TIỂU LUẬN
Thực trạng và giải pháp của việc thực
hiện luật thuế GTGT tại Việt Nam
[Type text] Page 1
tác dụng của nó cũng như tính ưu việt một cách có hiệu quả nhất đối với nền kinh tế nước ta.
Vậy làm thế nào để thuế GTGT trở thành một sắc thuế tiến bộ, góp phần thúc đẩy
thúc đẩy sản xuất tạo nguồn thu nhập ổn định, dồi dào cho ngân sách, phù hợp với sự phát
[Type text] Page 2
triển của nền kinh tế Việt Nam? Đang là một câu hỏi lớn đối với các nhà quản lí cũng như
nhà lập pháp. Trong khuôn khổ một bài tiểu luận, là sinh viên ngành quản trị kinh doanh có
điều kiện nghiên cứu về môn thuế, chúng em xin trình bày một đề tài về thuế GTGT với nội
dung: “Thực trạng và giải pháp của việc thực hiện luật thuế GTGT tại Việt Nam”.
Mặc dù nhóm chúng em đã cố gắng, song trong quá trình làm bài tiểu luận không thể
tránh được những thiếu sót, khiếm khuyết nhất định, rất mong nhận được ý kiến đóng góp
của quý thầy cô, các bạn đọc để nhóm hoàn thiện hơn bài tiểu luận này.
Xin chân thành cảm ơn !
DANH SÁCH NHÓM
STT
HỌ
TÊN
MSSV
ĐÁNH GIÁ
(%)
1
NGUYỄN HOÀNG
ÂN
10248531
2
NGUYỄN THỊ
HƢỜNG
10237561
9
NGUYỄN HỮU
VŨ (NT)
10229671 [Type text] Page 3
M
Ụ
C L
Ụ
C
PHẦN 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG 4
1.1 KHÁI NIỆM: 4
1.2 CHẶNG ĐƢỜNG PHÁT TRIỂN CỦA LUẬT THUẾ GTGT TẠI VIỆT NAM: 4
1.3 ĐÔI NÉT VỀ THUẾ GTGT TẠI VIỆT NAM. 5
1.3.1 Đối tượng chịu thuế GTGT 5
1.3.2 Người nộp thuế GTGT 5
1.3.3 Đối tượng không chịu thuế GTGT 6
1.3.4 Căn cứ tính thuế GTGT 8
a/ Giá tính thuế 8
b/ Thuế suất 10
1.3.5 Phương pháp tính thuế 11
a/ Phƣơng pháp khấu trừ thuế 11
b/ Phƣơng pháp tính trực tiếp trên GTGT 11
1.3.6 Hóa đơn chứng từ mua bán hàng hóa dịch vụ 12
1.3.7 Đăng kí, kê khai, nộp thuế 12
[Type text] Page 4
PHẦN 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG
1.1 Khái niệm:
Thuế giá trị gia tăng là thuế tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ
phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng.
Để góp phần thúc đẩy sản xuất, mở rộng lưu thông hàng hóa và dịch vụ, khuyến
khích phát triển nền kinh tế quốc dân, động viên một phần thu nhập của người tiêu dùng vào
ngân sách Nhà nước;
1.2 Chặng đường phát triển của luật thuế GTGT tại Việt Nam:
Luật
02/1997/QH9
10/05/1997
Quốc hội
Về thuế giá trị gia tăng
Luật
07/2003/QH11
17/06/2003
Quốc hội
Về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế giá trị gia tăng
Luật
57/2005/QH11
2/11/2005
Quốc hội
Về sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật thuế
GTGT
doanh nghiệp đối với các cơ sở sản xuất thủy điện
Thông tƣ
112/2009/TT-BTC
02/06/2009
Bộ Tài chính
Về việc hướng dẫn điều kiện áp dụng thuế suất thuế giá trị gia tăng 0% đối với
vận tải quốc tế và dịch vụ của ngành hàng không, hàng hải
Thông tƣ
55/2010/TT-BTC
16/04/2010
Bộ Tài chính
Về việc hướng dẫn về thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp đối
với Đài Truyền hình Việt Nam và các Đài Truyền hình, Đài Phát thanh -
Truyền hình tỉnh, thành phố
Thông tƣ
15/2010/TT-BTC
27/09/2010
Bộ Tài chính
Về việc hướng dẫn về thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp đối
với các c quan báo chí
Thông tƣ
09/2011/TT-BTC
2101/2011
Bộ Tài chính
Về việc hướng dẫn về thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp đối với
lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm
7.2. Bảo hiểm vật nuôi, bảo hiểm cây trồng và các dịch vụ bảo hiểm nông nghiệp khác;
7.3. Tái bảo hiểm;
7.4. Đào tạo đại lý bảo hiểm;
7.5. Bảo hiểm các công trình, thiết bị dầu khí, tàu chứa dầu mang quốc tịch nước ngoài do
nhà thầu dầu khí hoặc nhà thầu phụ nước ngoài thuê để hoạt động tại vùng biển đặc quyền
kinh tế của Việt Nam, vùng biển chồng lấn mà Việt Nam và các quốc gia có bờ biển tiếp liền
hay đối diện đã thỏa thuận đặt dưới chế độ khai thác chung.
