Hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên và thực tiễn áp dụng - Pdf 33

MỤC LỤC

1


A: ĐẶT VẤN ĐỀ
Trẻ em là hạnh phúc của mỗi gia đình, là tương lai của đất nước, là lớp
người kế tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây.
Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”. Bởi vậy, chăm sóc, giáo dục, bảo vệ trẻ
em là thực hiện sự nghiệp trồng người, vì lợi ích lâu dài của đất nước. Từ nhiều
năm qua, trẻ em nước ta đã và đang hưởng sự chăm lo chu đáo “dành cho trẻ em
những gì tốt đẹp nhất”. Và để đảm bảo cho trẻ em được chăm sóc và giáo dục một
cách toàn diện, để tránh những xâm hại từ lối sống tiêu cực của một số ông bố bà
mẹ, luật hôn nhân và gia đình năm 2000 đã có một số quy định về vấn đề này. Để
hiểu hơn về vấn đề lý luận và thực tiễn của vấn đề em xin chọn đề tài: “ Hạn chế
quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên và thực tiễn áp dụng”

B: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I.

Cơ sở lí luận của việc hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành
niên
1. Khái niệm hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên
Trong cuộc sống, bên cạnh những người cha, người mẹ luôn dành tình yêu

thương, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chu đáo, thì cũng có những
người cha, người mẹ không làm tốt quyền và nghĩa vụ của mình đối với con,
thậm chí còn có hành vi vi phạm nghiêm trọng quyền lợi của con hoặc có lối
sống đồi trụy; xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức
xã hội, ảnh hưởng nghiêm trọng tới sự phát triển của con. Do vậy, để đảm bảo

3


được thể hiện bằng quyết định của tòa án khi cha, mẹ có hành vi xâm phạm
nghiêm trọng quyền và lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, khi cha, mẹ
có lối sống đồi trụy hoặc xúi giục con, ép buộc con làm việc trái pháp luật, trái
đạo đức xã hội. Quyết định hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành
niên không làm chấm dứt mối quan hệ giữa cha, mẹ và con mà chỉ không cho
cha, mẹ thực hiện một số quyền đối với con chưa thành niên trong một thời hạn
nhất định”
2.

Cơ sở lí luận của việc hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa
thành niên

Theo Điều 34 Luật HN&GĐ 2000 quy định: cha mẹ có nghĩa vụ và quyền
thương yêu, trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp
của con; tôn trọng ý kiến của con chăm lo việc học tập và giáo dục để con phát
triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ và đạo đức, trở thành người con hiếu thảo
cúa gia đình, công dân có ích của xã hội. Đó Chính là quyền và nghĩa vụ của
cha mẹ đối với con, tuy nhiên khi cha mẹ vi phạm những quyền này thì bị hạn
chế quyền của cha mẹ, nhưng pháp luật chỉ quy định hạn chế quyền của cha mẹ
đối với con chưa thành niên tức con chưa đủ 18 tuổi, bởi lẽ con đã thành niên
về nguyên tắc thông thường thì họ có đủ khả năng để bảo vệ mình, còn con
chưa thành niên theo quy định của pháp luật thì về nguyên tắc họ chưa đủ năng
lực hành vi dân sự nên chưa có đủ khả năng để bảo vệ mình trước hành vi vi
phạm của cha mẹ. Vậy cha mẹ vi phạm quyền và nghĩa vụ đến đâu thì bị hạn
chế quyền, theo quy định tại Điều 41 Luật HN& GĐ thì Tòa án có thể dựa trên
những căn cứ sau để ra quyết định hạn chế quyền của cha mẹ, cụ thể là:
Thứ nhất, Căn cứ vào việc cha mẹ đã bị kết án về một trong các tội cố ý

