Thực trạng và giải pháp của việc áp dụng bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động
MỤC LỤC
Lòi mở đầu
1
Chương 1: Bảo hiểm thất nghiệp trong mối tương quan vói bảo hiểm xã
hội................................................................................................3
1.1
Khái quát chung về bảo hiểm xã hội....................................................3
1.1.1
Sơ lược về lịch sử ra đời của bảo hiểm xã hội....................................3
1.1.2
Khái niệm về bảo hiểm xã hội............................................................10
1.1.3
Bản chất của bảo hiểm xã hội............................................................10
1.1.4
Vai trò của bảo hiểm xã hội...............................................................11
1.1.5
Phân biệt bảo hiểm kinh doanh và bảo hiểm xã hội..........................12
Phân biệt bảo hiểm thất nghiệp và trợ cấp thất nghiệp.....................19
1.3
Nhà nước tổ chức quản lý bảo hiểm thất nghiệp................................20
1.4
Pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp của một số nước phát triển trên thế
giới...............................................................................................20
1.4.1
Khái quát chung về bảo hiểm thất nghiệp ở Mỹ................................20
1.4.2
Pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp ở Thụy Điển................................25
Chương 2: Quy định của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp, thực trạng và
giải pháp của việc áp dụng bảo hiểm thất nghiệp cho ngưòi lao động.........28
2.1 Quy định của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp và thực trạng áp dụng.28
2.1.1 Đối tượng tham gia bảo hiểm thất ngiệp.............................................28
2.1.2 Thủ tục thực hiện bảo hiểm thất nghiệp...............................................32
2.1.3 Điều kiện để người lao động hưởng bảo hiểm thất nghiệp..................36
2.1.4 Mức đóng, mức hưởng bảo hiểm thất nghiệp và các hỗ trợ khác cho người
bị thất
2.1.5 lao
Cácđộng
nhưng khả năng thu hút lao động của nền kinh tế lại có hạn, vì hai nguyên nhân hên
nên tỷ lệ thất nghiệp nước ta ngày càng tăng nhanh. Nếu tình trạng thất nghiệp cứ tiếp
tục gia tăng như hiện nay mà không có biện pháp hạn chế thì nó không chỉ tác động
trực tiếp đến đời sống người lao động mà còn ảnh hưởng đến sự tăng trưởng kinh tế
đất nước và vấn đề an sinh xã hội. Vì thế thất nghiệp đã trở thành một vấn đề kinh tế xã hội bức bách rất được Đảng và Nhà nước ta quan tâm , và vì mục tiêu “ Dân giàu,
Nước mạnh - Xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” nên việc hạn chế tỷ lệ thất nghiệp
là nền tảng để xây dựng mục tiêu trên. Hơn thế nữa, thất nghiệp là một trong những
nguyên nhân phổ biến nhất gây ra những tệ nạn xã hội và là tiền đề của các loại tội
phạm như: trộm, cướp, giết người.. .Song, nó còn ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống văn
hóa xã hội.
Thất nghiệp là vấn đề mang tính toàn cầu, không một quốc gia nào là ngoại lệ,
điều này có nghĩa là một đất nước phát triển đến mức độ nào đi nữa thì vẫn không
tránh khỏi tình trạng thất nghiệp xảy ra và các quốc gia hơn nhau ở chổ là họ làm như
thế nào để tỷ lệ thất nghiệp trên cả nước ở mức thấp nhất. Trước những tác hại không
hề nhỏ của thất nghiệp đối với sự phát triển kinh tế - xã hội như thế, thì chúng ta cần
phải có những biện pháp thiết thực để hạn chế tỷ lệ thất nghiệp một cách hiệu quả. Bảo
hiểm thất nghiệp là một trong những biện pháp hữu hiệu để ngăn chặn sự gia tăng của
thất nghiệp, nghị định 127/CP được chính phủ ban hành ngày 12/12/2008 như một
bước tiến mới cho việc chuẩn bị đưa bảo hiểm thất nghiệp áp dụng vào thực tiễn. Đây
là giải pháp hoàn toàn mới ở Việt Nam nhưng đẫ được rất nhiều nước trên thế giới áp
dụng khá thành công như Mỹ và Thụy Điển, là hai nước có nền kinh tế phát triển bậc
nhất nhưng họ cũng rất quan tâm đến vấn đề thất nghiệp. Qua 2 năm thực hiện Bảo
hiểm thất nghiệp tuy đã đạt được kết quả khả quan, bên cạnh đó cũng gặp không ít
những khó khăn trong vấn đề áp dụng vì đây là quy định quá mới đối với người lao
động và kể cả nhà nước. Vì thế nên có những bài viết nghiên cứu và cho ý kiến về vấn
đề này nhằm hoàn thiện nó.
2. Mục đích nghiên cứu
Do bảo hiểm thất nghiệp là một quy định rất mới ở nước ta nên việc ban hành các
văn bản hướng dẫn và áp dụng bảo hiểm thất nghiệp trên thực tế còn rất nhiều thiếu
xót và không ít khó khăn. Mặc dù đã qua hơn 2 năm thực hiện nhưng hành lang pháp
4. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài chủ yếu nghiên cứu về thực tiễn của việc áp dụng bảo hiểm thất nghiệp
cho người lao động, đây là một vấn đề mang tính chất lý luận tổng họp nên người viết
chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích luật viết kết họp với phương pháp phân tích
tổng họp, đánh giá các báo cáo về việc thực thi bảo hiểm thất nghiệp.
5. Cấu trúc đề tài
Đề tài gồm 2 chương, vấn đề được tập trung ở chương 2. Bố cục của luận văn
gồm 4 phần:
-
Lời mở đầu
-
Chương 1: Bảo hiểm thất nghiệp trong mối tương quan với bảo hiểm xã hội
-
Chương 2: Quy định của pháp luật Việt Nam về bảo hiểm thất nghiệp, Thực
trạng và giải pháp của việc áp dụng bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động
-
Kết luận.
