiệt độ ổn định
sẽ giúp bầu khí quyển và đại dương thiết lập cân bằng. Khi đó, thời tiết sẽ điều hòa hơn,
tránh được hiện tượng khí hậu bất thường do mất cân bằng hệ thống.
1.2.3. Năng lƣợng xanh góp phần làm giảm entropy Trái Đất
Nhận thức tầm quan trọng của năng lượng xanh là một bước tiến quan trọng trong
tiến trình phát triển của khoa học. Ta hãy làm rõ luận điểm này. Khi sử dụng năng lượng
hóa thạch ta đã làm tăng entropy của hệ thống qua việc tỏa nhiệt từ năng lượng hóa học
chứa các nhiên liệu đó. Trái lại khi sử dụng năng lượng mặt trời hay năng lượng gió ta
không làm tăng thêm nhiệt cho sinh quyển mà tận dụng một phần năng lượng đó để nâng
cao tính trật tự trong các công trình và cả cấu trúc sinh học của chúng ta. Nếu ta không sử
dụng các năng lượng đó cũng sẽ chuyển thành nhiệt năng làm tăng entropy của trái đất.
1.2.4. Năng lƣợng xanh bảo vệ hệ sinh thái và sức khỏe con ngƣời
Như chúng ta đã biết, hệ sinh thái chịu ảnh hưởng rất nhiều từ các yếu tố ô nhiễm
môi trường, biến đổi khí hậu, hiệu ứng nhà kính,.... Các yếu tố này có thể hủy hoại và
làm mất cân bằng sinh thái. Và như đã tìm hiểu ở trên, việc sử dụng năng lượng xanh có
thể góp phần làm giảm hiệu ứng nhà kính, giảm lượng khí thải gây ô nhiễm môi trường,
ứng phó tích cực với biến đổi khí hậu,... Do đó, năng lượng xanh có thể bảo vệ sự cân
bằng của hệ sinh thái.
Nếu sử dụng năng lượng xanh thay thế cho nhiên liệu hóa thạch và năng lượng hạt
nhân thì lượng khí thải độc hại, các chất thải của các nhà máy lọc dầu và các rò rỉ chất
SVTH: Nguyễn Xuân Phương

GVHD: ThS. GVC. Hoàng Xuân Dinh
9


Luận văn tốt nghiệp TRIỂN VỌNG KINH TẾ XÃ HỘI CỦA NĂNG LƯỢNG XANH
phóng xạ sẽ giảm mạnh. Khi đó, môi trường nước và đất tránh được nguy cơ về mưa
acid, bảo vệ được hệ sinh thái khỏi sự suy thoái, bảo vệ các loài sinh vật tránh nguy cơ
tuyệt chủng. Loại bỏ các chất độc hại ra khỏi môi trường góp phần làm nguồn nước uống

Sự phân tán các nguồn năng lượng cho phép chính quyền trung ương giảm nhẹ áp lực
việc đảm bảo nhu cầu năng lượng toàn xã hội mà không phải phục thuộc vào một số nhà
máy lớn. Khi các nhà máy lớn này có sự cố hoặc sửa chữa thì hàng loạt các hoạt động từ
dân dụng dến sản xuất công nghiệp vẫn ổn định nhờ nguồn năng lượng phân tán. Do vậy
khi một bộ phận nào đó về năng lượng bị tê liệt, các nơi khác không bị ảnh hưởng lớn mà
ngược lại còn có thể hỗ trợ. Bên cạnh đó, việc tập trung các nhà máy điện hay năng lượng
lớn đòi hỏi mạng lưới phân phối rất lớn và sự hao tổn năng lượng cho quá trình truyền tải
là không nhỏ trong khi nếu năng lượng phân tán thì không có trở ngại này.
Ngoài ra, phân tán nguồn năng lượng còn kích thích nghiên cứu đẩy nhanh phát triển.
Con người tìm cách phát triển nhiều nguồn năng lượng hơn mà trước đây do phụ thuộc
vào nguồn năng lượng tập trung họ đã bỏ qua. Năng lượng mới cho phép nhiều nhà đầu
tư tham gia hơn do đó thị trường mang tính cạnh tranh hơn, kích thích nghiên cứu ứng
dụng và giảm giá thành. Điều này sẽ làm chu kì nghiên cứu úng dụng rút ngắn, đẩy nhanh
sự phát triển.
2.1.2. Quyền sở hữu về năng lƣợng
Năng lượng xanh có quy mô rất đa dạng, từ các thiết bị nhỏ lẻ có thể tự chế tạo đến
các thiết bị có quy mô khổng lồ. Với một ít dụng cụ đơn giản người ta có thể tạo ra bộ
đun nước nóng, thiết bị sấy khô nông sản bằng năng lượng mặt trời hoặc các bể khí
biogas có thể tự lắp ở các trang trại với quy mô nhỏ lẻ nhưng vẫn có tính ứng dụng hiệu
quả,…Như vậy, ngay cả một người dân bình thường cũng có thể tự phát triển các thiết bị
sản sinh năng lượng xanh và tất nhiên chúng thuộc quyền sở hữu của họ. Các thiết bị
năng lượng sẽ được bảo trì tốt hơn vì mỗi người dân cho rằng năng lượng đang dùng là
SVTH: Nguyễn Xuân Phương