5


phẩm, hay không có một môi trường sống an toàn ảnh hưởng tới sự phát triển
bình thường của con.
Thứ ba, Cha mẹ có hành vi phá tán tài sản của con. Pháp luật nước ta công
nhận con có quyền có tài sản riêng, theo quy định của Bộ luật Dân sự thì tài sản
của con dưới 15 tuổi do cha mẹ quản lý, như vậy cha mẹ có nghĩa vụ bảo vệ
khối tài sản của con không được phá tán tài sản của con, cha mẹ không có
quyền định đoạt tài sản của con, nhưng hiện nay có vướng mắc với quy định
này là như khi tài sản của cha mẹ không đủ thì phải lấy tài sản của con để đảm
bảo cho những nhu cầu thiết yếu của gia đình và nhu cầu của con vậy khi đó có
được coi là phá tán hay không? Hay cha mẹ dùng tài sản của con vào đầu tư
kinh doanh nhưng chẳng may bị phá sản, bị mất vậy có được coi là phá tán hay
không?...Và vô số những trường hợp khác nữa. Vì vậy nên coi trường hợp cha
mẹ phá tán tài sản của con là việc cha mẹ dùng tài sản của con để đánh bạc, ăn
chơi, không dùng vào nhu cầu chung cho gia đình và dùng vào những mục đích
không tốt khác.
Thứ tư, cha mẹ có lối sống đồi trụy. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000
quy định: “…cha, mẹ tạo điều kiện cho con được sống trong môi trường gia
đình đầm ấm, hòa thuận; làm gương tốt cho con về mọi mặt…” ( Điều 37). Cha
mẹ có nghĩa vụ tạo cho con có một môi trường sống lành mạnh và cha mẹ phải
là những tấm gương sáng để con phát triển đúng chuẩn về thể chất, trí tuệ và
đạo đức. Khi cha mẹ có lối sống đồi trụy, tức là cha mẹ có lối sống lệch lạc, có
những hành vi thiếu văn hóa, vi phạm đạo đức, vi phạm kỉ luật, do vậy sẽ gây
ảnh hưởng xấu tới sự phát triển bình thường của con, nhất là về đạo đức và tinh
thần. Nguy hiểm hơn, lối sống không lành mạnh của cha mẹ còn có thể là
nguyên nhân dẫn tới hành vi phạm tội của con. Tuy nhiên rất khó để xem cha
mẹ có lối sống nào là lối sống đồi trụy để hạn chế quyền của cha mẹ.. Một trong
6


II.

Thực tiễn áp dụng việc hạn chế của cha mẹ đối với con chưa thành niên.
Hiện nay, rất nhiều trẻ em bị cha mẹ có những hành vi vi phạm nghĩa vụ

nghiêm trọng đối với các em, nhưng cả xã hội coi đó là chuyện bình thường của
gia đình, cho đến khi có nhiều trường hợp cha, mẹ có hành vi bạo lực về tinh
thần cũng như thể chất với con, ép buộc con làm việc trái pháp luật. Và có một
thực tế đáng buồn vẫn đang diễn ra ở nhiều địa phương trong cả nước ta. Đó là
tình trạng bạo hành, ngược đãi trẻ em trong gia đình cũng như ngoài xã hội.
Nhiều trẻ em vẫn còn phải lao động cực nhọc, ăn chưa đủ no, mặc chưa đủ ấm,
không được đi học, còn bị hành hạ về thể xác và tinh thần hoặc mua bán, xâm
hại… Không chỉ vậy, không ít trẻ em đã trở thành nạn nhân của chính cha mẹ
các em - những người trực tiếp sinh thành, dưỡng dục các em. Mặc dù trong
Luật HN&GĐ 2000 có hẳn các quy định về việc hạn chế quyền của cha mẹ đối
với con chưa thành niên, nhưng thực tế từ khi Luật 2000 có hiệu lực đến nay thì
trường hợp cha mẹ bị xử lý hạn chế quyền đối với con là rất ít so với các
trường hợp trong thực tiễn, và việc áp dụng quy định này còn rất lúng túng, cụ
thể như sau:
Thứ nhất, các chủ thể có quyền yêu cầu tòa án hạn chế quyền của cha mẹ,
cũng như những cơ quan chức năng chưa nhận thức và hiểu rõ về quy định này
của pháp luật nên chưa có nhiều trường hợp cha mẹ bị xử lý hạn chế quyền.
Theo quy định ở Điều 42 Luật HN&GĐ thì rất nhiều chủ thể có quyền yêu
cầu Tòa án hạn chế quyền của cha mẹ khi mà người cha, người mẹ này có hành
vi vi phạm nghiêm trọng đối với con họ, hành vi đó thỏa mãn căn cứ theo Điều
41của Luật HN&GĐ. Gần nhất là người cha hoặc người mẹ, cũng như người
thân thích của người con họ không hề biết hoặc biết nhưng không quan tâm đến
quy định hạn chế quyền của cha mẹ, khi có hành vi vi phạm của người cha hoặc
8