GVHD:Nguyễn Ánh Minh
Trang 5
SVTH:Đào Trần Thúy Hằng
là Cộng hòa Liên bang Đức) dưới thời của Thủ tướng Otto von Bismarck (1850) và
sau đó được hoàn thiện (1883-1889) với chế độ bảo hiểm ốm đau; bảo hiểm rủi ro
nghề nghiệp; bảo hiểm tuổi già, tàn tật và sự hiện diện của cả 3 thành viên xã hội:
người lao động; người sử dụng lao động và Nhà nước. Kinh nghiệm về bảo hiểm xã
hội ở Đức, sau đỏ, được lan dần sang nhiều nước trên thế giới, đầu tiên là các nước
châu Âu (Anh:1919, Ý: 1919, Pháp: từ 1918 ...), tiếp đến là các nước châu Mỹ Latinh,
Hoa Kỳ, Canada (từ sau 1930) và cuối cùng là các nước châu Phi, châu Á (giành độc
GVHD:Nguyễn Ánh Minh
Trang 6
SVTH:Đào Trần Thúy Hằng
Thực trạng và giải pháp của việc áp dụng bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động
lập sau chiến tranh thế giới lần thứ 2. Theo tổng kết của ILO (công ước 102 năm
1952), bảo hiểm xã hội bao gồm 9 chế độ chủ yếu sau: Chăm sóc y tế, trợ cấp ốm đau,
trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp tuổi già, trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, trợ cấp
gia đình, trợ cấp thai sản, trợ cấp tàn tật, trợ cấp tử tuất. Công ước cũng nói rõ là
những nước phê chuẩn công ước này có quyền chỉ áp dụng một số chế độ, nhưng ít
nhất phải áp dụng một trong các chế độ: trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp tuổi già, trợ cấp tai
nạn lao động - bệnh nghề nghiệp, trợ cấp tàn tật hoặc ừợ cấp tử tuất. Việc áp dụng bảo
hiểm xã hội trên của quốc gia khác nhau thường cũng rất khác nhau về nội dung thực
hiện tùy thuộc vào nhu cầu bức bách của riêng từng noi trong việc đảm bảo cuộc sống
của người lao động, ngoài ra, còn tùy thuộc vào khả năng tài chính và khả năng quản
lý có thể đáp ứng. Tuy nhiên, xu hướng chung là theo đà phát triển kinh tế - xã hội,
bảo hiểm xã hội sẽ mở rộng dần về số lượng và nội dung thực hiện của từng chế độ.
Theo thống kê của ILO, đến năm 1981, có 139 nước có thực hiện hệ thống an
sinh xã hội nói chung, bảo hiểm xã hội nói riêng, trong đó có 127 nước có chế độ trợ
cấp tuổi già, tàn tật và tử tuất; 79 nước có chế độ trợ cấp ốm đau và thai sản, 136 nước
các văn bản lại chưa hoàn thiện và đồng bộ, ảnh hưởng đến việc tổ chức thực hiện.
“Một so vấn để quan trọng, cấp thiết đến đời song của đông đảo công nhân viên chức
như chế độ hưu tri, trợ cấp mẩt sức lao động, thôi việc, chế độ trợ cấp bệnh nghề
nghiệp chưa được quy định
Nhìn chung giai đoạn này các chế độ bảo hiểm xã hội chưa được quy định một
cách toàn diện, quỹ bảo hiểm xã hội chưa được hình thành. Tuy nhiên, các chế độ trợ
cấp, phụ cấp mang tính chất bảo hiểm xã hội trong giai đoạn đầu thành lập nước, trong
kháng chiến và những năm đầu hoà bình lập lại đã có tác dụng rất to lớn, giải quyết
một phần những khó khăn trong sinh hoạt của công nhân viên chức Nhà nước và gia
đình họ, củng cố thêm lòng tin của nhân dân vào Đảng, Chính phủ và làm cho mọi
người an tâm, phấn khởi đẩy mạnh công tác, sản xuất, thu hút lực lượng lao động vào
khu vực kinh tế Nhà nước.
Giai đoạn thực hiện điểu lệ bảo hiểm xã hội tạm thời (từ 1961 đến 12/1994)
Để phù họp với điều kiện kinh tế, xã hội của đất nước, đáp ứng yêu cầu không
ngừng cải thiện đời sống của công nhân viên chức Nhà nước, các chế độ trợ cấp xã hội
cần được bổ sung và sửa đổi cho phù họp với thời kỳ xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở
miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam. Tại Điều 32 Hiến pháp năm 1959 quy
định rõ: quyền của người lao động được giúp đỡ về vật chất khi già yếu, mất sức lao
động, bệnh tật. Năm 1960 Hội đồng Chính phủ có Nghị quyết trong đó đã xác định “đi
đôi với việc cải tiến chế độ tiền lương, cần cải tiến và ban hành các chính sách cụ thể
về bảo hiểm xã hội và phúc lợi cho công nhân viên chức, cán bộ”. Thực hiện Nghị
quyết trên, các Bộ Lao động, Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính, Bộ Y tế và Tổng Công đoàn
Việt Nam đã phối họp nghiên cứu xây dựng Điều lệ tạm thời về bảo hiểm xã hội trình
Hội đồng Chính phủ ban hành. Ngày 14/12/1961 Uỷ ban thường vụ Quốc hội phê
chuẩn, Chính phủ đã ra Nghị định số 218/CP ngày 27/12/1961 ban hành kèm theo
Điều lệ tạm thời về các chế độ bảo hiểm xã hội đối với công nhân viên chức Nhà nước.
Nội dung của Điều lệ được tóm tắt như sau:
về đoi tượng áp dụng là: công nhân viên chức Nhà nước ở các cơ quan, xí
nghiệp, công trường, nông trường, cán bộ, công nhân trong các đoàn thể nhân dân;
công nhân viên chức trong các xí nghiệp công tư họp doanh đã áp dụng chế độ trả
đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) về sửa đổi, bổ sung một số chế độ chính sách
thưomg binh và xã hội khi Nhà nước thực hiện điều chỉnh giá - lương - tiền.