GVHD: ThS. GVC. Hoàng Xuân Dinh
11


Luận văn tốt nghiệp TRIỂN VỌNG KINH TẾ XÃ HỘI CỦA NĂNG LƯỢNG XANH
của họ chứ không phải từ nguồn được nhà nước tài trợ. Khi năng lượng là do tự cung cấp,

nào có nguồn năng lượng đa dạng, sự tự chủ về năng lượng càng lớn thì tính ổn định của
đất nước đó càng vững. Các biến động xã hội do khủng hoảng năng lượng như mất việc
làm, chứng khoáng sụt giảm, nhà máy đóng cửa như cuộc chiến 21 ngày ở Trung Đông
năm 1973 sẽ không tái diễn. Hay các áp lực lên việc mở đường ống khí đốt cung cấp cho
châu Âu từ Nga ngang qua Ukraina luôn làm các nước châu Âu phập phồng lo ngại, nhất
là mùa đông rất cần khí đốt để sưởi ấm.

2.2. NĂNG LƢỢNG XANH ẢNH HƢỞNG ĐẾN KIẾN TRÚC
2.2.1. Các công trình kiến trúc tiêu thụ một lƣợng lớn năng lƣợng
SVTH: Nguyễn Xuân Phương

GVHD: ThS. GVC. Hoàng Xuân Dinh
12


Luận văn tốt nghiệp TRIỂN VỌNG KINH TẾ XÃ HỘI CỦA NĂNG LƯỢNG XANH
Với các sản phẩm tiêu thụ năng lượng lớn, nguồn ô nhiễm cao, công nghiệp xây dựng
là một trong những nguyên nhân chính gây ra biến đổi khí hậu. Xây dựng công trình theo
hướng xanh hóa là một giải pháp để giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu. Các nghiên
cứu cho thấy, tỷ lệ phát thải CO2 gắn với công nghiệp xây dựng kiến trúc là trên 40% ở
các nước xứ lạnh châu Âu, khoảng 36% ở Nhật Bản (1990), 28,8% ở Đài Loan. Theo Hội
đồng Công trình xanh Mỹ (USGBC), năng lượng sử dụng hàng năm của nhà ở và nhà
thương mại là 39%, phát thải 30% khí nhà kính, cộng thêm năng lượng tự thân để chế tạo
vật liệu xây dựng, vận chuyển đến nơi xây dựng và lắp đặt thì tổng năng luợng tiêu thụ
của nhà cửa là 48%. Kiến trúc sư Edward Mazria chỉ rằng, nhà cửa là nguồn gốc phát thải
của gần một nửa khí nhà kính toàn cầu, gây ra sự biến đổi khí hậu.
2.2.2. Áp dụng năng lƣợng xanh vào thiết kế kiến trúc giúp tiết kiệm năng lƣợng
Năng lượng xanh không chỉ dừng lại ở các nhà máy năng lượng mới mà còn tham gia
vào viêc thay đổi kiến trúc và xu hướng thiết kế nhà cửa, công xưởng. Nếu như trước đây
các kiến trúc sư chỉ quan tâm đến các thiết kế của mình ở góc độ ý tưởng, mĩ thuật mà để