8. Dịch vụ cấp tín dụng; kinh doanh chứng khoán; chuyển nhượng vốn; dịch vụ tài chính
phái sinh, bao gồm hoán đổi lãi suất, hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai, quyền chọn mua,
bán ngoại tệ và các dịch vụ tài chính phái sinh khác theo quy định của pháp luật.
9. Dịch vụ y tế, dịch vụ thú y, bao gồm dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh, phòng bệnh cho
người và vật nuôi.
[Type text] Page 7
10. Dịch vụ bưu chính, viễn thông công ích và In-ter-net phổ cập theo chương trình của
Chính phủ.
11. Dịch vụ phục vụ công cộng về vệ sinh, thoát nước đường phố và khu dân cư; duy trì
vườn thú, vườn hoa, công viên, cây xanh đường phố, chiếu sáng công cộng; dịch vụ tang lễ.
12. Duy tu, sửa chữa, xây dựng bằng nguồn vốn đóng góp của nhân dân, vốn viện trợ nhân
đạo đối với các công trình văn hóa, nghệ thuật, công trình phục vụ công cộng, cơ sở hạ tầng
và nhà ở cho đối tượng chính sách xã hội.
13. Dạy học, dạy nghề theo quy định của pháp luật.
14. Phát sóng truyền thanh, truyền hình bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước.
15. Xuất bản, nhập khẩu, phát hành báo, tạp chí, bản tin chuyên ngành, sách chính trị, sách
giáo khoa, giáo trình, sách văn bản pháp luật, sách khoa học - kỹ thuật, sách in bằng chữ dân
tộc thiểu số và tranh, ảnh, áp phích tuyên truyền cổ động, kể cả dưới dạng băng hoặc đĩa ghi
tiếng, ghi hình, dữ liệu điện tử; in tiền.
16. Vận chuyển hành khách công cộng bằng xe buýt, xe điện.
17. Máy móc, thiết bị, vật tư thuộc loại trong nước chưa sản xuất được cần nhập khẩu để sử
dụng trực tiếp cho hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ; máy móc, thiết bị,
mức lương tối thiểu chung áp dụng đối với tổ chức, doanh nghiệp trong nước.
Cơ sở kinh doanh hàng hóa, dịch vụ không chịu thuế giá trị gia tăng quy định tại Điều này
không được khấu trừ và hoàn thuế giá trị gia tăng đầu vào, trừ trường hợp áp dụng mức thuế
suất 0% quy định tại khoản 1 Điều 8 của Luật này.
