Khảo sát, đánh giá việc chấp hành quy định Pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi được áp dụng tại một số doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Nghệ An - Pdf 33

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng toàn bộ những nội dung và số liệu trong bài
tiểu luận này do tôi tự nghiên cứu, khảo sát và thực hiện tại một số doanh
nghiệp trên địa bàn Tỉnh Nghệ An. Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước nhà
trường về sự cam đoan này.
Hà Nội, ngày12 tháng 12 năm 2015
Sinh viên thực hiện
TRỬ
MÙA Y TRỬ


LỜI CẢM ƠN

Em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sự tri ân sâu sắc đối với các thầy
cô trong trường đã tạo cơ hội cho em tiếp cận môn học mới và đầy ý nghĩa này.
Và em cũng xin chân thành cám ơn tới cô giáo Đoàn Thị Vượng đã nhiệt tình
trong việc hướng dẫn em hoàn thành tốt bài tiểu luận này.
Trong quá trình nghiên cứu, khảo sát và đánh giá do trình độ lý luận
cũng như kinh nghiệm thực tiễn còn hạn chế nên bài tiểu luận này không thể
tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các
Thầy, Cô để em có thể có cơ hội học thêm, tiếp thu thêm được nhiều kinh
nghiệm và sẽ hoàn thành tốt hơn trong các bài tiểu luận sắp tới.
Em xin chân thành cảm ơn!


BẢNG KÊ CHỮ VIẾT TẮT
STT
1
2
3

1.1.1. Khái niệm thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi...............................
1.1.2. Các nguyên tắc điều chỉnh thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi....
1.1.3. Mối quan hệ thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi với một sổ nội dung
trong quan hệ lao động....................................................................................
1.2. Quy định của pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi......
1.2.1. Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi theo quy định của tổ chức lao
động quốc tế (ILO)..........................................................................................
1.2.2. Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi theo quy định của một số nước
trên thế giới......................................................................................................
1.3. Nội dung chế độ giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi theo quy định của
pháp luật lao động Việt Nam........................................................................
1.3.1. Thời giờ làm việc...............................................................................
1.3.2. Thời giờ nghỉ ngơi.............................................................................
1.3.3. Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi đối với người lao động làm các
công việc có tính chất đặc biệt........................................................................
CHƯƠNG 2. THỰC TIỄN ÁP DỤNG THỜI GIỜ LÀM VIỆC, THỜI GIỜ
NGHỈ NGƠI TẠI MỘT SỐ DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH
NGHỆ AN.
2.1. Khái quát vấn đề thực hiện thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi tại các
doanh nghiệp ở Nghệ An .................................................................................
2.2. Tình hình thực hiện thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi tại một số
doanh nghiệp trên địa ban tỉnh Nghệ An........................................................
2.2.1. Công ty cổ phần dệt may Hoàng Thị Loan..........................................


2.2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty cổ phần dệt may
Hoàng Thị Loan................................................................................................
2.2.1.2. Thực trạng thực hiện thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi tại
Công ty Cổ phần dệt may Hoàng Thị Loan......................................................
2.2.2. Công ty cổ phần xi măng dầu khí 12/9................................................

sự cạnh tranh khốc liệt ngày càng đa dạng và mạnh mẽ của nền kinh tế thị
trường, các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Nghệ An nói riêng với mong muốn
tạo nên sức cạnh tranh mới để phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh của
mình dựa trên nguồn lực sẵn có đã khai thác triệt để sức lao động của người lao
động. Vì vậy, vấn đề vi phạm thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi là điều
không tránh khỏi tại các doanh nghiệp có sử dụng lao động, nó như một quy
luật khách quan tất yếu của cuộc sống. Để giảm bớt những sai phạm và thực
hiện có hiệu quả pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi tỉnh Nghệ
An đã chỉ đạo các ban ngành có liên quan không ngừng nâng cao công tác
tuyên tuyền pháp luật lao động, tổ chức các lớp tập huấn về tìm hiểu pháp luật
thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi cho các cán bộ quản lý, người sử dụng lao
động, người lao động. Đồng thời, mở rộng các đợt kiểm tra, thanh tra về việc
thực thi pháp luật lao động tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh.
Bộ luật lao động năm 1994 (sửa đổi, bổ sung qua các năm 2002, 2006,
2007) và hệ thống các thông tư, nghị định về lao động đã cụ thể hóa đường
lối của Đảng và Nhà nước, cũng như các quy định của Hiến pháp về các vấn