Luận văn tốt nghiệp TRIỂN VỌNG KINH TẾ XÃ HỘI CỦA NĂNG LƯỢNG XANH
Khái niệm thành phố xanh ngày càng thu hút nhiều sự quan tâm của thế giới. Mọi
hoạt động tiêu dùng năng lượng của thành phố đều hướng đến đến mục đích chung là tạo
thành phố xanh cả trong lẫn ngoài. Điều này có nghĩa là ngoài màu xanh lá cây, cư dân
thành phố được khuyến khích sử dụng xe đạp để giảm phát thải từ khí thải xe hơi, mô tô,
xe gắn máy,… Các ngôi nhà đều được trang bị hệ thống thu năng lượng mặt trời để thu
nhiệt và phát điện. Nhiên liệu sinh học cũng được khuyến khích sử dụng, còn rác thải thì
được tái xử lý để phát điện. Người dân được giáo dục rất tốt về vấn đề giữ gìn môi trường
và tiết kiệm năng lượng.
Tích hợp pin năng lượng mặt trời trong thiết kế kiến trúc cũng rất được quan
tâm.“Nếu thế kỷ XIX là thời đại của than, thế kỷ XX là của dầu mỏ, thì thế kỷ XXI là
thời đại của mặt trời” Tuyên bố trên cho thấy tầm quan trọng của năng lượng mặt trời
trong kỷ nguyên mới. Các hệ thống pin năng lượng sản xuất điện trực tiếp từ bức xạ mặt
trời đang phát triển rộng rãi – lợi ích của nó trở nên rõ ràng hơn, chi phí giảm hơn trước
đây rất nhiều. Pin năng lượng là công nghệ vật liệu tiên tiến sẽ giúp chúng ta thiết kế các
công trình thân thiện với môi trường. Đây là một giải pháp quan trọng và khả thi nhất
trong việc tiết kiệm năng lượng sử dụng trong các tòa nhà, cả trong các công trình dân
dụng và công cộng.

Hình 2.1: Công trình nhà ở sử dụng tấm pin năng lượng mặt trời ở Đức.
Việt Nam là nước nhiệt đới nóng ẩm nằm trong giải phân bổ ánh nắng mặt trời nhiều
nhất trên thế giới. Với địa hình nhiều đồi núi và hải đảo, Việt Nam cũng có nhiều khu
vực dân cư nằm phân tán. Vì vậy, sử dụng năng lượng mặt trời như một nguồn năng
lượng tại chỗ để thay thế cho các dạng năng lượng truyền thống, đáp ứng nhu cầu của các
vùng dân cư là một chính sách có ý nghĩa quan trọng về mặt kinh tế, an ninh quốc phòng.
Tuy nhiên, việc ứng dụng năng lượng mặt trời ở Việt Nam cho đến nay chưa phát triển,
còn nhỏ lẻ, mới chỉ khoảng chục năm trở lại đây và chỉ dừng lại ở một số ứng dụng như
đun nước nóng hay tích điện chiếu sáng ngoài trời.Trong kiến trúc, pin năng lượng được
SVTH: Nguyễn Xuân Phương

và phát triển năng lượng tái tạo được đặt lên hàng đầu, bảo đảm an ninh cung cấp năng
lượng, đấu tranh chống thay đổi khí hậu, nâng cao tính cạnh tranh của nền kinh tế thông
qua tiết kiệm năng lượng, và cuối cùng là tạo công ăn việc làm, đặc biệt trong lĩnh vực
xây dựng và năng lượng tái tạo. Các công cụ của chính sách này hiện được đa dạng hóa:
hỗ trợ hoạt động nghiên cứu phát triển đối với mô hình nhà sử dụng năng lượng tích cực,
các loại xe sử dụng hiệu quả năng lượng hay các loại công nghệ sinh thái; khuyến khích
tài chính thông qua điều chỉnh biểu giá mua lại điện sản xuất từ năng lượng tái tạo, miễn
giảm thuế.
Tuy nhiên, đối với cách nước đang phát triển, việc xây dựng các chính sách còn gặp
rất nhiều khó khăn nên cần nhiều sự giúp đỡ của cộng đồng quốc tế. Những khó khăn mà
các nước đang phát triển phải đối mặt là: Việc áp dụng năng lượng xanh cần đòi hỏi cơ
sở hạ tầng và đầu tư tương đối lớn, cần trình độ công nghệ cao như pin mặt trời, nhiên
liệu sinh học, năng lượng gió,…Thiếu chính sách hỗ trợ năng lượng xanh ở các nước
nghèo rất khó phát triển. Ví dụ như ở Việt Nam, trong dự án phát triển điện lưới quốc gia
đến năm 2030, tỉ lệ điện từ năng lượng mới là rất ít ỏi. Điện mặt trời chỉ vài MW, năng
lượng gió tuy có nhiều dự án nhưng chỉ có Nhà máy điện gió Bạc Liêu và một dự án lớn
SVTH: Nguyễn Xuân Phương

