THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN LOẠI HÌNH BẢO HIỂM HỎA HOẠN NHÀ Ở TƯ NHÂN Ở VIỆT NAM - Pdf 11

Nhóm 14_ Đề tài 11
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM
KHOA NGÂN HÀNG
MÔN NGUYÊN LÝ VÀ THỰC HÀNH BẢO HIỂM
ooOoo
ĐỀ TÀI:
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT
TRIỂN LOẠI HÌNH BẢO HIỂM HỎA HOẠN
NHÀ Ở TƯ NHÂN Ở VIỆT NAM
GVHD: TS. Nguyễn Tấn Hoàng
SVTH: NH 11_K33
Nguyễn Thị Thu Nhi
Nguyễn Thị Huỳnh Như
Phạm Thị Thanh Vương
Lê Thị Tài
Phạm Thị Xuân
TP Hồ Chí Minh, tháng 09 năm 2010
GV: TS. Nguyễn Tấn Hoàng

1
Nhóm 14_ Đề tài 11
TLỜI MỞ ĐẦU
hị trường bảo hiểm ở nước ta trong những năm gần đây đã rất sôi động, đa dạng. Số lượng
công ty hoạt động kinh doanh bảo hiểm ngày càng tăng; các loại hình sở hữu đa dạng
thuộc cả ba lĩnh vực bảo hiểm con người, bảo hiểm tài sản và bảo hiểm trách nhiệm dân
sự; tính cạnh tranh của các công ty đã và đang từng bước thoả mãn tốt hơn nhu cầu của
các khách hàng.
Bảo hiểm hỏa hoạn nhà ở tư nhân là một lĩnh vực đáng được quan tâm khi mà
hàng năm ở Việt Nam xảy ra hàng trăm vụ cháy, làm thiệt hại người và của hàng trăm tỷ
đồng. Để khắc phục những hậu quả nặng nề do những vụ hoả hoạn gây ra, từ lâu, người ta
đã tìm kiếm và sử dụng rất nhiều biện pháp kinh tế. Trong đó, có thể khẳng định rằng cho
MỤC LỤC
GV: TS. Nguyễn Tấn Hoàng

3
Nhóm 14_ Đề tài 11

I. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO HIỂM HỎA HOẠN (BHHH) NHÀ Ở TƯ
NHÂN Ở VIỆT NAM 5
1. Định nghĩa BHHH nhà ở tư nhân ở Việt Nam 5
2. Tầm quan trọng của bảo hiểm hỏa hoạn nhà ở tư nhân 5
3. Một số quy định về BHHH 5
3.1 Đối tượng áp dụng 5
3.2 Phạm vi bảo hiểm 5
3.3 Số tiền bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc tối thiểu 7
3.4 Phí bảo hiểm cháy, nổ 7
3.5 Trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm 8
3.6 Giám định tổn thất 8
3.7 Phương thức bồi thường 9
II. THỰC TRẠNG BHHH NHÀ Ở TƯ NHÂN Ở VIỆT NAM 9
1. Nguy cơ hỏa hoạn có ở khắp nơi 9
2. Tình hình hỏa hoạn nhà ở trong những năm qua 10
3. Nguyên nhân của việc không mua bảo hiểm hỏa hoạn 11
4. Khó khăn trong việc phát triển bảo hiểm hỏa hoạn tại Việt nam hiện nay 12
III. GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN BHHH NHÀ Ở TƯ NHÂN Ở VIỆT NAM 13
1. Đối với nhà nước 13

 Nhà ở tập thể, nhà chung cư cao từ 5 tầng trở lên hoặc khối tích từ 5000 mét khối
trở lên
3.2 Phạm vi bảo hiểm:
 Các rủi ro được bảo hiểm:
GV: TS. Nguyễn Tấn Hoàng

5
Nhóm 14_ Đề tài 11
 Cháy:(do nổ hay bất kỳ nguyên nhân nào khác ) loại trừ động đất hoặc lửa
ngầm dưới đất,và bản thân tài sản bị phá hủy hoặc hư hỏng do sự lên men
hoặc quá trình xử lý bằng nhiệt
 Sét: thiệt hại trực tiếp do sét gây ra
 Nổ thiệt hại nổ nồi hơi phục vụ sinh hoạt, hơi đốt phục vụ sinh hoạt thắp
sáng hoặc sưởi ấm trong nhà loại trừ do động đất, núi lửa phun trào hoặc
các biến động khác của thiên nhiên.
 Các rủi ro loại trừ bảo hiểm:
Các doanh nghiệp bảo hiểm không có nghĩa vụ bồi thường nếu thiệt hại do một trong
những nguyên nhân sau đây gây ra:
 Động đất, núi lửa phun hay những biến động khác của thiên nhiên.
 Tài sản tự lên men hoặc tự toả nhiệt.
 Tài sản chịu tác động của một quá trình xử lý có dùng nhiệt.
 Sét đánh trực tiếp vào tài sản được bảo hiểm nhưng không gây cháy, nổ.
 Nguyên liệu vũ khí hạt nhân gây cháy, nổ.
 Thiệt hại xảy ra đối với máy móc, thiết bị điện hay các bộ phận của thiết bị
điện do chạy quá tải, quá áp lực, đoản mạch, tự đốt nóng, hồ quang điện
hay rò điện do bất kỳ nguyên nhân nào, kể cả do sét đánh.Thiệt hại do hành
động cố ý gây cháy, nổ của người được bảo hiểm nhằm mục đích đòi bồi
thường thiệt hại theo hợp đồng bảo hiểm.
 Những thiệt hại do cố ý vi phạm các quy định về phòng cháy và chữa cháy
để xảy ra cháy, nổ.