Trong giai đoạn này tuy qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung nhưng xét về bản chất thì
bảo hiểm xã hội vẫn giữ nguyên những đặc trưng cơ bản sau:
Tồn tại trong cơ chế quản lý tập trung, bao cấp, mọi vấn đề kinh tế xã hội nói
chung, bảo hiểm xã hội nói riêng đều do Nhà nước đảm bảo.
Nhà nước quy định và trực tiếp thực hiện bảo hiểm xã hội bằng bộ máy hành
chính từ ngân sách Nhà nước.
Mọi người khi đã vào biên chế Nhà nước thì đương nhiên được đảm bảo việc
làm, thu nhập và bảo hiểm xã hội.
Do Ngân sách Nhà nước còn hạn hẹp, thường xuyên mất cân đối, vì vậy đối
tượng tham gia bảo hiểm xã hội chưa được mở rộng, trợ cấp tính trên tiền lương nên
chưa đảm bảo cho cuộc sống và không kịp thời.
Chính sách và các chế độ bảo hiểm xã hội còn đan xen thay nhiều chính sách xã
hội khác như ưu đãi xã hội, cứu trợ xã hội, an dưỡng, điều dưỡng, kế hoạch hoá gia
đình.
Tóm lại: Trong suốt thời kỳ lịch sử của đất nước từ khi Nhà nước Cộng hoà dân
chủ Việt Nam ra đời đến hết năm 1994, tuỳ thuộc vào đặc điểm của từng giai đoạn,
chế độ chính sách bảo hiểm xã hội nói chung, công tác tổ chức thực hiện chế độ chính
GVHD:Nguyễn Ánh Minh
Trang 9
SVTH:Đào Trần Thúy Hằng
Thực trạng và giải pháp của việc áp dụng bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động
sách bảo hiểm xã hội nói riêng cũng luôn thay đổi, bổ sung, sửa đổi cho phù họp, song
nhìn chung trong cơ chế quản lý tập trung, bao cấp, việc tham gia bảo hiểm xã hội
được xác định bằng thời gian công tác hay gọi là thời gian cống hiến thì việc xây dựng
ngày 26/1/1995 và Nghị định số 45/CP ngày 15/7/1995 áp dụng đối với công chức,
công nhân viên chức Nhà nước, người lao động theo loại hình bảo hiểm xã hội bắt
buộc và sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sỹ quan, binh sỹ quân đội nhân dân và
GVHD:Nguyễn Ánh Minh
Trang 10
SVTH:Đào Trần Thúy Hằng
Thực trạng và giải pháp của việc áp dụng bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động
công an nhân dân. Nội dung của Điều lệ bảo hiểm xã hội này đã đã được đổi mới cơ
bản và khắc phục được những nhược điểm, tồn tại mà Điều lệ bảo hiểm xã hội tạm
thời ban hành những năm trước đây.
Đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc không chỉ bao gồm lao động trong
khu vực Nhà nước mà người lao động trong các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh
có sử dụng từ 10 lao động trở lên cũng có quyền tham gia bảo hiểm xã hội.
về các chế độ bảo hiểm xã hội, quy định 5 chế độ là ốm đau, thai sản, tai nạn lao
động- bệnh nghề nghiệp, hưu trí và tử tuất, không còn chế độ trợ cấp mất sức lao động
mà những người mất khả năng lao động được quy định chung trong chế độ hưu trí với
mức hưởng lương hưu thấp. Trong từng chế độ có quy định cụ thể hơn về điều kiện
hưởng, thời gian và mức hưởng.
Người lao động tham gia bảo hiểm xã hội được cấp sổ bảo hiểm xã hội, sổ bảo
hiểm xã hội ghi chép, phản ánh quá trình tham gia bảo hiểm xã hội, mức tiền lương
làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội và các chế độ bảo hiểm xã hội đã được hưởng. Đối
với lực lượng vũ hang cũng đã có quy định riêng về bảo hiểm xã hội (Nghị định số
45/CP của Chính phủ).
Tài chính bảo hiểm xã hội được đổi mới cơ bản, tập trung ở những nội dung
chủ yếu sau:
Quỹ bảo hiểm xã hội được hình thành trên cơ sở sự đóng góp của người sử
quản lý quỹ Bảo hiểm xã hội và thực hiện các chế độ, chính sách Bảo hiểm xã hội theo
pháp luật của Nhà nước.Bảo hiểm xã hội Việt Nam có tư cách pháp nhân, hạch toán
độc lập và được Nhà nước bảo hộ, có con dấu riêng, có tài khoản, có trụ sở đặt tại thủ
đô Hà Nội. Quỹ Bảo hiểm xã hội được quản lý thống nhất theo chế độ tài chính của
Nhà nước. Do có tổ chức thống nhất quản lý, bảo tồn, phát triển quỹ và thực hiện chi
trả các chế độ bảo hiểm xã hội cho các đối tượng hưởng bảo hiểm xã hội đã đảm bảo
cho việc chi trả đầy đủ, kịp thời và đúng quy định; khắc phục được những tồn tại trước
đây.
Tuy nhiên, với các quy định của Điều lệ bảo hiểm xã hội thực hiện từ năm 1995
còn một số điểm tồn tại cần được nghiên cứu hoàn thiện như:
Đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội còn hạn hẹp, Nhà nước mới quy định lao
động làm việc trong các doanh nghiệp mà có từ 10 lao động trở lên mới thuộc diện bắt
buộc tham gia bảo hiểm xã hội, vì vậy đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội tuy đã được
mở rộng hơn so với quy định trước đây, nhưng so với tổng số lao động xã hội thì còn
chiếm tỷ ừọng thấp, mới chỉ có khoảng 14% số người trong độ tuổi lao động tham gia
bảo hiểm xã hội. Điều này có ảnh hưởng trực tiếp đến số người lao động trong xã hội
được hưởng quyền lợi về bảo hiểm xã hội, đồng thời quy mô quỹ bảo hiểm xã hội bị
hạn chế.