GVHD: ThS. GVC. Hoàng Xuân Dinh
15


Luận văn tốt nghiệp TRIỂN VỌNG KINH TẾ XÃ HỘI CỦA NĂNG LƯỢNG XANH
ở Tuy Phong, Bình Thuận được lắp đặt nhưng cần sự trợ giá của chính phủ để có thể hòa
vào điện lưới.
2.3.2. Những phúc lợi xã hội mà năng lƣợng xanh mang lại
Sự phát triển của năng lượng xanh mang đến những lợi ích đáng kể cho xã hội. Trước
tiên, sự thay thế của năng lượng xanh thay cho năng lượng truyền thống giúp nhà nước
giảm chi phí công cho năng lượng. Ví dụ như các turbine gió, bộ thu năng lượng mặt trời
loại nhỏ có thể giúp chiếu sáng công cộng, ethanol sinh học cung cấp nhiên liệu cho các


Hình 2.2: Gia đình chị Hoàng Thị Thắm, thôn Nà Choong, xã Nông Thượng (Thị xã
Bắc Cạn) sau 3 ngày lắp bể gia đình đã có gas để dùng
Cùng với sự phát triển kinh tế của đất nước, tốc độ tăng trưởng của các đơn vị doanh
nghiệp ngày càng cao, đời sống vật chất của con người cũng cao hơn. Kinh tế - xã hội
phát triển nên nhu cầu tiêu thụ năng lượng ngày càng gia tăng. Trong khi đó, các sản
phẩm để sản xuất ra nguồn năng lượng điện như nước, chất đốt, sức gió... ngày càng cạn
kiệt, không đáp ứng đủ, dẫn đến có sự chênh lệch lớn giữa cung và cầu. Chính vì vậy, tiết
kiệm năng lượng điện là một yêu cầu tất yếu trong sinh hoạt, sản xuất và đời sống nhằm
bảo đảm an ninh năng lượng của quốc gia, phục vụ quá trình phát triển kinh tế - xã hội
của đất nước một cách bền vững.

SVTH: Nguyễn Xuân Phương

GVHD: ThS. GVC. Hoàng Xuân Dinh
17


Luận văn tốt nghiệp TRIỂN VỌNG KINH TẾ XÃ HỘI CỦA NĂNG LƯỢNG XANH
Hình 2.3: Các hộ gia đình sử dụng bình nước nóng năng lượng mặt trời ở phố núi
Gia Lai.
Trong nhiều năm trở lại đây, người dân ở phố núi Gia Lai nói riêng và người dân ở
Tây Nguyên nói chung đã quen với việc sử dụng bình nước nóng năng lượng mặt trời.
Điều này đã góp phần rất lớn vào việc tiết kiệm nguồn năng lượng cho quốc gia, vừa tiết
kiệm chi phí cho các cơ quan, doanh nghiệp và hộ tiêu dùng. Từ đó ngành điện thực hiện
hiệu quả nguồn điện mà cấp trên phân bổ, phục vụ cho sản xuất, phát triển kinh tế - xã
hội của địa phương, góp phần vào việc tiết kiệm nguồn điện năng.
Ngoài ra, sử dụng bình nước nóng năng lượng mặt trời rất an toàn về điện, không sợ
điện rò rỉ gây điện giật. Tiết kiệm điện không những tiết kiệm nguồn năng lượng cho
quốc gia, mà còn mang lại lại ích thiết thực cho doanh nghiệp. Lợi ích của việc sử dụng


GVHD: ThS. GVC. Hoàng Xuân Dinh
18


Luận văn tốt nghiệp TRIỂN VỌNG KINH TẾ XÃ HỘI CỦA NĂNG LƯỢNG XANH
trái đất thêm xanh”. Đằng sau những thông điệp này, bằng những nỗ lực không ngừng
với sự chung tay của cả cộng đồng, trong những năm qua, tiết kiệm điện đã đi vào nhận
thức của người dân, mang lại hiệu quả rõ rệt.