1.3.4 Căn cứ tính thuế GTGT
Căn cứ tính thuế GTGT là giá tính thuế và thuế suất
a/ Giá tính thuế
- Giá tính thuế được quy định như sau:
+ Đối với hàng hoá, dịch vụ do cơ sở sản xuất, kinh doanh bán ra là giá bán chưa có thuế
GTGT. Đối với hàng hóa, dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt là giá bán đã có thuế tiêu thụ
đặc biệt nhưng chưa có thuế GTGT;
+ Đối với hàng hóa nhập khẩu là giá nhập tại cửa khẩu cộng với thuế nhập khẩu (nếu có),
cộng với thuế tiêu thụ đặc biệt (nếu có). Giá nhập tại cửa khẩu được xác định theo quy định
về giá tính thuế hàng nhập khẩu;
[Type text] Page 9
+ Đối với hàng hóa, dịch vụ dùng để trao đổi, tiêu dùng nội bộ, biếu, tặng cho là giá tính
thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ cùng loại hoặc tương đương tại thời điểm phát sinh các
hoạt động này;
+ Đối với hoạt động cho thuê tài sản là số tiền cho thuê chưa có thuế GTGT;
Trường hợp cho thuê theo hình thức trả tiền thuê từng kỳ hoặc trả trước tiền thuê cho một
thời hạn thuê thì giá tính thuế là tiền cho thuê trả từng kỳ hoặc trả trước cho thời hạn thuê
chưa có thuế GTGT;
Trường hợp thuê máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải của nước ngoài loại trong nước chưa
sản xuất được để cho thuê lại, giá tính thuế được trừ giá thuê phải trả cho nước ngoài;
+ Đối với hàng hóa bán theo phương thức trả góp, trả chậm là giá tính theo giá bán trả một
lần chưa có thuế GTGT của hàng hoá đó, không bao gồm khoản lãi trả góp, lãi trả chậm;
+ Đối với gia công hàng hoá là giá gia công chưa có thuế GTGT;
+ Đối với hoạt động xây dựng, lắp đặt là giá trị công trình, hạng mục công trình hay phần
công việc thực hiện bàn giao chưa có thuế GTGT. Trường hợp xây dựng, lắp đặt không bao
chính, viễn thông; sản phẩm xuất khẩu là tài nguyên, khoáng sản khai thác chưa qua chế
biến
- Mức thuế suất 5% áp dụng đối với hàng hoá, dịch vụ sau đây:
+ Nước sạch phục vụ sản xuất và sinh hoạt;
+ Phân bón; quặng để sản xuất phân bón; thuốc phòng trừ sâu bệnh và chất kích thích
tăng trưởng vật nuôi, cây trồng;
+ Thức ăn gia súc, gia cầm và thức ăn cho vật nuôi khác;
+ Dịch vụ đào đắp, nạo vét kênh, mương, ao hồ phục vụ sản xuất nông nghiệp; nuôi
trồng, chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh cho cây trồng; sơ chế, bảo quản sản phẩm nông nghiệp;
+ Sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thuỷ sản chưa qua chế biến, trừ sản phẩm quy định
được miễn thuế GTGT
+ Mủ cao su sơ chế; nhựa thông sơ chế; lưới, dây giềng và sợi để đan lưới đánh cá;
+ Thực phẩm tươi sống; lâm sản chưa qua chế biến, trừ gỗ, măng và sản phẩm theo
quy định;
+ Đường; phụ phẩm trong sản xuất đường, bao gồm gỉ đường, bã mía, bã bùn;
+ Sản phẩm bằng đay, cói, tre, nứa, lá, rơm, vỏ dừa, sọ dừa, bèo tây và các sản phẩm
thủ công khác sản xuất bằng nguyên liệu tận dụng từ nông nghiệp; bông sơ chế; giấy in báo;
+ Máy móc, thiết bị chuyên dùng phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, bao gồm máy
cày, máy bừa, máy cấy, máy gieo hạt, máy tuốt lúa, máy gặt, máy gặt đập liên hợp, máy thu
hoạch sản phẩm nông nghiệp, máy hoặc bình bơm thuốc trừ sâu;
+ Thiết bị, dụng cụ y tế; bông, băng vệ sinh y tế; thuốc phòng bệnh, chữa bệnh; sản
phẩm hóa dược, dược liệu là nguyên liệu sản xuất thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh;
[Type text] Page 11
+ Giáo cụ dùng để giảng dạy và học tập, bao gồm các loại mô hình, hình vẽ, bảng,
phấn, thước kẻ, com-pa và các loại thiết bị, dụng cụ chuyên dùng cho giảng dạy, nghiên cứu,
thí nghiệm khoa học;
+ Hoạt động văn hoá, triển lãm, thể dục, thể thao; biểu diễn nghệ thuật; sản xuất
phim; nhập khẩu, phát hành và chiếu phim;
+ Đồ chơi cho trẻ em; sách các loại, trừ sách không chịu thuế GTGT
+ Hoạt động mua bán vàng, bạc, đá quý.