chí khi đói em cũng bị bỏ mặc không cho ăn, Chính quyền xã khi được hàng
xóm báo đã cùng hội phụ nữ cứu em khỏi bàn tay người mẹ, đưa em tới bệnh
viện. Theo Chủ tịch xã Long Hậu, nơi cư trú của em cho biết, chính quyền
quyết định tước quyền làm mẹ của Xuân Lan (mẹ bé Như Ý) vì người mẹ này
không hề quan tâm chăm sóc con. Tuy vậy, ông Chủ tích xã nhận thức chưa
đúng về các quy định của pháp luật. Pháp luật Việt Nam hiện hành không quy
định tước quyền làm cha, làm mẹ mà chỉ quy định hạn chế quyền của cha, mẹ
và thẩm quyền ra quyết định thuộc về tòa án chứ không phải thuộc về Ủy ban
nhân dân.
Tiếp theo, Tòa án cũng rất ít trường hợp tự mình ra quyết định hạn chế
quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên hoặc hiểu không đúng về bản
chất của việc hạn chế quyền này. Khi có các căn cứ theo quy định tại Điều 41
thì Tòa án có thể tự mình ra quyết định hạn chế quyền của người cha, người mẹ
vi phạm, nhưng thực tế thì Tòa án dường như rất ít trường hợp thực hiện việc ra
quyết định này. Thậm chí có những vụ án Tòa án đã xử người cha, người mẹ về
mặt hình sự về những hành vi bạo hành với con, ép buộc con làm việc trái pháp
luật nhưng trong những bản án ấy không hề có việc hạn chế quyền của cha mẹ
đối với con chưa thành niên. Chẳng hạn vụ: “Giận vợ, tẩm xăng thiêu sống con”
diễn ra ở Thanh Hóa vào 27/4/2011. Do có mâu thuẫn với vợ là chị Nguyễn Thị
Hà, tên Quang đã lấy khoảng 2 lít xăng tẩm lên người con là cháu Linh (3 tuổi,
con chị Hà). Cháu Linh đã bị bỏng xăng rất nặng, nguy kịch đến tính mạng.
Đây không phải là lần đầu tên ác thú này có ý định đốt con. Trước đó, đã một
lần Quang dội xăng vào người con trai nhưng chưa kịp đốt thì cháu bé được
cứu. Ác nhân Vũ Văn Quang mới đây đã bị xử 20 năm tù. Hay là việc Nguyễn
Thị Dung ở Tp HCM đã tổ chức mại dâm và môi giới mại dâm, trong đó có
việc ép con đẻ của Dung (sinh năm 1993) bán dâm từ năm 2007, tháng 12/2009
10



và hành vi phạm tội cũng như tính chất mức độ phạm tội ngày càng nghiêm
trọng hơn.
Mặt khác, thực tế rất hiếm hoi có trường hợp Tòa án khi tuyên phạt về hình
sự với người cha, người mẹ có hành vi bạo lực đối với con và trong bản án đó
cũng đã có nêu phần hạn chế quyền của cha, hoặc mẹ nhưng đã chưa hiểu rõ
bản chất của việc hạn chế này. Chẳng hạn trường hợp TAND tỉnh Bình Phước
xử phúc thẩm vụ bé Nguyễn Thị Hảo bị Mẹ đẻ là bà Mỳ đánh đập, bà Mỳ bị 2
năm tù giam về tội cố ý gây thương tích cho bé Hảo, đồng thời “Tòa còn hạn
chế quyền nuôi dưỡng bé Nguyễn Thị Hảo của vợ chồng Mỳ trong vòng năm
năm sau khi Mỳ ra tù”. Nếu theo bản án này thì Tòa án hạn chế quyền nuôi
dưỡng là không đúng mà vợ chồng bà Mỳ vẫn phải có nghĩa vụ nuôi dưỡng bé
Hảo, chỉ hạn chế quyền đối với việc chăm sóc, trông nom, giáo dục, quản lý tài
sản của bé, và đại diện pháp luật cho bé (Theo Điều 43 của Luật HN&GĐ
2000).
Thứ hai, không có đủ điều kiện để thực hiện việc hạn chế quyền của cha mẹ
đối với con chưa thành niên vào thực tiễn.
Theo quy định của pháp luật thì khi hạn chế quyền của cha mẹ đối với con
chưa thành niên tức là họ không có quyền chăm nom, chăm sóc, quản lý tài sản
riêng của con cũng như đại diện theo pháp luật cho con, nhưng họ vẫn phải có
nghĩa vụ nuôi dưỡng người con này. Như vậy, ở Nước ta ngay trong quy định
của pháp luật cũng không có hướng dẫn nào về việc tách người con đó ra khỏi
người cha, người mẹ đã có hành vi vi phạm. Hơn nữa với phong tục tập quán và
điều kiện kinh tế nước ta hiện nay thì người con vẫn sống chung với cha mẹ,
vậy nên khi có hạn chế quyền cha mẹ thì về mặt lý thuyết người con đó vẫn
phải sống chung với họ, dẫn tới nếu có hạn chế cũng chỉ là về mặt hình thức và
trên bản án, quyết định của Tòa án thôi chứ khó có thể thực hiện triệt để và
12