Chế độ chính sách bảo hiểm xã hội vẫn còn đan xem một số chính sách xã hội.
Trong quá trình thực hiện theo những quy định của Điều lệ bảo hiểm xã hội từ năm
1995 đến nay, chính sách bảo hiểm xã hội đã có những sửa đổi, bổ sung:
về đổi tượng tham gia bảo hiểm xã hội: Bổ sung đối tượng là cán bộ xã,
phường, thị trấn theo Nghị định số 09/1998/NĐ-CP thực hiện từ 1/1998; đối tượng là
người lao động làm việc trong các tổ chức thực hiện xã hội hóa thuộc ngành giáo dục,
y tế, văn hoá, thể dục thể thao theo Nghị định số 73/1999/NĐ-CP của Chính phủ.
về chỉnh sách bảo hiểm xã hội: Có sửa đổi, bổ sung cả về mức đóng, tỷ lệ
hưởng, điều kiện hưởng và phương pháp tính lương hưu tại các Nghị định số
93/1998/NĐ-CP, số 94/1999/NĐ-CP về sửa đổi, bổ sung một số Điều của Điều lệ bảo
hiểm xã hội; Nghị định số 04/2001/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số Điều của
Luật Sỹ quan Quân đội năm 1999; Nghị định số 61/2001/NĐ-CP về chế độ bảo hiểm
xã hội”, nhằm góp phần đảm bảo an sinh xã hội...
Từ những định nghĩa trên ta có thể đưa ra định nghĩa chung nhất về bảo hiểm xã
hội như sau :“BHXH là sự tổ chức bảo đảm bù đắp hoặc thay thế một phần thu nhập
cho người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập từ nghề nghiệp do bị giảm hoặc
mất khả năng lao động hoặc sức lao động không được sử dụng, thông qua việc hình
thành và sử dụng một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH và
các nguồn thu họp pháp khác, nhằm góp phần đảm bảo an toàn kinh tế cho người lao
động và gia đình họ; đồng thời góp phần bảo đảm an toàn xã hội”.
1.1.3 Bản chất của bảo hiểm xã hội
Bảo hiểm xã hội là sản phẩm tất yếu của nền kinh tế hàng hóa. Khi trình độ phát
triển kinh tế của một quốc gia đạt đến một mức độ nào đó thì hệ thống bảo hiểm xã hội
có điều kiện ra đời phát triển. Vì vậy, các nhà kinh tế cho rằng, sự ra đời và phát triển
của bảo hiểm xã hội phản ánh sự phát triển của nền kinh tế. Một nền kinh tế chậm phát
triển, đời sống nhân dân thấp kém không thể có một hệ thống bảo hiểm xã hội vững
mạnh được. Kinh tế càng phát triển, hệ thống bảo hiểm xã hội càng đa dạng, các chế
GVHD:Nguyễn Ánh Minh
Trang 13
SVTH:Đào Trần Thúy Hằng
Thực trạng và giải pháp của việc áp dụng bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động
độ bảo hiểm xã hội ngày càng mở rộng, các hình thức bảo hiểm xã hội ngày càng
phong phú.
Thực chất bảo hiểm xã hội là sự tổ chức “đền bù” hậu quả của những “rủi ro xã
hội” hoặc các sự kiện bảo hiểm. Sự đền bù này được thực hiện thông qua quá trình tổ
chức và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung hình thành do sự đóng góp của các bên tham gia
bảo hiểm xã hội và các nguồn thu họp pháp khác của quỹ bảo hiểm xã hội. Như vậy,
bảo hiểm xã hội cũng là quá trình phân phối lại thu nhập. Xét trên phạm vi toàn xã hội,
Trang 14
SVTH:Đào Trần Thúy Hằng
Thực trạng và giải pháp của việc áp dụng bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động
Dưới góc độ chính trị, bảo hiểm xã hội góp phần liên kết giữa những người lao
động xuất phát từ lợi ích chung của họ.
Dưới góc độ xã hội, bảo hiểm xã hội được hiểu như là một chính sách xã hội
nhằm đảm bảo đời sống cho người lao động khi thu nhập của họ bị giảm hay mất.
Thông qua đó, bảo hiểm xã hội bảo vệ và phát triển lực lượng lao động xã hội, lực
lượng sản xuất, tăng năng suất lao động ổn định trật tự xã hội.
Suy cho cùng, hoạt động của bảo hiểm xã hội trước hết là nhằm khắc phục
những thiệt hại của rủi ro, kịp thời bù đắp thiệt hại lấy lại sự cân bằng, ổn định tình
hình tài chính. Ngoài sự đảm bảo về mặt vật chất, tài chính trước rủi ro hoạt động bảo
hiểm còn mang đến trạng thái an toàn về tinh thần, giảm bớt sự lo âu trước rủi ro, bất
trắc cho những người lao động. Cùng với việc mang lại sự an toàn về tài chính và tinh
thần thì nghề nghiệp bảo hiểm còn góp phần phát triển hệ thống an sinh xã hội, chia sẻ
gánh nặng cho hệ thống phúc lợi xã hội. Đặc biệt hoạt động bảo hiểm còn là hoạt động
trung gian tài chính, thông qua các hoạt động thu hút, tập trung các nguồn vốn nhàng
rỗi, chuyển hóa vốn và đầu tư vốn. Hoạt động bảo hiểm tạo nên một kênh huy động
vốn quan trọng trong nền kinh tế.
1.1.5 Phân biệt bảo hiểm kỉnh doanh và bảo hiểm xã hội
Bảo hiểm xã hội thực chất là chế độ xã hội của nhà nước nhằm bảo vệ người lao
động bằng cách tập trung nguồn tài chính huy động được từ người lao động, người sử
dụng lao động và sự hổ trợ của Nhà nước để thực hiện trợ cấp cho người lao động khi
họ gặp rủi ro: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, tuổi già, mất sức
lao động, tử vong hoặc bị mất thu nhập.