bảo hiểm. Trường hợp không xác định được giá thị trường của tài sản thì số tiền
bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc do các bên thoả thuận
3.4 Phí bảo hiểm cháy, nổ:
 Được tính trên cơ sở 1 năm. Trường hợp thời gian bảo hiểm khác 1 năm, phí bảo
hiểm được tính tương ứng theo tỷ lệ của thời hạn bảo hiểm. Đối với số tiền bảo
hiểm được xác định theo giá trị trung bình thì phí bảo hiểm được tính trên cơ sở
giá trị trung bình đó.
 Đối với số tiền bảo hiểm được xác định theo giá trị tối đa thì phí bảo hiểm được
tính toán cụ thể như sau:
 Khi giao kết hợp đồng bảo hiểm, phí bảo hiểm được tính trên cơ sở giá trị
tối đa theo thông báo của bên mua bảo hiểm. Doanh nghiệp bảo hiểm chỉ
được thu trước 75% số phí bảo hiểm tính trên cơ sở giá trị tối đa
 Cuối thời hạn bảo hiểm, căn cứ các giá trị tối đa được thông báo theo quy
định tại điểm b) Khoản 2 Điều 4 Quy tắc này, doanh nghiệp bảo hiểm tính
GV: TS. Nguyễn Tấn Hoàng

7
Nhóm 14_ Đề tài 11
giá trị tài sản tối đa bình quân của cả thời hạn bảo hiểm và tính lại phí bảo
hiểm trên cơ sở giá trị tối đa bình quân này. Nếu phí bảo hiểm được tính lại
nhiều hơn phí bảo hiểm đã nộp thì bên mua bảo hiểm phải trả thêm cho
doanh nghiệp bảo hiểm số phí bảo hiểm còn thiếu. Nếu số phí bảo hiểm
được tính lại này thấp hơn số phí bảo hiểm đã nộp thì doanh nghiệp bảo
hiểm phải hoàn trả số chênh lệch cho bên mua bảo hiểm. Tuy nhiên, số phí
bảo hiểm chính thức phải nộp không được thấp hơn 2/3 số phí bảo hiểm đã
nộp.
 Nếu trong thời hạn bảo hiểm đã có tổn thất được doanh nghiệp bảo hiểm
bồi thường và số tiền bồi thường vượt quá giá trị tối đa bình quân tính đến
thời điểm xảy ra tổn thất thì số tiền đã bồi thường được coi là số tiền bảo
hiểm và phí bảo hiểm được tính trên cơ sở số tiền bảo hiểm này.