đề lao động. Trong đó, ghi nhận và từng bước hoàn thiện chế định thời giờ
làm việc, thời giờ nghỉ ngơi nhằm phù hợp với sự phát triển của xã hội.
Chế định thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi là một nội dung quan
trọng trong pháp luật lao động vì nó liên quan đến quyền và lợi ích của người
lao động làm công ăn lương. Người lao động có được bảo vệ tốt hay không là
nhờ hành lang pháp lý chặt chẽ của pháp luật, một phần chủ yếu là được bảo
vệ về thời gian làm việc, thời gian nghỉ ngơi nhằm phát huy tốt năng lực
người lao động.
Với những lý do trên, nên em chọn đề tài: "Khảo sát, đánh giá việc
chấp hành quy định Pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi
được áp dụng tại một số doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Nghệ An" cho
bài tiểu luận của mình, nhằm đi sâu vào nghiên cứu thời giờ làm việc, thời

Thời giờ làm việc, thời gian nghỉ ngơi là vấn đề quan trọng được đề cập
trong rất nhiều bài viết, buổi thảo luận và tại các công trình nghiên cứu khoa
học trong và ngoài nước của nhiều cơ quan, tổ chức quản lý lao động, người
lao động trong đó cả có học sinh, sinh viên. Một số công trình khoa học tiêu biểu
và các văn bản có liên quan đến vấn đề khảo sát, đánh giá việc chấp hành các quy định thời giờ
làm việc, thời giờ nghỉ ngơi có thể nêu như sau:
 “Thỏa ước lao động tập thể là văn bản thỏa thuận giữa tập thể lao động
và người sử dụng lao động về các điều kiện lao động và sử dụng lao
động, quyền lợi và nghĩa vụ của hai bên trong quan hệ lao động” (của
tác giả Lê Thị Phượng).
 “Thực trạng của việc thực hiện luật pháp chế độ chính sách về bảo hộ
lao động tại các doanh nghiệp thuộc ngành xây dựng tỉnh Thanh Hóa và
các giải pháp nâng cao hiệu quả của các quy định trên” (của tác giả
Nguyễn Lê Thanh).


 Bài viết: “Người lao động cần 500 giờ làm việc trên một năm” (cập nhật
28/1/2010 của trang báo Dantri.com.vn).
 Bài viết: “Giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ mới thực trạng và giải
pháp” (của tác giả Ngô Viết Hoàn)
 Bài viết: "Hoàn thiện pháp luật điều chỉnh thời giờ làm việc, thời giờ
nghỉ ngơi trong điều kiện nền kinh tế thị trường úc" (của tác giả Peter
Donald)
 Bài viết:"Chế định thời giờ làm việc theo pháp luật lao động Thụy Điển"
(của tác giả Olof Stenqvist).
Là một tỉnh đầy tiềm năng ở miền Trung với lực lượng tham gia vào lực
lượng lao động cao việc thực hiện và chấp hành quy dịnh của pháp luật về
thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi ngày càng theo hướng hiện đại, đúng với
quy định của pháp luật và mang lại hiệu quả tích cực cho lao động. Thông
qua sự chấp hành đó sẽ tạo điều kiện thuận lợi để đạt được hiệu quả cao ở cơ