1.3.6 Hóa đơn chứng từ mua bán hàng hóa dịch vụ
- Việc mua bán hàng hóa, dịch vụ phải có hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp
luật và các quy định sau đây:
+ CSKD nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế sử dụng hóa đơn GTGT; hoá đơn
phải được ghi đầy đủ, đúng nội dung quy định, bao gồm cả khoản phụ thu, phí thu thêm (nếu
có). Trường hợp bán hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT mà trên hóa đơn GTGT không ghi
khoản thuế GTGT thì thuế GTGT đầu ra được xác định bằng giá thanh toán ghi trên hóa đơn
nhân với thuế suất thuế GTGT, trừ trường hợp được quy định.
+ CSKD nộp thuế theo phương pháp tính trực tiếp trên GTGT sử dụng hoá đơn bán
hàng.
- Đối với các loại tem, vé là chứng từ thanh toán in sẵn giá thanh toán thì giá thanh
toán tem, vé đó đã bao gồm thuế GTGT.
1.3.7 Đăng kí, kê khai, nộp thuế
a/ Đăng kí thuế
- CSKD kể cả các công ty,nhà máy, xí nghiệp, chi nhánh, cửa hàng trực thuộc CSKD
chính phải đăng ký nộp thuếvới Cục thuế hoặc Chi cục thuế nếu là cá nhân kinh doanh về
địa điểm kinhdoanh, ngành nghề kinh doanh, lao động, tiền vốn, nơi nộpthuếvà các chỉ tiêu
liên quan khác theo mẫu đăng ký nộp thuế và hướng dẫn của cơ quanthuế.
Đối với cơ sở mới thành lập, thời gian đăng ký nộp thuế chậm nhất là10 ngày kể từ
ngày cấp Giấy phép đầu tư hoặc Giấy chứng nhận đăng kýkinh doanh và cấp con dấu;
trường hợp cơ sở chưa được cấp giấy chứngnhận đăng ký kinh doanh nhưng có hoạt động
kinh doanh, cơ sở phải đăng ký nộp thuế trước khi kinh doanh.
[Type text] Page 13
- Các cơ sở đã đăng ký nộp thuế nếu có thay đổi ngành nghề kinhdoanh, chuyển trụ
sở kinh doanh sang các địa điểm khác, sáp nhập, giải thể, phá sản, hợp nhất, chia, tách hay
thành lập các Công ty, nhà máy, xí nghiệp,chi nhánh, cửa hàng mới phải đăng ký bổ sung
với cơ quan thuế chậm nhất là 10 ngày trước khi có sự thay đổi đó
- Cơ sở hoạt động sản xuất, kinh doanh có trụ sở chính ở một địa phương (tỉnh, thành
thuế, nếu trong quá trình thực hiện, cơ sở không thực hiện đúng cácđiều kiện quy định thì cơ
quan thuế áp dụng biện pháp ấn định thuế phải nộpvà ra thông báo đình chỉ việc nộp thuế
theo phương pháp khấu trừ thuế.
- Về việc cấp mã số thuế cho đối tượng nộp thuế: Các cơ sở kinhdoanh đã thực hiện
đăng ký nộp thuế với cơ quan thuế, cơ quan thuế có tráchnhiệm cấp mã số thuế và giấy
chứng nhận đăng ký thuế cho CSKD.
b/ Kê khai thuế và nộp thuế GTGT
* Kê khai thuế:
- CSKD tự tính và kê khai thuế GTGT hàng tháng theo mẫu tờ khai do Bộ Tài Chính
ban hành.
- CSKD phải gửi các bảng kê hàng hoá, dịch vụ mua vào, bán ra kèm theo tờ khai
thuế GTGT.
- Thời hạn nộp tờ khai thuế cho cơ quan thuế là ngày 20 của tháng tiếp theo. Ngày
nộp tờ khai được xác định là ngày bưu điện đóng dấu gửi đi (đối với trường hợp gửi tờ khai
qua bưu điện) hoặc là ngày CSKD nộp tờ khai trực tiếp tại cơ quan thuế.