Mặc dù đều vận dụng nguyên tắc tương hổ, số lớn bù số ít để chuyển giao rủi ro
a. Khái niệm
Thất nghiệp là một hiện tượng kinh tế - xã hội khi con người có thể, có khả năng,
muốn làm việc nhưng không nhận được việc làm vì những nguyên nhân khách quan
không phụ thuộc vào bản thân họ có thể là do không có chổ làm việc trống hoặc có thể
là do nghề nghiệp không phù hcrp hay là do họ không đủ trình độ để đáp ứng với nhu
cầu công việc.
Quan điểm người như thế nào được gọi là người thất nghiệp ở mỗi nước đều
khác nhau như ở Anh thì người thất nghiệp là người không làm việc một giờ nào trong
vòng hai tuần điều tra; Ở Mỹ thì người thất nghiệp là những người không có việc làm
trong tuần điều tra, họ có khả năng và mong muốn tìm được việc làm trong vòng 4
tuần đã qua, đồng thời họ có liên hệ với trung tâm dịch vụ việc làm hoặc trực tiếp với
người sử dụng lao động; Còn ở Đức định nghĩa rằng người thất nghiệp là người tạm
thời không có quan hệ lao động hoặc chỉ thực hiện những công việc ngắn hạn; Thái
Lan thì cho rằng họ là những người lao động không có việc làm, có năng lực và muốn
làm việc; Nhật Bản lại cho rằng người thất nghiệp là người không có việc làm trong
tuần lễ điều tra, có khả năng làm việc, đang tích cực tìm kiếm việc làm hoặc chờ kết
quả xin việc '. Nhưng tóm lại, một người được xem là thất nghiệp phải thể hiện đầy đủ
các đặc trưng: Là người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, đang không có
việc làm, đang đi tìm việc làm và sẵn sàng đi làm ngay khi có việc làm.
Trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay, việc làm và thất nghiệp là vấn đề
mang tính toàn cầu, vấn đề này không loại trừ quốc gia nào cho dù quốc gia đó là nước
đang phát triển hay là nước có nền công nghiệp phát triển. Việc giải quyết tình trạng
thất nghiệp luôn là vấn đề nan giải bởi vì nó vừa là vấn đề kinh tế vừa là vấn đề chính
trị - xã hội nên việc đưa ra các biện pháp hữu hiệu giải quyết nạn thất nghiệp là việc
làm rất cấp thiết, "SÙ tính cấp thiết đó nước ta đã thực hiện nhiều giải pháp nhằm hạn
GVHD:Nguyễn Ánh Minh
SVTH:Đào Trần Thúy Hằng
Trang 16
Xem: Hồ Sĩ Sà, giáo trình bảo hiểm, Nxb. Thống kê, Hà Nội, 2002, tr 60
nhiềutăng
nguyên
nhân
dẫn
đến
thất
nguyên
nhân có
ra
chế tỉ lệ Có
thấtrất
nghiệp
nhanh
ở
mức
thấp
nhấtnghiệp,
và bảomột
hiểm
thất nghiệp
là thể
mộtgây
trong
thời
cầu
nhiều
hơn
một
loại
thấtđể
lĩnh vực Nam
kinh
điểm
củacũng tác
thấtđộng đến
nghiệp
ở
Bên cạnh đó, thất nghiệp là hậu quả tất yếu của hệ thống quan liêu mệnh lệnh,
* Do sự di chuyển
củađược
người
độngcơlàcấu.
tế
gây
ra
thất
nghiệp
Chínhnghiệp”
sách tiền
lươngtùy
tối thuộc
thiểu theo
cao có
thểtriển
ảnh
Tuy
gọilao
chung
“ +++
Thất
khácngười
nhau.tham
Riêng
nhảtrường
nuớc,lao
làmđộng
cho của
người lao+++
động không
* Tham gia lại thị
++ phát huy hết khả năng của mình, khi chuyển
trường lao
độngNam
lần
đầunhững
và những
ngườinhư
chưasau:
có Trước
tay nghề
hoặc
taynghiệp
nghề thấp;
nghiệp
ở Việt
đặc điểm
tiên,
Thất
được đồng
thừa
++
lao
tại xã
doanh
nghiệp
nhàdonước
gây môn
ra cảnghề
thất nghiệp của
cơ cấu
thấtlao
nghiệp
địnhđộng
hướng
hội chủ
nghĩa,
chuyên
lực và
lượng
độngnhu
rất
thụ động
những người
* Mất đất nông và
nghiệp
do làmcủa
KCN,
++bị giảm++biên chế trong thị trường lao động sôi nổi, đòi
cầu
chi phí
nghiệp,
cơ khíđộng
hóa
mộtta
nền
kinhtham
tế chủ
yếuởlàbảng
nông1.nghiệp
đã sở
kìm
hãm
* Tăng quy mô nhân
lực
lượng
+++
cũnglao
không kém phần quan trọng
quyết định tỷ lệ thất nghiệp trên cả nước là hệ
* Trình độ đào tạo
phù
vớinghiệp
+++
nghiên
vềhọp
thất
và tổng
ý kiến
của nhiều
nhà kinh
vụ thực
(nghề)
vùnglàm.
về
+++
thị cao, còn ở vùng nông nghiệp thì tỷ trọng việc làm không đầy đủ rất cao và tỷ lệ thất
số lượng và chất lượng1.2.3
không
Ảnh
phùhưởng
họp của thất nghiệp đến sự phát triển kinh tế và xã hội
ở những vùng phía bắc cao hơn
so với các vùng ở phía Nam. Ở Việt Nam phần
* Áp dụng côngnghiệp
nghệ Trước
mới
+++
hết thất nghiệp ảnh hưởng
trực tiếp đến đời sống của người lao động,
* Thay đổi tronglớn
hệ thất
thống
giá trịlà giới trẻ, do
+ không có
+++
nghiệp
trình độ chuyên môn, chất lượng lực lượng lao
không có việc làm đồng nghĩa với hạn chế giao tiếp với những người lao động khác,
* Thay đổi cơ cấu
dânthấp
loại: Thất+++
nghiệp tạm thời là tình trạng không có
nghiệp đi liền với gia tăng tỷ lệ tội phạm, tỷ lệ tự tử, và suy giảm chất lượng sức khỏe.