đúng bản chất trên thực tế được vì vậy quyền của người con chưa được bảo vệ.

18001567 để các em bày tỏ ý kiến của mình trước hành vi bị xâm phạm, tuy
nhiên đường dây đó chỉ có tác dụng đối với những em có điều kiện và biết nhận
thức và câu hỏi đặt ra bao nhiêu em biết số điện thoại này, khi các em điện đến
đường dây này thì các em cũng chỉ được chia sẻ của những tổng đài viên chứ
thực sự các em chưa nhận được sự giúp đỡ của những cơ quan chức năng.
Trong khi đó, điều cốt yếu các em cần là những biện pháp thực tế và kịp thời để
bảo vệ quyền cảu các em.
Đồng thời, hiện nay đội ngũ cán bộ làm công tác bảo vệ trẻ em vừa thiếu về
chất lượng và yếu về số lượng, lại luôn có sự biến động do sự thay đổi về cấu
trúc tổ chức. Cụ thể trước năm 2007, có khoảng 160 nghìn cộng tác viên bảo vệ
và chăm sóc trẻ em ở thôn, bản thì đến cuối năm 2010 chỉ còn có khỏang 7
nghìn. Tỷ lệ nhân viên công tác xã hội so với nước ta khoảng 1/10 000 dân,
trong khi đó nhiều nước trên thế giới đạt 1/2000 dân. Như vậy, với việc thiếu về
số lượng và yếu về chất lượng của các bộ chuyên trách và cơ chế bảo vệ trẻ em
thì việc áp dụng quy định hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành
niên vào thực tiễn là chưa có hiệu quả.
III.

Giải pháp nâng cao hiệu quả quy định hạn chế của cha mẹ đối với con
chưa thành niên.
Thứ nhất, cần phải tuyên truyền cho cha mẹ cũng như thành viên trong xã

hội hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con trong Luật HN&GĐ,
quyền của trẻ em trong Luật Bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em. Làm cho cha
mẹ biết mình thực hiện quyền và nghĩa vụ ra sao, được làm gì và không được
làm gì với con. Đồng thời tuyên truyền cho cha mẹ biết được quy định hạn chế
quyền của cha mẹ khi cha mẹ vi phạm quyền đối với con, đó chính là chế tài sẽ
được áp dụng đối với họ. Đồng thời chỉ dẫn biết cách bảo vệ quyền của trẻ em,
14


C: KẾT THÚC VẤN ĐỀ
Như vậy, ta có thể thấy rằng pháp luật quy định hoàn toàn hợp lí về việc hạn
chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên trong một số trường hợp. Điều
này nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho trẻ chưa thành niên. Mặt khác
con ngăn chặn tình trạng nhiều trường hơp cha, mẹ lợi dụng, xúi giục con cái làm
chuyện xấu. Tuy nhiên hệ thống pháp luật hiện nay quy đinh về việc hạn chế quyền
của cha, mẹ đối với con chưa thành niên còn một số điểm bất cập, mong rằng các
nhà làm luật nước ta sẽ có những giải pháp pháp hiệu quả để quy định này trở nên
thiết thực hơn để bảo vệ quyền lợi cho trẻ em nói chung và trẻ em chưa thành niên
nói riêng, những mầm non tương lai của đất nước.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.

Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật hôn nhân và gia đình Việt

2.

Nam, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2009
Luật Hôn nhân và gia đình, Nhà xuất bản lao động

16


3.

Đỗ Thị Thu Hương, Áp dụng quy định về hạn chế quyền của cha mẹ đối với
con chưa thành niên và vấn đề bảo vệ quyền trẻ em, Luận văn Thạc sĩ Luật


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status