Kê khai điều chỉnh:
- Sau khi đã nộp tờ khai cho cơ quan thuế, nếu CSKD có sự sai sót, nhầm lẫn về số
liệu đã kê khai, CSKD có trách nhiệm kê khai điều chỉnh với cơ quan thuế như sau:
+ Nếu còn trong thời hạn kê khai theo quy định thì CSKD lập và nộp tờ khai thay thế
cho tờ khai đã gửi cơ quan thuế.
+ Nếu quá thời hạn quy định thì kê khai điều chỉnh tại các dòng kê khai điều chỉnh
của kỳ phát hiện sai sót (CSKD phải gửi kèm theo bản giải trình kê khai điều chỉnh thuế
GTGT).
- CSKD thực hiện thí điểm không phải thực hiện quyết toán thuế hàng năm với cơ
quan thuế, nhưng hàng tháng, CSKD phải rà soát hoá đơn, chứng từ, sổ sách kế toán của
tháng trước để kịp thời phát hiện những khoản thuế còn để sót chưa kê khai hoặc số thuế nộp
[Type text] Page 15
chưa đúng với số thuế phải nộp để kịp thời kê khai điều chỉnh, bổ sung vào tờ khai của tháng
tiếp theo.
2.1 Về diện hàng hoá, dịch vụ không chịu thuế giá trị gia tăng :
Luật năm 1997 quy định 28 nhóm hàng hoá, dịch vụ không chịu thuế giá trị gia
tăng. (Hiện nay, Điều 5 luật thuế GTGT quy định có 25 nhóm hàng hóa, dịch vụ thuộc diện
không chịu thuế.) Quy định này là phù hợp với điều kiện thực tiễn của nước ta thời gian qua,
tuy nhiên trong quá trình thực hiện và cùng với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất
nước, một số hàng hoá, dịch vụ nếu tiếp tục áp dụng không chịu thuế giá trị gia tăng sẽ
không còn phù hợp, gây bất lợi cho sản xuất kinh doanh, bởi vì doanh nghiệp sản xuất, kinh
doanh các hàng hoá, dịch vụ không chịu thuế giá trị gia tăng sẽ không được tính thuế giá trị
gia tăng cho người mua, như vậy, toàn bộ số thuế giá trị gia tăng đã trả khi mua các yếu tố
đầu vào phục vụ cho sản xuất kinh doanh sẽ không được khấu trừ mà phải tính vào giá thành
sản phẩm, từ đó làm tăng chi phí, giảm khả năng cạnh tranh của những hàng hoá, dịch vụ
này trên thị trường trong nước và quốc tế. Do đó, cần rà soát để chuyển sang đối tượng chịu
thuế nhằm đảm bảo tính liên hoàn của thuế giá trị gia tăng và tạo thuận lợi hơn cho cơ sở
sản xuất, kinh doanh.
Để phù hợp với thông lệ quốc tế, Luật thuế giá trị gia tăng quy định một số dịch vụ
tài chính cụ thể thuộc diện không chịu thuế giá trị gia tăng nên trong thực tiễn thi hành, cùng
với quá trình hội nhập và sự phát triển của thị trường tài chính đã xuất hiện ngày càng nhiều
các dịch vụ tài chính mới chưa được quy định trong Luật, như: dịch vụ hoán đổi lãi suất, hợp
đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai, quyền chọn mua, quyền chọn bán, bán ngoại tệ, (gọi
[Type text] Page 17
chung là các dịch vụ tài chính phái sinh) và các giao dịch chuyển nhượng vốn. Vì vậy, các
dịch vụ tài chính mới này cần được bổ sung vào Luật để đảm bảo cơ sở pháp lý trong quá
trình thực hiện và phù hợp với thông lệ quốc tế.
*** Tại Khoản 4 Điều 4, Luật thuế giá trị gia tăng năm 1997 và sửa đổi, bổ sung
quy định: “Thiết bị, máy móc, phương tiện vận tải chuyên dùng trong dây chuyền công nghệ
và vật tư xây dựng thuộc loại trong nước chưa sản xuất được cần nhập khẩu để tạo tài sản
cố định của doanh nghiệp; Thiết bị, máy móc, vật tư thuộc loại trong nước chưa sản xuất
được cần nhập khẩu để sử dụng trực tiếp vào hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển
doanh và để cho thuê.”