hiện chiến lược con người. Việc điều chỉnh thời giờ làm việc thời giờ nghỉ
ngơi nhằm để các bên trong quan hệ lao động thực hiện đầy đủ quyền và
nghĩa vụ của mình. Đồng thời là căn cứ để cơ quan nhà nước có thẩm quyền
kiểm tra, giám sát việc sử dụng lao động và xử lý vi phạm một cách kịp thời.
Hiện nay thời làm việc thời giờ nghỉ ngơi được áp dụng đối với người
lao động làm việc trong các doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức sau:
• Doanh nghiệp thành lập, hoạt động theo Luật doanh nghiệp Nhà nước
• Doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo Luật doanh nghiệp năm 2005
sửa đổi, bổ sung.
• Doanh nghiệp hoạt động theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt nam năm
1996.
• Doanh nghiệp của tổ chức chính trị, tổ chức chính t r ị - x ã hội.
• Hợp tác xã hoạt động theo Luật hợp tác xã, tổ hợp tác, hộ gia đình.


• Cơ quan, tổ chức quốc tế hoặc người nước ngoài trên địa bàn Việt Nam.
• Các đối tượng là công chức, viên chức trong cơ quan hành chính sự
nghiệp; tổ chức chính trị; tổ chức chính trị xã hội; đoàn thể nhân dân;
người thuộc lực lượng quân đội nhân dân, công an nhân dân.
Như vậy, khái niệm thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi được xem như
các quyền và nghĩa vụ cơ bản của con người, nó được áp dụng cho nhiều đối
tượng khác nhau mà pháp luật lao động phải thể hiện được nội dung tinh thần
đó.
1.1.2. Các nguyên tắc điều chỉnh thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi
Nguyên tắc là những tư tưởng chủ đạo, cơ bản mang tính xuất phát
điểm trong suốt quá trình xây dựng áp dụng các quy phạm pháp luật. Trong
chế định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi các nguyên tắc điều chỉnh
bao gồm:
• Nguyên tắc thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi do Nhà nước quy
định. Pháp luật quy định thời giờ làm việc tối đa là 8 giờ một ngày hoặc

động duy trì được thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi theo đúng quy
định của pháp luật.
 Với bảo hộ lao động: Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi của người
lao động cũng cần được bảo hộ bởi thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi
là quyền của người lao động, gắn chặt với người lao động. Bảo hộ lao
động góp phần trực tiếp vào bảo vệ người lao động khi họ đang thực
hiện nghĩa vụ lao động. Chế độ bảo vệ sức khỏe cho người lao động
trong bảo hộ lao động là căn cứ để xây dựng mối quan hệ với thời giờ
làm việc và thời giờ nghỉ ngơi.
 Tức là, để duy trì sức khỏe cho người lao động cần xây dựng hợp lý thời
giờ làm việc và thời giờ nghỉ ngơi như: Rút ngắn thời giờ làm việc đối
vớii lao động làm các công việc có tính chất độc hại, nguy hiểm; hạn chế
làm ca đêm và làm thêm giờ đối với những đối tượng này.
 Với kỷ luật lao động: Việc tuân thủ về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ
ngơi giúp cho người lao động giữ vững kỷ luật lao động. Xây dựng kỷ


luật lao động nhằm khuyến khích người lao động gương mẫu chấp hành
thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ ngơi theo đúng quy định của pháp luật,
tạo điều kiện cho người lao động sử dụng hợp lý thời gian lao động.
 Với việc làm và bảo đảm việc làm: Việc làm là căn cứ để xây dụng và
thực hiện thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi một cách hợp lý nhằm bảo
vệ người lao động. Có đảm bảo việc làm mới duy trì được thời gian lao
động và ngược lại.
 Với định mức lao động: Định mức lao động là việc xác định ở công việc
nào cho đối tượng nào sẽ được hưởng thời gian như thế nào và trả lương
ra sao cho hợp lý.
1.2. Quy định của pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi
1.2.1. Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi theo quy định của tổ chức
lao động quốc tế (ILO)

