MỞ ĐẦU
Phòng ngừa tội phạm là việc sử dụng hệ thống các biện pháp mang tính xã
hội và nhà nước nhằm khắc phục những nguyên nhân và điều kiện của tình hình
tội phạm, hạn chế và lọai trừ tội phạm ra khỏi đời sống xã hội.. Phòng ngừa tội
phạm là một đường đua dài, bền bỉ và kiên trì của cả xã hội. Đã có rất nhiều học
thuyết tâm lý về phòng ngừa tội phạm ra đời, trong đó có thuyết tâm lý học nhân
văn - một học thuyết được xem là thế lực thứ 3 khi thế giới lúc ấy mới chỉ đang
biết đến 2 trường phái tâm lý chính là Phân tâm học và chủ nghĩa hành vi. Tâm
lý học nhân văn được biết đến với hai nhà đại diện là Abrham Maslow (1908 –
1970) và C. Roger. Trường phái tâm lý này ra đời như là một khuynh hướng đối
lập với Phân tâm học và Tâm lý học hành vi. Để có thể hiểu rõ hơn về quan điểm
phòng ngừa tội phạm của thuyết tâm lý học nhân văn. Em quyết định chọn đề
tài: “ Phân tích nội dung của thuyết “ Phòng ngừa tội phạm từ quan điểm của
tâm lý học nhân văn”. Rút ra bài học thực tiễn” làm bài tập cuối kì của mình.
NỘI DUNG
I.
Khái quát chung về phòng ngừa tội phạm
1. Khái niệm phòng ngừa tội phạm
Phòng ngừa tội phạm cần nói chung được hiểu là: hệ thống các quy định,
các biện pháp, các hành động của các nhân, tổ chức nhằm hạn chế, ngăn chặn
tội phạm xảy ra, phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm minh các tội phạm xảy ra và
giáo dục người phạm tội trở thành người có ích cho xã hội”
Dưới góc độ tâm lý học thì phòng ngừa tội phạm còn được hiểu là hệ
thống các biện pháp, các quy định, các hành vi của cá nhân, tổ chức:
1
-
bởi bản chất của phòng ngừa tâm lý là hệ thống các biện pháp ảnh hưởng đến
tâm lý để từ đó đưa đến những thay đổi về hành vi và bởi tất cả những gì tồn tại
ở mức độ tư tưởng, tinh thần thì chỉ ở dạng tiềm năng cho nên không thể đòi hởi
hiệu quả tuyệt đối của phòng ngừa tâm lý. Hơn nữa, một biện pháp phòng ngừa
có thể tỏ ra hiệu quả trong tình huống này nhưng lại có thể không đem đến một
kết quả tương tự trong tình huống khác.
Từ những phân tích trên ta thấy tội phạm là một loại hành vi bất bình
thường, hành vi sai lệch của con người. Muốn phòng ngừa tội phạm hiệu quả thì
các biện pháp phòng ngừa phải xuất phát từ nguyên nhân, từ các yếu tố đích thực
quy định hành vi của con người
3. Phòng ngừa tội phạm từ quan điểm của Tâm lý học nhân văn.
Tâm lý học nhân văn được biết đến với hai nhà đại diện là Abrham Maslow
(1908 – 1970) và C. Roger. Trường phái tâm lý này ra đời như là một khuynh
hướng đối lập với Phân tâm học và Tâm lý học hành vi. Nếu phân tâm học lấy
điều kiện bên trong. Tâm lý học hành vi lấy điều kiện bên ngoài làm nguyên tắc
quyết định cho tâm lý con người thì Tâm lý học nhân văn là sự tổng hợp của
nhiều khuynh hướng mới và nhiều trường phái khác nhau. Nhưng các nhà tâm lý
học nhân văn đều có chung tư tưởng tôn trọng con người, tôn trọng giá trị sáng
tạo và trách nhiệm cũng như tôn trọng các phẩm giá cá nhân của một người.
Vậy ,để phòng ngừa tội phạm ta cần tìm ra căn nguyên của tội phạm và nếu
xuất phát từ thuyết tâm lý học nhân văn thì “ Bản tính con người là tốt, con
người là hiện thân của các đẹp, sinh ra con người đã có sẵn một khuynh hướng
phát triển và khuynh hướng này không mâu thuẫn với xã hội, nếu gặp điều kiện
3
thuận lợi khuynh hướng này sẽ được phát huy. Và con người không xấu, tuy
nhiên họ có thể có hành vi xấu, có thể phạm tội”
II.
Lật lại vấn đề, nếu nhu cầu về an toàn, an ninh không được đáp ứng thì
con người ta sẽ hình thành tâm lý lo sợ, stress, luôn cảm thấy bị đe doạn về mặt
tinh thần và thể xác, não người không thể hoạt động một cách tỉnh táo điều này
cũng có thể dẫn đến hành vi phạm tội vì như đã đề cập ở trên “ tâm lý điều hành
hành vi”. Một tâm lý bất ổn, sẽ kéo theo hành vi bất ổn.
-
Nhu cầu về xã hội: Nhu cầu này còn được gọi là nhu cầu mong muốn thuộc
về một bộ phận, một tổ chức nào đó hoặc nhu cầu về tình cảm, tình thương. Nhu
cầu này thể hiện qua quá trình giao tiếp như việc tìm kiếm, kết bạn, tìm người
yêu, lập gia đình, tham gia một cộng đồng nào đó, đi làm việc, đi chơi picnic,
5
tham gia câu lạc bộ, làm việc nhóm…Nhu cầu này là một dấu vết của bản chất
sống theo bầy đàn của loài người chúng ta từ buổi bình minh của nhân loại.