*** Đối với nhóm hàng hoá, dịch vụ là hoạt động văn hoá, triển lãm và thể dục,
thể thao; biểu diễn nghệ thuật; sản xuất phim; nhập khẩu, phát hành và chiếu phim
nhựa, phim vi-đi-ô tài liệu; điều tra, thăm dò địa chất, đo đạc, lập bản đồ thuộc loại
điều tra cơ bản của Nhà nƣớc:
Tại Khoản 10, Khoản 17, Điều 4, Luật thuế giá trị gia tăng năm 1997 và sửa đổi, bổ
sung quy định: “Hoạt động văn hoá, triển lãm và thể dục, thể thao; biểu diễn nghệ thuật;
sản xuất phim; nhập khẩu, phát hành và chiếu phim nhựa, phim vi-đi-ô tài liệu”; “Điều tra,
thăm dò địa chất, đo đạc, lập bản đồ thuộc loại điều tra cơ bản của Nhà nước” thuộc đối
tượng không chịu thuế giá trị gia tăng . Quy định này là phù hợp với thực tiễn thời gian qua
vì các hoạt động này chủ yếu do các đơn vị sự nghiệp thực hiện bằng nguồn kinh phí ngân
sách nhà nước. Đến nay, thực hiện chủ trương xã hội hoá, Nhà nước khuyến khích các đơn
vị sự nghiệp chuyển sang hoạt động theo mô hình doanh nghiệp, thực hiện cung cấp hàng
hoá, dịch vụ theo phương thức Nhà nước đặt hàng, đồng thời khuyến khích và tạo điều kiện
để các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia bỏ vốn đầu tư. Việc tiếp tục áp
dụng không chịu thuế đối với những hàng hoá, dịch vụ này sẽ không còn phù hợp, không
khuyến khích doanh nghiệp bỏ vốn đầu tư, ảnh hưởng đến chủ trương xã hội hoá.
Do đó, tại Luật thuế giá trị gia tăng năm 2008 hai nhóm hàng hoá, dịch vụ nêu trên đã
được chuyển vào diện chịu thuế để đảm bảo tính liên hoàn của thuế giá trị gia tăng, doanh
nghiệp kinh doanh các hàng hoá, dịch vụ này được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào,
giảm chi phí, từ đó nâng cao hiệu quả kinh doanh. Trường hợp cung cấp hàng hoá, dịch vụ
theo phương thức Nhà nước đặt hàng thì Nhà nước bố trí đủ kinh phí để doanh nghiệp nộp
thuế.
[Type text] Page 19
*** Đối với nhóm hàng hoá, dịch vụ là vận tải quốc tế; hàng hóa, dịch vụ cung ứng
trực tiếp cho vận tải quốc tế:
Tại Khoản 22 Điều 4, Luật thuế giá trị gia tăng năm 1997 và sửa đổi, bổ sung quy
định: “Vận tải quốc tế; hàng hóa, dịch vụ cung ứng trực tiếp cho vận tải quốc tế” thuộc diện
không chịu thuế. Quy định này là phù hợp với thực tiễn thời gian qua do năng lực vận tải
trường hợp, hàng hóa, dịch vụ ế ẩm được các doanh nghiệp, đơn vị dùng làm quà biếu, tặng
hoặc khuyến mại để quảng bá, khuếch trương hình ảnh, thương hiệu. Nếu những sản phẩm,
dịch vụ ấy góp phần quan trọng trong việc quảng bá hình ảnh Việt Nam, doanh nghiệp
không thu được tiền mà vẫn phải chịu thuế là không hợp lý.
Thực tế, thời gian qua có nhiều doanh nghiệp được phép tổ chức các buổi biểu diễn
văn hóa, nghệ thuật, như các cuộc thi sắc đẹp, ca nhạc nhằm quảng bá du lịch và văn hóa
Việt Nam. Nhiều trường hợp không bán được một phần hoặc toàn bộ vé, phải chuyển thành
giấy mời phát cho các đơn vị, cá nhân theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền nhằm bảo
đảm hình ảnh quảng bá hấp dẫn cho địa phương cũng như sự kiện tổ chức. Theo quy định,
số vé này vẫn bị tính thuế. Doanh nghiệp không thu được tiền, chịu lỗ nhưng vẫn phải nộp
thuế VAT nên họ rất bức xúc.