nhà nước
việc làm ngắn hạn do không có đày đủ thông tin về cung - cầu lao động, hoặc chờ đợi
Trước
đặt ra, nó
* Chi phí lao động
quánhững
cao khó khăn do thất nghiệp+++
+++buộc người lao động nhiều khi phải
vào những điều kiện lao động và thu nhập không thực tế hoặc liên quan đến sự di
rằng công việc đó là không đúng khả
* Năng suất laochọn
động công
thấp việc thu nhập thấp họ vẫn nhận thức+++
chuyển
của
người
lao
động
giữa
các
doanh
nghiệp,
các vùng và lĩnh vực kinh tế.
1 * Do tính chấtnăng
mùa của
vụ của
sản xuất
GVHD:Nguyễn Ánh Minh
Trang 18
19
17
SVTH:Đào Trần Thúy Hằng
3Xem: Thị trường lao động, Nxb. Chính trị quốc gia, 2005, tr.440
4 Xem:
Thi trường lao
động, Thực trạng và giải pháp của việc áp dụng bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động Nxb. Chính tri
quốc
gia, 2005, tr.445
Thất nghiệp không chỉ ảnh hưởng tới đời sống vật chất người lao động mà còn
ảnh hưởng đến tinh thần của họ. Người thất nghiệp dễ ở trong tình trạng mình là người
thừa của xã hội, tuy nhiên sự tác động là khác nhau giữa hai giới. Ở phụ nữ nếu không
có việc làm ngoài thì việc nội trợ và chăm sóc con cái vẫn có thể được chấp nhận là sự
thay thế thỏa đáng, ngược lại ở người nam, đem thu nhập cho gia đình gắn chặt đến giá
trị cá nhân, lòng tự trọng. Nam giới khi mất việc làm thường tự ti, rất nhạy cảm và dễ
cáu bẳn, họ có thể tìm đến rượu, thuốc lá để quên đi buồn phiền, tình trạng này kéo dài
ngoài khả năng gây nghiện ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe còn có thể khởi tạo một
vấn đề mới đỏ là bạo hành gia đình. Họ cũng dễ bị rối loạn tâm lý như buồn phiền, mất
ngủ, trầm cảm, đôi khi còn dẫn đến hành vi tự sát. Vì vậy thất nghiệp cũng là nguyên
nhân để tệ nạn xã hội tăng cao.
Đối với nền kinh tế thì ảnh hưởng của thất nghiệp cũng không nhỏ. Tỷ lệ thất
nghiệp cao đồng nghĩa với Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) thấp - các nguồn lực con
người không được sử dụng, bỏ phí cơ hội sản xuất thêm sản phẩm và dịch vụ. Thất
nghiệp còn có nghĩa là sản xuất ít hơn, giảm tính hiệu quả của sản xuất theo quy mô.
thiết bị hiện đại và những người có trình độ chuyên môn cao. Bên cạnh đó, việc lấy đất
nông nghiệp để xây dựng khu công nghiệp khu chế xuất làm cho người dân mất đất
sản xuất mà không có một chính sách hổ trợ hợp lý để người dân chuyển đổi ngành
nghề. Từ đó, tình hình thất nghiệp ngày càng tăng cao không chỉ riêng nước ta mà ở tất
cả các nước trên thế giới, giải quyết vấn đề này là việc rất cấp thiết vì nó liên quan đến
vấn đề an sinh xã hội mang tính toàn cầu. Vì thế, để hạn chế hậu quả của việc thất
nghiệp nhà nước ta đã ban hành quy định về bảo hiểm thất nghiệp, có hiệu lực ngày
01/01/2009 5. Bảo hiểm thất nghiệp là một bộ phận nhỏ của bảo hiểm xã hội nhưng đã
góp phần không nhỏ để hoàn thiện chính sách xã hội ở Việt Nam. Đây là một hình
thức bảo hiểm xã hội mới không chỉ ở Việt Nam mà còn trên cả khu vực Đông Nam Á,
cả khu vực chỉ có 2 nước triển khai mô hình này đó là Việt Nam và Thái Lan. Chính vì
đây là một loại hình bảo hiểm mới nên không tránh khỏi những thiếu sót trong việc áp
dụng trên thực tế, dẫn đến nhiều bất cập làm ảnh hương đến lợi ích của người lao động.
Song, chúng ta không thể phủ nhận những lợi ích mà bảo hiểm thất nghiệp mang lại
sau 2 năm thực hiện.thu nhập do bị mất việc làm để họ ổn định cuộc sống và có điều
kiện tham gia vào thị trường lao động, bảo hiểm thất nghiệp cũng là một loại hình của
bảo hiểm con người, nó là một mảng nhỏ của bảo hiểm xã hội ( chương V luật Bảo
hiểm xã hội)
1.2.5 Sự cần thiết của bảo hiểm thất nghiệp trong xã hội ngày nay
Bảo hiểm thất nghiệp có vai trò trợ giúp về mặt tài chính cho người bị thất
nghiệp để họ ổn định cuộc sống cá nhân và gia đình trong một chừng mực nhất định,
từ đỏ tạo điều kiện cho họ có thêm cơ hội mới để tìm kiếm việc làm trên thị trường lao
động. Vì thế bảo hiểm thất nghiệp được xem là hạt nhân của thị trường lao động và
nằm trong chính sách kinh tế - xã hội của quốc gia. Chính sách này trước hết là vì lợi
ích của người lao động và người sử dụng lao động và sau đó là vì lợi ích quốc gia.