phải làm việc cực nhọc 12-14 giờ mỗi ngày không phải là điều hiếm. Tại
Hungary, đạo luật công nghiệp đầu tiên được phê chuẩn năm 1872 đã "giảm
mội cách đáng kể thời gian làm việc" là 16 tiếng hằng ngày.
Tại Đại hội Giơnevơ (1866), Liên hiệp Công nhân Quốc tế (thường
được biết đến với tên gọi Đệ nhất Quốc tế hay Quốc tế Lao động) đã thông
qua Nghị quyết đòi giới chủ xưởng phải chấp nhận cho công nhân làm việc 8
giờ mỗi ngày. Ngày 1-5-1896, AFL đã kêu gọi và tổ chức một cuộc tổng đình
công khổng lồ. Tại Millwaukee và Chicago, cảnh sát đã nã súng vào đoàn
biểu tình gồm hàng trăm người, khiến nhiều người bỏ mạng. Bốn năm sau,
Đệ nhị Quốc tế (Quốc tế Xã hội) tuyên bố 1-5 là ngày "Quốc tế Lao động" và
yêu cầu giới công nhân các nước hãy xuống đường vào ngày này hàng năm
để tưởng nhớ những nạn nhân và đòi hỏi quyền được làm việc - nghỉ ngơi giải trí đúng mức.


Thế kỷ XX, tại các quốc gia XHCN Quốc tế Lao động 1-5 trở thành
ngày lễ lớn nhất mang tầm quốc gia. Trong ngày đó, những cuộc diễn hành
lớn và ngoạn mục đã được tổ chức với sự tham gia của nhiều giai tàng dân
chúng, nhằm biểu dương những thành tựu kinh tế và xã hội của giai cấp công
nhân dưới sự lãnh đạo tài tình và sáng suốt của Đảng. Từ thập niên 90 thế kỷ
trước, với sụ sụp đổ của các hệ thống XHCN, 1-5 được gọi bằng tên mới
"Ngày Đoàn kết của người lao động". Tại các thành phố lớn trên thế giới,
nhân ngày 1-5, các tổ chức nghiệp đoàn vẫn tiến hành những cuộc xuống
đường đòi bảo vệ và thực hiện những quyền lợi chính đáng của giới thợ, đòi
mức lương và lương hưu xứng đáng cho người lao động...
Năm 1919 tại Anh, tổ chức lao động quốc tế (ILO) thành lập, đã lần lượt
thông qua các Công ước về vấn đề thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi.
Công ước số 1 (1919) và Công ước số 30 (1930) quy định ngày làm việc
trong các xí nghiệp công nghiệp, trong các cơ sở thương mại buôn bán là 8
giờ hoặc 9 giờ hoặc 48 giờ một tuần.
Công ước số 89 (1948) về làm việc ban đêm của phụ nữ trong công

(ILO) năm 1970 quy định số ngày nghỉ có hưởng lương là do các thành viên
quy định nhưng không được dưới 3 tuần làm việc cho một năm làm việc.
Công ước số 14 (1931) quy định về ngày nghỉ hàng tuần trong công
nghiệp. Công ước số 106 (1957) quy định về ngày nghỉ hàng tuần trong
thương mại, văn phòng. Theo đó người lao động phải được nghỉ tối thiểu
lngày trong mỗi kỳ 7 ngày.
Tóm lại, tổ chức lao động quốc tế (ILO) đã có một hệ thống quy định về
thời giờ làm việc, thời gian nghỉ ngơi tương đối hợp lý. Các quy định đó đều
dựa trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá và nắm bắt tình hình chung của tất cả các
nước thành viên. Việc ban hành các quy định đó nhằm mục đích tạo hành
lang pháp lý cho các quốc gia thành viên quy định trong pháp luật của quốc