Hình 2.4: Thông điệp của Giờ trái đất 2014: "Hãy hành động để trái đất thêm xanh" của
sinh viên khu vực Hà Nội.
2.4.2. Năng lƣợng xanh góp phần hình thành các quan niệm và thang giá trị mới về
một thế giới sử dụng năng lƣợng mang tính nhân văn
Các công dân sống trong môi trường hoàn toàn sử dụng năng lượng xanh sẽ có nhận
thức rất cao về việc khai thác và sử dụng nguồn năng lượng thân thiện với môi trường
này. Từ đó hình thành nên các giá trị đạo đức và nhân văn trong cách ứng xử liên quan
đến năng lượng . Bài học về chiến tranh mà nguyên nhân bắt nguồn từ năng lượng truyền
thống trong quá khứ giúp con người hiện đại trân trọng tài nguyên hiện có và sử dụng
chúng một cách đúng mực.
Trên thế giới nếu giảm thiểu các ứng xử thiếu văn minh về năng lượng thì sẽ không
còn chiến tranh hay biến cố chính trị liên quan đến nguồn dầu mỏ, khí đốt. Thay vào đó
là sự tăng cường hợp tác nghiên cứu về các nguồn năng lượng mới của các quốc gia. Các
phát minh về khai thác và sử dụng năng lượng hiệu quả ngày càng đa dạng, góp phần làm
giảm sự mất cân đối về trình độ giữa các khu vực. Trong đó, châu Á ngày càng khẳng
SVTH: Nguyễn Xuân Phương

GVHD: ThS. GVC. Hoàng Xuân Dinh
19


lượng bền bỉ ở ASEAN” cho biết năm 2050, năng lượng xanh sẽ chiếm đến 70% sản
lượng sử dụng điện tại các quốc gia thuộc khối ASEAN. Báo cáo trên được đưa ra trong
một hội nghị của lãnh đạo cơ quan phụ trách năng lượng của 10 nước thuộc ASEAN diễn
ra tại Indonesia hồi cuối tháng 9/2013. Theo đó, thành tựu về năng lượng xanh của khối
này có được từ nỗ lực đầu tư trị giá khoảng 2.800 tỉ USD và chương trình tiết kiệm nhiên
liệu lên đến 2.700 tỉ USD. Đạt được triển vọng như thế sẽ là một cuộc cách mạng thực sự
khi 28% dân số trong khu vực, tương đương 160 triệu người, hiện vẫn chưa có điện sử
dụng. Vì thế, các giải pháp về năng lượng mặt trời, điện gió sẽ không chỉ giải quyết nhu
cầu về điện mà còn giúp bảo vệ môi trường hiệu quả.
3.1.2. Năng lƣợng xanh ở Trung Quốc
Trung Quốc đã trở thành quốc gia hàng đầu về phát triển nguồn năng lượng xanh,
bao gồm năng lượng gió và năng lượng mặt trời. Điều này đã được thế giới công nhận.
Cho đến năm 2009, tổng năng lượng gió của Trung Quốc đạt 25,1 Gigawatt, đứng thứ hai
thế giới. Việc sản xuất năng lượng mặt trời cũng đang được mở rộng tại nước này.
Trung Quốc là quốc gia tiêu thụ dầu mỏ lớn thứ hai thế giới, chỉ sau Mỹ, có nhiều kế
hoạch tham vọng nhầm thúc đẩy năng lượng tái sinh. Những kế hoạch đó bao gồm việc
nâng sản lượng điện từ năng lượng gió ở mức 570 megawatt hiện nay lên 20.000
megawatt vào năm 2020, và 50.000 megawatt vào năm 2030. Một megawatt điện có thể
cung cấp năng lượng cho 1.000 hộ gia đình. Việc thúc đẩy sử dụng nhiên liêu sinh học
nhiều hơn, như dùng rơm, cặn đường và rác nông nghiệp để chạy nhà máy điện, có thể
giúp Trung Quốc tiết kiệm 28 triệu tấn than mỗi năm.
Sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, Chính phủ Trung Quốc đã dành 14,5%
ngân khoản trong kế hoạch kích thích kinh tế trị giá 586 tỷ USD cho việc đầu tư vào
ngành công nghiệp xanh và tiết kiệm năng lượng. Điều này đã giúp Trung Quốc tiến xa
hơn trong công cuộc sản xuất nguồn năng lượng thay thế. Không chỉ xây dựng các cơ sở
sản xuất năng lượng xanh cho nhu cầu nội địa, Trung Quốc còn có tham vọng xuất khẩu
các trạm phát điện chạy bằng sức gió và các tấm pin mặt trời ra nước ngoài. Vốn đã là
nhà đầu tư số một thế giới trong ngành năng lượng xanh, Trung Quốc đang vươn lên
đứng đầu thế giới trong vai trò cung cấp thiết bị sản xuất năng lượng sạch. Trong lĩnh
vực điện chạy bằng sức gió, 2 trong số 5 nhà sản xuất hàng đầu thế giới là của Trung


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status