Không những không bán được hàng hóa, dịch vụ, mà còn bị “cụt vốn” và gánh chịu
nhiều tổn thất khác, những doanh nghiệp “đen đủi” này rõ ràng cần nhận được sự cảm thông,
chia sẻ. Việc họ phải nộp thuế cho những khoản thu không có thật là vô lý. Do vậy, việc sửa
đổi những quy định của pháp luật về thuế giá trị gia tăng trong những trường hợp này là hợp
lý và cần thiết.
Tuy vậy, các nhà làm luật cần dự liệu để đề phòng các doanh nghiệp “lách luật”, gây
thất thoát cho ngân sách Nhà nước, đồng thời tạo ra “sân chơi” bình đẳng cho việc cạnh
tranh giữa các doanh nghiệp. Hầu hết những trường hợp nêu trên đều “nhạy cảm”, khó kiểm
soát được trên thực tế. Chẳng hạn, doanh nghiệp vẫn xuất được hàng nhưng khai rằng phải
tiêu hủy, vẫn bán được vé nhưng khai rằng không bán được vé. Khi dự liệu được càng nhiều
tình huống như vậy, những quy định của pháp luật sẽ càng được xây dựng chặt chẽ hơn,
không còn tình trạng luật vừa được ban hành đã phải sửa.
Một số nhóm hàng hoá, dịch vụ cần tiếp tục áp dụng không chịu thuế GTGT cho phù
hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam, bao gồm: nhóm các mặt hàng sản phẩm
nông nghiệp của tổ chức, hộ gia đình cá nhân tự sản xuất và bán ra; các dịch vụ xã hội cần
thiết phục vụ chính sách phát triển con người, bao gồm: y tế, giáo dục, đào tạo; một số dịch
[Type text] Page 21
vụ công như dịch vụ thoát nước đường phố và khu dân cư, duy trì vườn thú, vườn hoa, công
Đối tượng áp dụng thuế suất 5% là nhóm các mặt hàng sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản
chưa qua chế biến ở khâu thương mại và một số hàng hoá, dịch vụ thiết yếu của người dân
như nước sạch, thuốc chữa bệnh, dụng cụ y tế, giáo cụ phục vụ giảng dạy và học tập; một số
hàng hoá, dịch vụ là đầu vào của sản xuất nông nghiệp như phân bón, thuốc trừ sâu và chất
kích thích tăng trưởng vật nuôi, cây trồng, thức ăn gia súc và dịch vụ trực tiếp phục vụ sản
xuất nông nghiệp. Trước đây, các hàng hoá, dịch vụ này có mức thuế suất thuế doanh thu
thấp (0,5% đến 1%) nên khi chuyển sang áp dụng thuế GTGT cần thiết áp dụng mức thuế
suất 5%. Đây là những sản phẩm phục vụ nhu cầu thiết yếu của người dân nên tiếp tục áp
dụng mức thuế suất 5% trong một thời gian nữa.
Những năm đầu thực hiện Luật thuế GTGT, nước ta bị tác động của cuộc khủng
hoảng tài chính-tiền tệ Châu Á, một số doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh những mặt hàng
đang ở mức thuế suất 10% gặp khó khăn về tiêu thụ hàng hoá sản xuất ra do sức mua xã hội
giảm sút nên Chính phủ đã trình Quốc hội điều chỉnh một số hàng hoá, dịch vụ từ mức thuế
suất 10% xuống mức thuế suất 5% (ví dụ sản phẩm cơ khí là tư liệu sản xuất; khuôn đúc các
loại; ván ép nhân tạo; sản phẩm bê tông công nghiệp gồm dầm cầu bê tông, dầm và khung
nhà bê tông, cọc bê tông, cột điện bê tông, ống cống tròn bê tông, hộp bê tông các loại, pa-
nen và các loại cấu kiện bê tông cốt thép đúc sẵn phi tiêu chuẩn, bê tông thương phẩm; lốp
và bộ săm lốp cỡ từ 900-20 trở lên ).