Ở Việt Nam, bảo hiểm hỏa hoạn bắt đầu được thực hiện từ năm 1989 sau khi có
Quyết định số 06/TCQĐ ngày 17-01-1989 của Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành Quy tắc
về bảo hiểm hỏa hoạn. Đến nay, do sự tối ưu của bảo hiểm hỏa hoạn, Chính phủ đã ban
hành Nghị định số 130/2006/NĐ-CP ngày 08-11-2006 quy định chế độ bảo hiểm cháy nổ
bắt buộc. Tuy nhiên, đến cuối năm 2009, trong số hơn 30.000 cơ sở thuộc diện quy định,
chỉ có hơn 15% tham gia mua bảo hiểm bắt buộc. Nếu tính cả những trường hợp mua bảo
hiểm tự nguyện, tỉ lệ này cũng chỉ vào khoảng 42%.
1. Nguy cơ hỏa hoạn có ở khắp nơi:
 Tại các khu dân cư, nhiều gia đình sống trong diện tích nhỏ, nơi đun nấu chật chội,
xung quanh chất đầy đồ dùng sinh hoạt và các vật liệu dễ cháy như sách báo, giấy
vụn… Nhiều gia đình sử dụng bếp gas không đúng quy cách khi đun nấu, không
kiểm tra van tắt mở, đường ống ga; thói quen không dập than sau khi sử dụng bếp
than tổ ong đều có thể gây cháy bất cứ lúc nào
 Trong các khu phố cổ và đặc biệt các khu tập thể cũ, hệ thống đường điện sinh
hoạt được người dân câu mắc tạm bợ, nhằng nhịt, nhiều điểm đấu nối không đảm
bảo an toàn khiến nguy cơ xảy ra cháy do chập điện cũng rất cao. Trong khi đó,
thống kê từ những vụ cháy nổ gần đây xảy ra trên địa bàn TP.Hà Nội cho thấy,
nguyên nhân sự cố do điện chiếm tới phân nửa số vụ.
 Tại các khu tập thể cũ, nguy cơ xảy ra cháy ở khu vực cầu thang là đặc biệt nguy
hiểm, vì theo thiết kế từ những năm 80-90, những khu tập thể này thường chỉ có 1
cầu thang chính lên xuống, không có cầu thang thoát hiểm kiểu chung cư hiện đại.
 Còn tại các khu chợ lại có đặc thù là lượng ki-ốt kinh doanh quá dày, mật độ hàng
hoá cao, trong đó có nhiều mặt hàng dễ cháy: vải vóc, quần áo, tạp hoá… Điều
GV: TS. Nguyễn Tấn Hoàng

9
Nhóm 14_ Đề tài 11
đáng quan ngại nhất ở đây là tình trạng thắp hương, đốt vàng mã ngay tại quầy, sạp
của đa số bà con tiểu thương. Không chỉ ngày rằm, mùng 1 mà ngày thường bà con
vẫn thắp để cầu buôn bán hanh thông

Nhóm 14_ Đề tài 11
Khói nghi ngút ở các tầng trên chung cư SJC 34.
 Còn rất nhiều vụ hỏa hoạn xảy ra trong thời gian qua. Và có một đặc điểm chung là
hầu như tất cả đều chưa hoặc cố tình không mua bảo hiểm hỏa hoạn theo luật quy
định. Điều đó đã dẫn đến một thực trạng đáng tiếc là thiệt hại khi cháy xảy ra đã
không được bồi thường khắc phục hậu quả. Gần đây, khi nhiều vụ cháy lớn xảy ra
liên tiếp, người ta mới phát hiện ra rằng việc tham gia bảo hiểm cháy nổ bắt buộc
còn rất hạn chế, chỉ khoảng 20% trên tổng số phải mua theo quy định.
3. Nguyên nhân của việc không mua bảo hiểm hỏa hoạn:
 Thật ra loại hình bảo hiểm nhà tư nhân đã có từ khoảng 8 năm trước đây nhưng chỉ
được quan tâm mua nhiều trong khoảng thời gian 2 năm nay. Nguyên nhân là do
trước đây người dân chưa có nhiều của để dành, nhu cầu bảo vệ tài sản chưa phát
sinh và quan niệm “trời kêu ai nấy dạ”…
 Ở các khu chung cư chủ đầu tư trốn mua BHCN bắt buộc là do các DN phải trả phí
cao hơn so với bảo hiểm tự nguyện, nên nhiều chủ đầu tư xây chung cư đã đẩy
trách nhiệm đó cho các chủ hộ. Kết quả là số người dân sống ở chung cư, một số
chủ đầu tư thực hiện việc mua BHHH bắt buộc rất ít. Cụ thể: trong lĩnh vực kinh
doanh BH cháy nổ của Tổng Công ty Bảo Việt, nhóm khách hàng chung cư, nhà
cao tầng chỉ chiếm chưa đầy 5%.
 Có một điểm khó khiến các cơ sở chưa nhiệt tình là theo quy định, muốn tham gia
bảo hiểm cháy nổ bắt buộc, đơn vị đó phải có giấy chứng nhận đủ điều kiện về
GV: TS. Nguyễn Tấn Hoàng

11
Nhóm 14_ Đề tài 11
phòng cháy chữa cháy hoặc biên bản kết luận cơ sở đủ điều kiện về phòng cháy
chữa cháy. Trong khi đó, thủ tục và tiến trình cấp giấy còn chưa đáp ứng nhu cầu
thực tế, nên nhiều trường hợp chưa quan tâm đến loại bảo hiểm này.
 Những bất cập trên thị trường bảo hiểm cháy nổ và rủi ro đặc biệt tại Việt Nam
hiện nay đang khiến cho việc triển khai loại hình bảo hiểm này gặp nhiều khó

III. GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN BHHH NHÀ Ở TƯ NHÂN Ở VIỆT NAM:
1. Đối với nhà nước :
 Từng bước hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật hướng dẫn việc mua bảo hiểm
hỏa hoạn nhà ở tư nhân một cách đồng bộ, xác định rõ đối tượng nào thuộc diện
mua bảo hiểm bắt buộc hay tự nguyện.
 Theo quy định cũ, các chung cư phải có giấy chứng nhận an toàn PCCC rồi
mới được mua bảo hiểm, nhưng trong thực tế hầu hết các căn hộ chung cư
đều mới chỉ có các phương tiện chữa cháy, còn nếu chiếu theo các tiêu chí
để cấp chứng nhận an toàn PCCC thì ít có nơi nào đạt được, do đó các quy
định này cần phải chỉnh sửa lại cho phù hợp.
 Cần sửa đổi quy định về tỷ lệ 5% kinh phí phòng cháy chữa cháy phải nộp
và tỷ lệ giữ lại của doanh nghiệp bảo hiểm (không tính phần phí tái bảo
hiểm) phù hợp hơn với thực tế
 Thành lập các tổ kiểm tra, giám sát việc thực hiện việc mua bảo hiểm hỏa hoạn
(BHHH) của nhà ở tư nhân theo quy định của Chính phủ. Tăng cường rà soát tất cả
các khu chung cư, nhà ở tư nhân thuộc diện mua BHHH bắt buộc trên điạ bàn của
mỗi tỉnh, TP để khắc phục tình trạng trốn tránh mua BHHH.
 Trong thực tế các quy định đã ban hành nhưng người dân vẫn không hề biết. Vì
vậy, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng
để người dân biết rõ hơn về các quy định này đồng thời thấy được sự cần thiết của
bảo mua bảo hiểm để bảo vệ lợi ích cho mình và xã hội.
 Nhu cầu bảo hiểm hỏa hoạn và rủi ro đặc biệt đang ngày một gia tăng theo đà tăng
trưởng của đầu tư tư nhân và đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực nhà ở, khu chung cư
tại Việt Nam, bên cạnh đó rủi ro từ thiên tai: giông tố, bão, lũ lụt cũng xảy ra
ngày càng nhiều và mức độ gây thiệt hại ngày càng nghiêm trọng, tạo ra tiềm năng
cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm hỏa hoạn ở nước ta thì tình trạng kinh doanh
không có lãi của các doanh nghiệp bảo hiểm hỏa hoạn và rủi ro đặc biệt cũng đáng
phải xem xét.VD:
 Năm 2008 có 16 doanh nghiệp bảo hiểm cung cấp dịch vụ bảo hiểm hỏa
hoạn thì có tới 5 doanh nghiệp lỗ là: AAA, Bảo Tín, Groupama, Liberty và

14
Nhóm 14_ Đề tài 11
KẾT LUẬN
Bảo hiểm là một lĩnh vực rất quan trọng đối với các quốc gia nói chung và với Việt
Nam nói riêng. Không chỉ là một biện pháp di chuyển rủi ro, bảo hiểm ngày nay đã trở
thành một trong những kênh huy động vốn hiệu quả cho nền kinh tế.
Kinh doanh bảo hiểm hỏa hoạn nhà ở tư nhân là kinh doanh rủi ro, chia sẻ tổn thất
với khách hàng. Sản phẩm bảo hiểm là những dịch vụ mang tính đặc thù, riêng có, trừu
tượng nhưng lại rất cụ thể, và thực tế hơn tất cả những sản phẩm khác trên thị trường một
khi những điều khoản trong hợp đồng bảo hiểm được thực thi kịp thời, hiệu quả.
Đối với khách hàng, đóng phí bảo hiểm hỏa hoạn nhà ở là để mua lấy sự yên tâm
trong công việc, chia sẻ lo ngại về những mầm mống rủi ro cháy, nổ có thể xảy ra trong
cuộc sống. Đối với cộng đồng, bảo hiểm góp phần to lớn trong việc điều hòa cán cân thu
nhập, điều tiết lợi ích và ổn định xã hội….
Thực tế hoạt động kinh doanh bảo hiểm thời gian qua đã cho thấy sự lớn mạnh
không ngừng của ngành bảo hiểm và nhiều tiềm năng phát triển trong tương lai. Tuy
nhiên, thị trường bảo hiểm Việt Nam đang được đa dạng hóa với tốc độ cao, sức ép mở
cửa thị trường và thách thức hội nhập ngày càng lớn. Ngành bảo hiểm Việt Nam sẽ phải
có những bước cải tiến mới để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
và đáp ứng yêu cầu của tiến trình hội nhập.
TÀI LIỆU THAM KHẢO

GV: TS. Nguyễn Tấn Hoàng

15
Nhóm 14_ Đề tài 11
1. Nguyên lý và thực hành bảo hiểm_Nhà xuất bản Tài Chính
2.
3.
4.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status