Ngoài hỗ trợ về mặt tài chính bảo hiểm thất nghiệp còn kích thích người thất
nghiệp tích cực tìm việc làm và sẵn sàng đi làm việc. Như vậy bảo hiểm thất nghiệp có
hai chức năng: Bảo vệ quyền lợi và khuyến khích người lao động bị mất việc làm, điều
này không chỉ có ý nghĩa đối với người lao động mà còn có ý nghĩa đối với cả người
sử dụng lao động. Đối với người sử dụng lao động, do có bảo hiểm thất nghiệp nên khi
thống pháp luật của Mỹ thì bảo hiểm thất nghiệp và trợ cấp thất nghiệp được phân
định rõ ràng, bảo hiểm thất nghiệp có mục đích chính là hỗ trợ cho những người lao
động đang ừong tình trạng bị thất nghiệp tạm thời hoặc trong thời kỳ khủng hoảng
kinh tế người lao động bị thất nghiệp trong thời gian dài hoặc đã nhận bảo hiểm thất
nghiệp quá thời gian quy định mà vẫn chưa tìm được công việc làm mới thì họ sẽ bị
cắt chế độ bảo hiểm thất nghiệp, người lao động chỉ được hưởng trợ cấp thất nghiệp
khi đã bị cắt chế độ bảo hiểm thất nghiệp mà vẫn còn gặp khó khăn về tài chính, người
thất nghiệp lúc này có quyền xin hưởng trợ cấp thất nghiệp, trong trường hợp này các
đối tượng hưởng trợ cấp phải trải qua kiểm tra thu nhập và tài sản. Họ phải chứng
minh được bản thân đang trong hoàn cảnh khó khăn, không thể tự nuôi bản thân bằng
bất kỳ nguồn thu nhập nào ngoài tiền trợ cấp thất nghiệp. Điều này không có trong bảo
hiểm thất nghiệp. Các khoản tiền mà người lao động nhận được từ bảo hiểm thất
nghiệp hay trợ cấp thất nghiệp cũng khác nhau tùy quy định của mỗi bang hoặc của
nhà nước. Một điểm khác biệt nữa là bảo hiểm thất nghiệp và trợ cấp thất nghiệp được
tài trợ từ các nguồn khác nhau. Bảo hiểm thất nghiệp thường được lấy từ khoản nộp
thuế của các chủ doanh nghiệp, ở một số bang còn lấy từ đóng góp của người lao động
và nếu quỹ này gặp tình trạng thâm hụt sẽ được nhà nước cho vay có lãi suất. Trong
GVHD:Nguyễn Ánh Minh
Trang 22
SVTH:Đào Trần Thúy Hằng
Thực trạng và giải pháp của việc áp dụng bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động
khi đó, trợ cấp thất nghiệp là một dạng phúc lợi xã hội, do chính quyền bang và liên
bang tài trợ.
Như vậy do không phân biệt rõ ràng hai chế độ đã dẫn đến sự thiếu sót của pháp
luật Việt Nam, ừong điều kiện nước ta đã hòa nhập vào nền kinh tế thế giới và lúc bấy
giờ vấn đề an sinh xã hội đóng vai trò rất quan trọng trong sự phát triển kinh tế đất
về
bảo
hiểm
thất
nghiệp
của
Mỹ
Trên thế giới hệ thống bảo hiểm thất nghiệp phát triển không đồng đều, các
nước công nghiệp có kinh nghiệm hơn trăm năm đối phó với thất nghiệp và khắc phục
được hậu quả của nó vì họ có trình độ phối hợp cao trong chính sách kinh tế - xã hội của
nhà nước, thích ứng với những thay đổi trong và ngoài nước, trong khi đó các nước đang
GVHD:Nguyễn Ánh Minh
Trang 23
SVTH:Đào Trần Thúy Hằng
Thực trạng và giải pháp của việc áp dụng bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động
phát triển và chậm phát triển thì bảo hiểm thất nghiệp đang trong tình trạng phôi thai hoặc
hoàn toàn chưa có.
thất nghiệp cao. Chi phí cho chương trình EB được chia đều giữa chính quyền Liên
bang và Tiểu bang. Các chuyên gia hoạch định chính sách của Hoa Kỳ cho rằng
chương trình trợ cấp thất nghiệp của Hoa Kỳ còn thấp hơn các nước Châu Âu. Mức trợ
cấp thất nghiệp chỉ đủ cho người lao động chi dùng những khoản thiết yếu trong đời
GVHD:Nguyễn Ánh Minh
Trang 24
SVTH:Đào Trần Thúy Hằng
Thực trạng và giải pháp của việc áp dụng bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động
sống (khoảng 50% thu nhập đóng bảo hiểm xã hội), nhằm để họ không ỷ lại vào trợ
cấp mà phải tích cực tìm kiếm việc làm tự nuôi sống bản thân.
Đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp: Người lao động trong các doanh
nghiệp công nghiệp và thương mại. Người lao động trong các tổ chức phi lợi nhuận có
từ 4 lao động trở lên, thời gian làm việc 20 tuần/1 năm trở lên. Các doanh nghiệp trong
ngành nông nghiệp có sử dụng từ 10 lao động trở lên, thời gian làm việc 20 tuần/1 năm,
quỹ lương 20.000USD/quý và ở một số bang cán bộ công chức Nhà nước cũng được
tham gia chế độ bảo hiểm thất nghiệp. Trên thực tế có 97% người lao động ở Hoa Kỳ
(khoảng 135 triệu người) đang tham gia chương trình bảo hiểm thất nghiệp. Các đối
tượng không thuộc diện áp dụng chế độ bảo hiểm thất nghiệp là lao động tự do, lao
động khoán việc, người giúp việc gia đình và lao động thuộc các tổ chức tôn giáo.