Thực tiễn những năm qua cho thấy: ngoài các hàng hoá, dịch vụ được điều chỉnh thuế
suất từ 5% sang 10% có tình hình sản xuất kinh doanh phát triển, hiệu quả kinh doanh tốt,
các hàng hoá, dịch vụ hiện đang áp dụng thuế suất 5% cũng có tình hình sản xuất kinh doanh
tốt và có khả năng xem xét để chuyển từ diện áp dụng mức thuế suất 5% sang thuế suất
10%. Việc chuyển lại thuế suất 10% đối với những hàng hoá, dịch vụ này nhằm đảm bảo
tính liên hoàn của thuế giá trị gia tăng, hạn chế các trường hợp phải hoàn thuế do có mức
thuế suất đầu vào lớn hơn mức thuế suất đầu ra.
Tuy nhiên, trong điều kiện kinh tế - xã hội nước ta hiện nay cần thiết tiếp tục duy trì
mức thuế suất 5% đối với hàng hoá, dịch vụ là đầu vào của sản xuất nông nghiệp hoặc hàng
hoá, dịch vụ phục vụ nhu cầu thiết yếu của người dân bởi các lý do sau:
Sản phẩm nông nghiệp do cơ sở trực tiếp sản xuất bán ra thuộc diện không chịu thuế GTGT
nên cơ sở sản xuất không được khấu trừ, hoàn thuế GTGT đầu vào. Vì vậy, cần tiếp tục duy
trong khấu trừ, làm giảm số thuế giá trị gia tăng phải nộp hoặc tăng số thuế giá trị gia tăng
[Type text] Page 24
được hoàn khống rút tiền ngân sách, gây bất bình đẳng về nghĩa vụ thuế giữa các đối tượng
nộp thuế, ảnh hưởng đến môi trường đầu tư. Trong thời gian vừa qua đã xuất hiện một loại
tội phạm kinh tế mới - tội phạm mua, bán, sử dụng hoá đơn bất hợp pháp để chiếm đoạt tiền
thuế giá trị gia tăng của Nhà nước như một số đối tượng đã lợi dụng sự thông thoáng của
Luật doanh nghiệp và quy định về điều kiện được khấu trừ thuế, được hoàn thuế nêu trên để
thành lập doanh nghiệp nhằm mục đích mua, bán hoá đơn kiếm lời bất chính (doanh nghiệp
ma)
Luật thuế GTGT quy định phương pháp khấu trừ thuế được áp dụng đối với các loại
hình doanh nghiệp, hợp tác xã đã thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, hoá đơn, chứng từ. Căn
cứ để khấu trừ thuế là hoá đơn GTGT mua hàng hoá, dịch vụ phục vụ cho sản xuất, kinh
doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT nên trong quá trình thực hiện Luật thuế GTGT
một số doanh nghiệp đã lợi dụng quy định này, sử dụng hoá đơn giả, hoá đơn ghi chép
không trung thực nội dung kinh tế phát sinh và các loại hoá đơn bất hợp pháp khác để kê
khai khấu trừ thuế GTGT đầu vào nhằm trốn, lậu thuế không những gây thất thu cho NSNN
mà còn ảnh hưởng tới môi trường đầu tư, tạo sự bất bình đẳng về nghĩa vụ thuế giữa các đối
tượng nộp thuế.
Trong thời gian vừa qua đã xuất hiện một loại tội phạm kinh tế mới - tội phạm mua,
bán, sử dụng hoá đơn bất hợp pháp để chiếm đoạt tiền thuế GTGT của Nhà nước như một số
đối tượng đã lợi dụng sự thông thoáng của Luật Doanh nghiệp, thành lập doanh nghiệp
nhằm mục đích mua, bán hoá đơn kiếm lời bất chính (doanh nghiệp ma), một số cơ sở kinh
doanh đã mua hoá đơn bất hợp pháp để kê khai khấu trừ thuế GTGT đầu vào
Trước năm 2003, để được khấu trừ, hoàn thuế GTGT đầu vào, cơ sở sản xuất, kinh
doanh hàng xuất khẩu không bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng nên trong quá trình
thực hiện một số cơ sở kinh doanh hàng xuất khẩu đã lợi dụng quy định này lập hồ sơ xuất
khẩu hàng hoá khống, sử dụng hoá đơn bất hợp pháp (hoá đơn giả, hoá đơn ghi nội dung
mua bán khống ) qua đường biên giới đất liền (đặc biệt là biên giới với Trung Quốc) để
hoàn thuế GTGT đầu vào nhằm chiếm đoạt tiền của Nhà nước.