gia mình, tạo cơ sở kiểm soát tình trạng bóc lột sức lao động trong pham vi
toàn cầu, tiến tới mục tiêu chung là bảo vệ người lao động.
1.2.2. Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi theo quy định của một số
nước trên thế giới
 Theo Nhật Bản nhà tuyển dụng không được quy định thời gian làm việc
quá 8 tiếng một ngày, 40 tiếng một tuần (theo Điều 32, Điều 40 của
Luật Lao Động tiêu chuẩn của Nhật Bản). Nhà tuyển dụng phải cho
người lao động nghỉ ít nhất một ngày trong tuần, hay 4 ngày trong thời
gian 4 tuần (Điều 35 của Luật lao động tiêu chuẩn của Nhật Bản).
Đối với giờ làm việc ngoài thời gian làm trên sẽ được tính là thời gian
làm thêm và người lao động phải được trả thêm lương tính theo tỷ lệ 25% trở
lên của thời gian làm việc bình thường trong những ngày làm việc trong tuần.
Nếu người lao động phải làm thêm trong ngày nghỉ thì mức trả thêm này tối
thiểu phải là 35%.
Thêm vào đó, thời gian làm thêm vào buổi đêm (sau 10 giờ tối đến 5 giờ
sáng) sẽ được tính thêm 25% trở lên thời gian làm việc bình thường trong
những ngày làm việc trong tuần (Điều 35 của Luật lao động tiêu chuẩn của

của pháp luật lao động Việt Nam
1.3.1. Thời giờ làm việc
Thời giờ làm việc được hiểu là khoảng thời gian do pháp luật quy định
hoặc sự thỏa thuận của các bên. Trong thời gian đó người lao động phải có
mặt tại địa điểm làm việc để thực hiện những công việc, nhiệm vụ được giao
phù họp với quy định của pháp luật hoặc tự thỏa thuận trong hợp đồng lao
động.
Thời giờ làm việc không đơn thuần là khoảng thời gian người lao động
bỏ công sức của mình để làm việc mà theo quy định tại Khoản 3 Điều 3 Nghị


định 195/CP ngày 31/12/1994 thì những thời gian sau được tính vào làm việc
có hưởng lương bao gồm:
+ Thời giờ nghỉ giữa ca làm việc;
+ Thời giờ nghỉ giải lao theo tính chất công việc;
+ Thời giờ nghỉ cần thiết trong quá trình lao động đã được tính trong
định mức cho nhu cầu sinh lý tự nhiên của con người;
+ Thời giờ nghỉ giải lao theo tính chất công việc;
+ Thời giờ nghỉ 60 phút đối với người lao động nữ nuôi con dưới 12
tháng tuổi;
+ Thời giờ nghỉ mỗi ngày 30 phút đối với người lao động nữ trong thời
gian hành kinh;
+ Thời giờ phải ngừng việc không do lỗi của người lao động;
+ Thời giờ học tập, huấn luyện về an toàn lao động - vệ sinh lao động;
+ Thời giờ hội họp, học tập do yêu càu của người sử dụng lao động hoặc
được người sử dụng lao động cho phép.
 Thời giờ làm việc theo quy định của pháp luật được chia ra năm loại:
+ Thời giờ làm việc tiêu chuẩn: là khoảng thời gian được đưa vào mục
ngày làm việc trong đó pháp luật quy định cụ thể khoảng thời gian làm việc
của người lao động trong một ngày đêm. Hiện nay có hai loại ngày làm việc

động làm các nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thì
số giờ làm thêm trong một ngày không quá 3 giờ;
• Tổng số giờ làm thêm trong một tuần không quá 16 giờ, riêng đối với
người lao động làm các nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại,
nguy hiểm thì số giờ làm thêm trong tuần không quá 12 giờ;
• Tổng số giờ làm thêm trong 4 ngày liên tục không quá 14 giờ, riêng đối
với người lao động làm các nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thì
tổng số giờ làm thêm trong 4 ngày liên tục không quá 10 giờ;