Mặc dù nhu cầu này được xếp sau 2 nhu cầu phía trên, nhưng nếu như nhu
cầu này không được thỏa mãn, đáp ứng, nó có thể gây ra các bệnh trầm trọng về
tinh thần, thần kinh. Nhiều nghiên cứu gần đây cũng cho thấy những người sống
độc thân thường hay mắc các bệnh về tiêu hóa, thần kinh, hô hấp hơn những
người sống với gia đình. Chúng ta biết rõ rằng: sự cô đơn có thể dễ dàng giết
chết con người. Những đứa trẻ khi không thể hòa nhập với xã hội trở nên trầm
cảm, lạnh lùng và ít nói, chúng cảm thấy bị bỏ rơi và cả xã hội không ai cần
chúng, chúng sống tách biệt, cô lập, thậm chí là lang bạt, nhiễm thói hư tật xấu
và thù hằn với xã hội, chúng có thể gây ra bất kì tội phạm gì để trả thù xã hội.
Nhưng người không được đáp ứng nhu cầu về xã hội, họ sống khép kín và có cái
nhìn phiến diện, tiêu cực về cuộc sống, điều này là một trong những nguyên
nhân rất phổ biến của tội phạm.
như hiện nay.
Vậy nếu theo thuyết tâm lý học nhân văn, theo học thuyết về 5 bậc thang nhu
cầu của A. Maslow thì phải làm thế nào để phòng ngừa tội phạm?
2. Phòng ngừa tội phạm từ quan điểm của tâm lý học nhân văn – bài học
thực tiễn
Bốn nhu cầu đầu tiên mà trong học thuyết bậc thang nhu cầu của A. Maslow
được coi là những nhu cầu thiết yếu cho sự sinh tồn, nếu không được thỏa mãn
những nhu cầu đó, một cá nhân sẽ rơi vào tình trạng thiếu hụt, mất cân bằng.
7
Đặc biệt nhu cầu tình cảm và được tôn trọng là rất cần thiết để duy trì một cơ thể
lành mạnh.
Tất cả nhúng nhu cầu này được cài đặt sẵn bên trong qua ngả di truyền học
giống như bản năng vậy. Nói theo mô hình phát triển, chúng ta trả qua từng cấp
độ nhu cầu tương tự như chúng ta trải qua những giai đoạn phát triển. Khi còn là
trẻ sơ sinh chúng ra cần đêan nhu cầu sinh lý qua những chăm sóc từ bên cha
mẹ. Rồi sau đó các em bé cần có nhu cầu được an toàn. Rồi lớn hơn một chút ta
muốn được người khác chú ý và quan tâm. Lớn hơn nữa, ta có nhu cầu cần được
tôn trọng và tự trọng. Những nhu cầu này cso thể phát triển trước khi trẻ biết nói.
Dưới những điều kiện đầy áp lực, hoặc khi những nhu cầu sinh tồn bị đe dọa
chúng ta có thể có xu hướng quay ngược lại với quá khứ với các nấc nhu cầu
thấp hơn. Nếu mộ cá nhân có vấn đề khó xử hoặc không có những điều kiện
phát triển thuận lợi - nhất là trong những lúc cô đơn, bị hắt hủi, bị lạm dụng và
ngược đãi, đói khát, lo lắng, sợ hãi, cha mẹ li dị, chứng kiến cảnh người thân
chết...những điều này làm cho một cá nhân bị kẹt/ khựng lại trong một nhu cầu
suốt cả cuộc đời mình.
Vậy, để phòng ngừa tội phạm chúng ta cần có những giải pháp tích cực như:
Thứ nhất: chung tay loại bỏ đói ngèo, xây dựng một môi trường sống trong
sạch và lành mạnh, hướng tới một xã hội không còn những mảnh đời thiếu ăn,
hội. Giúp họ tìm việc làm và tái tạo niềm tin cho họ vào cuộc sống.
Như vậy nhìn chung lại, để phòng ngừa tội phạm thì theo thuyết tâm lý học
nhân văn chúng ta cần tạo ra được một môi trường sống thiết yếu với các đặc
tính sau đây:
• Sự thật – thay vì giả dối
9
•
•
•
•
•
•
•
•
Tính thiện – thay vì độc ác
Cái đẹp – thay vì xấu xa và dung tục
Hợp nhất, tổng thể, vượt qua định kiến – thay vì chia rẽ và áp lực
Sống động – thay vì chết choc, tù túng hoặc quá máy móc
Đặc biệt, độc đáo – thay vì rập khuôn và bắt chước
Công bằng trật tự - thay vì bất công và vô luật lệ, vô tổ chức
Sự phong phú, đầy đủ - thay vì sự thiếu hụt, đói khổ đến từ môi trường
Có ý nghĩa – thay vì vô nghĩa và trống trải.
Chúng ta hiểu rằng, mỗi cá nhân tồn tại với tư cách là một “ con người tổng
thể” tham gia vào quá trình phát triển, biến đổi liên tục và đang trở hành chính
bản thân họ. Sở dĩ, một cá nhân nào đó mắc những rối nhiễu hay những hành vi
kém thích nghi là do sự tập nhiệm những mấu ứng xử sai lệch. Do vậy, việc tạo