Cơ chế thu, chi của Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp: Nguồn thu của Quỹ Bảo hiểm
thất nghiệp ở Hoa Kỳ hoàn toàn do chủ sử dụng lao động đóng (có 3 Bang đó là:
Alaska, New Jersey, Pensylvania quy định người lao động đóng một phần, nhưng rất
thấp (khoảng 0,3% tiền lương tháng và đang có xu hướng giảm). Việc thu tiền bảo
hiểm thất nghiệp của người lao động do cơ quan thuế đảm nhiệm. Luật Liên bang quy
định tổng mức đóng bảo hiểm thất nghiệp là 6,2% quỹ lương tháng, trong đó mức
đóng cho Liên bang là 0,8% , khoản này dùng để chi trả các chi phí về hành chính, trả
về bảo hiểm thất nghiệp đã thay đổi và khoản lợi ích cho người lao động cũng đã bị cắt
giảm. Đến thập kỷ 90, dưới thời Tổng thống Clinton, đã có thêm nhiều thay đổi mới
nhằm thu hẹp trách nhiệm của chính phủ và làm tăng trách nhiệm đóng góp của các cá
nhân. Bằng cách giảm khoản lợi ích cũng như rút ngắn thời gian được hưởng tiền hỗ
trợ, người thất nghiệp sẽ cỏ động lực để nhanh chóng tìm việc làm mới.
- Các loại hình bảo hiểm thất nghiệp ở Mỹ
Bảo hiểm thất nghiệp ở Mỹ rất đa dạng với nhiều loại hình, mỗi loại
hình bảo hiểm thất nghiệp khác nhau có đối tượng tham gia khác nhau. Cụ thể có các
loại hình bảo hiểm thất nghiệp sau:
Bảo hiểm thất nghiệp trên diện rộng (Unemployment Insurance Fact
Sheet): là chưomg trình hỗ trợ tài chính của Liên bang đối với hầu hết người lao động
tính những người bị đuổi việc do lỗi cá nhân.
Bảo hiểm thất nghiệp dành cho nhân viên liên bang (Unemployment
Compensation for Federal Employees): là chưcmg trình hỗ trợ cho những nhân viên
của bang bị mất việc có đủ điều kiện do chính quyền từng bang quản lý.
Bảo hiếm thất nghiệp dành cho các cựu quân nhân (Unemployment
Compensation for Ex-Servicemembers): là chưcmg trinh hỗ trợ dành cho các cựu quân
nhân đủ điều kiện và cả những cựu nhân viên của Ban NOAA (the National
Oceanographic and Atmospheric Administration) và Tổ chức USPHS (U.s. Public
Health Service).
Khoản lợi ích mở rộng (Extended Beneíĩts): là chưcmg trình của chính
quyền bang - liên bang dành cho các khu vực có tỷ lệ thất nghiệp cao.
Hố trợ thất nghiệp do thiên tai (Disaster Unemployment Assistance): là
chưomg trình đặc biệt dành cho những người lao động bị mất việc làm hoặc đột ngột
phải ngừng công việc do hậu quả của thiên tai.
Phụ cấp ảnh hưởng thương mại (Trade Readjustment Allowances): là
khoản phụ cấp thu nhập dành cho những người lao động đã hết hưởng bồi thường thất
nghiệp và công việc của họ bị ảnh hưởng bởi hoạt động nhập khẩu.
Hỗ trợ cho hoạt động tự kinh doanh (Self Employment Assistance): là
chưomg trình tự nguyện đặc biệt của nhà nước ở một số vùng dành cho những người
Luật Liên bang Mỹ chỉ bao gồm những điều khoản mang tính định hướng
chương trình bảo hiểm thất nghiệp còn việc thực hiện chi tiết là do luật mỗi bang quy
định. Chẳng hạn như mỗi bang có quyền quyết định những điều kiện cụ thể mà người
lao động càn đáp ứng để có thể nhận được bảo hiểm thất nghiệp cũng như số tiền và
thời gian người lao động được hưởng. Luật bang còn quyết định tỷ lệ thuế mà doanh
nghiệp phải trả vào Quỹ bảo hiểm thất nghiệp tương ứng với thu nhập của họ, cũng
như cỏ quyền thay đổi những điều khoản này khi cần thiết. Chính vì vậy điều kiện để
được hưởng bảo hiểm thất nghiệp, số tiền và thời gian hưởng bảo hiểm cũng như tỷ lệ
thuế doanh nghiệp. Để tạo nên một cơ chế hoạt động thống nhất trong việc quản lý bảo
hiểm thất nghiệp giữa chính quyền Liên bang và từng bang cũng như cụ thể hóa những
điều khoản đã được nêu ra trong Đạo luật An sinh Xã hội 1935, Luật thuế thất nghiệp
Liên bang (FUTA) đã được ra đời năm 1939 vói những mức thuế cơ sở áp dụng cho
từng đối tượng doanh nghiệp có những mức thu nhập khác. Riêng đối với lao động
GVHD:Nguyễn Ánh Minh
Trang 27
SVTH:Đào Trần Thúy Hằng
Thực trạng và giải pháp của việc áp dụng bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động
trong ngành đường sắt bị mất việc thì sẽ nhận bảo hiểm thất nghiệp theo những quy
định cụ thể trong Luật bảo hiểm thất nghiệp đường sắt ra đời năm 1938 6.
1.4.2 Pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp ở Thụy Điển
Thất nghiệp không còn là hiện tượng lạ đối với tất cả các quốc gia trên thế giới,
Thụy Điển một quốc gia với nền kinh tế phát triển vượt bậc cũng không là ngoại lệ.
Việc đảm bảo chi tiêu mỗi khi lâm vào cảnh thất nghiệp luôn là những thách thức đối
với người lao động, tuy nhiên trên một bình diện nào đó thì các công dân Thụy điển ít
chịu sức ép khi rơi vào tình trạng thất nghiệp hơn công dân của các nước châu Ầu khác
nghiệp
nặng,
tổ
chức nghiệp đoàn giáo viên - có tên là Laraíorbundets Arbetstõshetskassa - dành cho
những
nguời
làm
công
tác
giảng dạy. Nguôi lao động không nhất thiết phải tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo
GVHD:Nguyễn Ánh Minh
Trang 28
SVTH:Đào Trần Thúy Hằng