• Hằng tuần, người lao động được nghỉ ít nhất 1 ngày (24 giờ liên tục).
Trong trường họp đặc biệt do chu kỳ lao động không thể bố trí nghỉ hàng
tuần thì phải đảm bảo hàng tháng có ít nhất 4 ngày nghỉ cho người lao
động;
• Trong trường hợp người lao động làm thêm 2 giờ trong một ngày thì
trước khi làm thêm phải bố trí cho họ được nghỉ ít nhất 30 phút tính vào
giờ làm thêm;
• Bố trí cho người lao động được nghỉ hoặc nghỉ bù đủ các ngày Lễ, Tết,
nghỉ hàng năm và các ngày nghỉ có hưởng lương khác theo quy định của
pháp luật;
• Thực hiện đúng các quy định tại Điều 115, Điều 122, Điều 127 của Bộ
luật lao động sửa đổi, bổ sung về việc cấm hoặc hạn chế làm thêm giờ
đối với lao động nữ, lao động là người tàn tật, lao động là người chưa
thành niên;
• Thực hiện trả lương và các chế độ khác liên quan đến làm thêm giờ đúng
theo quy định của pháp luật;
Trong trường hợp huy động làm thêm giờ dến 300 giờ trong một năm
cần thực hiện đúng nguyên tắc thỏa thuận với Ban chấp hành Công đoàn cơ
sở hoặc Ban chấp hành Công đoàn lâm thời tại doanh nghiệp, đơn vị về
phương án làm thêm giờ. Riêng trong trường hợp khắc phục hậu quả do thiên

bổ sung).
• Người lao động có trình độ chuyên môn, kỷ thuật cao có quyền kiếm
việc hoặc kiêm chức trên cơ sở giao kết nhiều hợp động với nhiều sử
người lao động, với điều kiện đảm bảo thực hiện đầy đủ các hợp đồng
lao động đã kí kết và phải báo trước cho người sử dụng lao động biết
(khoản 1 Điều 129 Bộ luật lao động sửa đổi, bổ sung).
Pháp luật quy định thời giờ làm việc áp dụng chung cho đại bộ phận làm
việc trong điều kiện bình thường tại Khoản 1 Điều 68 Bộ luật lao động là:
“Không quá 8 giờ một ngày hoặc 48 giờ trong một tuần. Người lao động có
quyền quy định thời giờ làm việc theo ngày hoặc theo tuần nhưng phải thông
báo cho người lao động biết. Đối với những người lao động làm các công


việc có tính chất đặc biệt nặng nhọc, nguy hiểm, độc hại được quy định tại
khoản 2 Điều 68 Bộ luật lao động là thời giờ làm việc hàng ngày được rút
ngắn tò một đến hai giờ.
Có thể thấy, pháp luật đã giới hạn khoảng thời gian tối đa làm việc,
người sử dụng lao động phải thực hiện chế độ làm việc theo khung giới hạn
này, không được tự ý rút ngắn hoặc vượt quá. Tuy nhiên, việc lựa chọn thời
gian làm việc theo ngày hoặc theo tuần tùy thuộc vào người sử dụng lao động
và tính chất công việc. Trong một số trường hợp do tính chất sản suất theo ca,
kíp mà phải phân bố lại thời gian làm việc trong tuần, trong tháng cho thích
hợp thì người sử dụng phải thống nhất với công đoàn cơ sở trên cơ sở ký kết
thỏa ước lao động tập thể và nguyên tắc chung về thời giờ làm việc theo quy
định của pháp luật.
Như vậy, quy định về thời giờ làm việc trong Bộ luật lao động và các
văn bản kèm theo đã rất đầy đủ và cụ thể, nó như một biện pháp hữu hiệu để
giải quyết công việc cho người lao động. Nó được quy định dựa trên cơ sở
kết họp hài hòa giữa lợi ích của người sử dụng lao động và người lao động
trong đó việc bảo vệ quyền lợi của người lao động được đặt lên hàng đầu.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status