PHÁT TRIỂN LOẠI HÌNH BẢO HIỂM HỎA HOẠN NHÀ TƯ NHÂN Ở VIỆT NAM - Pdf 11

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA NGÂN HÀNG
MÔN NGUYÊN LÝ & THỰC HÀNH BẢO HIỂM

TP. HỒ CHÍ MINH, 2010
PHÁT TRIỂN LOẠI HÌNH
BẢO HIỂM HỎA HOẠN
NHÀ TƯ NHÂN Ở VIỆT NAM
Đề tài 11:
Nhận xét của giảng viên

NG%* /
/+<))C>,4$5NG%*
9
D>DD>$()P,4 .
4Q%?8ND>$$R('()*.
+>D>D#0
+,I>*S$*0
++TI>@&7
+/,BJ2D>DC>7
4
MU<VW4+
LỜI MỞ ĐẦU
Xã hội ngày càng phát triển, khoa học tiên tiến và cuộc sống con người ngày càng
được hoàn thiện và sung túc hơn. Những ngành nghề mới liên tục ra đời đáp ứng nhu cầu
ngày càng gia tăng của xã hội. Mỗi ngành nghề lại có những đặc điểm riêng và tác dụng
riêng đến nền kinh tế nhưng đều hướng đến một mục đích chung là luôn hướng tới sự phồn
thịnh, ấm no về vật chất cũng như tinh thần, đảm bảo công bằng xã hội và phúc lợi xã hội.
Tuy nhiên cho dù có phát triển đến đâu thì vẫn không thể loại bỏ hoàn toàn những rủi ro có
thể xảy ra ngoài tầm kiểm soát của con người. Rủi ro nhưng một đám mây đen bao phủ
nền kinh tế và có thể sẵn sàng ậm xuống bất cứ lúc nào gây ra những thiệt hại nặng nề đến
nền kinh tế của bất cứ quốc gia nào trên thế giới. và cũng chính vì nhu cầu hạn chế và
giảm thiểu thiệt hại do rủi ro gây ra thì ngành Bảo hiểm đã ra đời. Bảo hiểm được biết như
một công cụ đề giảm thiểu tối đa nhưng thiệt hại do rủi ro gây ra cho người gánh chịu nói
riêng và nền kinh tế nói chung. Bảo hiểm là một hoạt động dựa trên nguyên tắc số đông bù
số ít. Bảo hiểm còn mang lại cho nền kinh những lợi ích to lớn khác cho nền kinh tế và
không ai có thể trối cãi được. Do đó ta thấy được sự ra đời và phát triển của bảo hiểm là
một trong những nhu cầu khách quan khi xã hội ngày càng phát triển.
Trong các loại rủi ro thì rủi ro do cháy nổ hỏa hoạn là một trong những rủi ro có
nguy cơ xảy ra cao và gây thiệt hại nặng nề, đặc biệt là ở những nước nằm trong vùng khí
hậu nóng bức như nước ta. Chính vì thế mà ngành bảo hiểm cũng có một loại sản phẩm

(Lageometric Du Hasard) năm 1654 đã đưa đến toán học xác suất. Đó là cơ sở thống kê
xác suất phục vụ cho hoạt động bảo hiểm và ngày nay vẫn được coi là kỹ thuật cơ bản của
ngành bảo hiểm.
Trong khoảng 200 năm ra đời và phát triển, bảo hiểm hỏa hoạn đã đáp ứng được nhu
cầu khẩn thiết chống lại sức tàn phá của các vụ hỏa hoạn.
Bảo hiểm Việt Nam bắt đầu với sự ra đời của Công ty Bảo hiểm Việt Nam (gọi tắt là
Bảo Việt) ngày 15/01/1965. Tuy nhiên thị trường thị trường bảo hiểm Việt Nam bắt đầu
phát triển thật sự kể từ khi Nghị định 100/NĐ-CP của Chính phủ ngày 18/12/1993 về kinh
doanh bảo hiểm ở Việt Nam ra đời, và Luật kinh doanh bảo hiểm ngày 09/12/2000 đã tạo
hành lang pháp lý cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam. Nếu như năm 1993 thị
trường bảo hiểm Việt Nam chỉ có duy nhất công ty Bảo Việt thì đến nay đã thật sự sôi
6
động với sự hiện diện của nhiều công ty bảo hiểm với nhiều hình thức sở hữu khác nhau:
sở hữu nhà nước, công ty liên doanh, công ty cổ phần, công ty 100% vốn nước ngoài.
Tuy nhiên, bảo hiểm hỏa hoạn chỉ bắt đầu xuất hiện từ năm 1989 sau khi có Quyết
định số 06/TCQĐ ngày 17-01-1989 của Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành Quy tắc về bảo
hiểm hỏa hoạn. Mỗi năm nước ta xảy ra hàng nghìn vụ hỏa hoạn làm chết, bị thương hàng
trăm người, thiệt hại về tài sản hàng chục tỷ đồng. Đến nay, do sự tối ưu của bảo hiểm hỏa
hoạn, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 130/2006/NĐ-CP ngày 08-11-2006 quy định
chế độ bảo hiểm cháy nổ bắt buộc đối với tổ chức và cá nhân nhằm hạn chế thiệt hại có thể
xảy ra. Ngay sau đó, thị trường bảo hiểm nhà tư nhân bắt đầu sôi động. Các công ty bảo
hiểm không chỉ bảo hiểm rủi ro hỏa hoạn mà bảo hiểm cả rủi ro nổ, động đất, trộm cướp
với mức phí hấp dẫn cho khách hàng lựa chọn.
Bảo hiểm hỏa hoạn ra đời không những bảo vệ tài sản cho những người tham gia bảo
hiểm mà nó còn đảm bảo cho quá trình tái sản xuất xã hội được liên tục, không bị gián
đoạn. Bên cạnh đó, bảo hiểm hỏa hoạn còn góp phần vào việc ổn định và phát triển nền
kinh tế xã hội. Một phần không nhỏ nguồn phí bảo hiểm thu được từ các nghiệp vụ này
được các công ty bảo hiểm đóng góp vào ngân sách Nhà nước để chính phủ sử dụng vào
các mục đích xã hội khác.
1.2. Vai trò:

năm.
1.3. Giới thiệu về loại hình bảo hiểm hỏa hoạn nhà tư nhân:
1.3.1. Đối tượng được bảo hiểm:
Nhà ở tư nhân và mọi tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng, trông coi, kiểm soát của
Người được Bảo hiểm. Tiền (tiền giấy hay tiền kim loại), séc, thư bảo lãnh, tín phiếu, tem,
tài liệu, bản thảo, sổ sách, giấy tờ các loại, vàng bạc, kim loại quý, đá quý, đồ trang sức,
gia bảo, đồ cổ, đồ thờ cúng, bản vẽ hay tài liệu thiết kế, chất nổ, vật sống, vật nuôi, được
bảo hiểm khi được công ty bảo hiểm chấp thuận bằng văn bản.
− Chi phí dọn dẹp hiện trường.
1.3.2. Những rủi ro được bảo hiểm:
Bảo hiểm cho những tổn thất về tài sản bị rủi ro bất ngờ và không lường trước được
tại ngôi nhà có tham gia bảo hiểm. Giá trị bồi thường tương đương với giá trị phần tổn
thất.
Những rủi ro được bảo hiểm bao gồm :
8
− Hoả hoạn, nổ bình ga hoặc nồi hơi nước, bình đun nước phục vụ sinh hoạt gia
đình; sét đánh.
− Do va chạm với các vật thể như:
• Máy bay và các phương tiện hàng không khác hoặc các thiết bị trên
các phương tiện đó rơi vào.
• Xe cộ hay động vật.
− Và các điều khoản mở rộng kèm theo được ghi cụ thể trên hợp đồng như: Bão,
lốc, lũ lụt, lún đất nhưng ngoại trừ những thiệt hại gây ra do ẩm mốc thông
thường, thiệt hại đối với trang thiết bị bên ngoài Ngôi nhà, và các động sản bên
ngoài khác.
1.3.3. Những rủi ro loại trừ bảo hiểm:
Bất kỳ khiếu nại nào liên quan trực tiếp hay gián tiếp phát sinh do một trong các
trường hợp dưới đây sẽ không được bồi thường :
− Chiến tranh, xâm lược hay các hoạt động tương tự chiến tranh.
− Nội chiến, bạo loạn, hoặc những biến cố và nguyên nhân dẫn đến việc tuyên bố và

chứng minh tổn thất bằng ảnh chụp hoặc tại hiện trường cũng như chứng minh tài sản đó
thuộc quyền sở hữu của mình đang sử dụng cho đến trước khi xảy ra rủi ro tai nạn.
• Đối với nhà cửa: cơ sở tính giá trị thiệt hại là chi phí sửa chữa.
• Đối với tài sản: - nếu tổn thất có thể sữa chữa được thì cơ sở tính là chi phí sửa
chữa. Nếu không sữa chữa được hoặc sữa chữa không kinh tế thì cơ sở tính là chi
phí mua mới trừ giá trị khấu hao nếu bảo hiểm theo giá trị còn lại.
Nhìn chung số tiền bảo hiểm ghi trong đơn bảo hiểm là giới hạn trách nhiệm của
người bảo hiểm cho cả thời hạn bảo hiểm
2. Các yếu tố tác động đến việc triển khai nghiệp vụ bảo hiểm hỏa hoạn nhà tư nhân
tại Việt Nam:
2.1. Xu thế toàn cầu hóa:
Đây là một trong những nhân tố tuy không tác động trực tiếp đến nghiệp vụ bảo
hiểm hỏa hoạn nhà tư nhân, nhưng nó mang lại những tác động gián tiếp hết sức sâu sắc.
Ngày nay xu thế toàn cầu hóa đã tạo điều kiện để nhiều tập đoàn tài chính, các công ty đa
quốc gia khổng lồ, trong đó có các tập đoàn bảo hiểm lớn trên thế giới xâm nhập vào Việt
Nam. Trước 1995, thị trường Việt Nam chỉ có duy nhất công ty bảo hiểm Bảo Việt của
Nhà nước hoạt động độc quyền. Đến ngày 18/12/1993, nghị định 100/CP của Chính phủ ra
đời cho phép các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài được thành lập các công ty bảo
hiểm, tái bảo hiểm, môi giới, mở chi nhánh công ty nước ngoài tại Việt Nam. Điều đó
khiến cho người dân có điều kiện tiếp xúc với môi trường bảo hiểm hiện đại, phong cách
phục vụ hết sức chuyên nghiệp, sản phẩm phong phú, giá cả cạnh tranh của các tập đoàn
lớn trên thế giới. Tính đến thời điểm hiện nay, thị trường bảo hiểm Việt Nam trở nên hết
sức sôi động khi có sự góp mặt của một số lượng lớn các công ty bảo hiểm.
- Công ty bảo hiểm Bảo Việt
- Công ty bảo hiểm Bảo Minh
10
- Công ty tái bảo hiểm quốc gia Việt Nam (VINARE)
- Công ty liên doanh bảo hiểm quốc tế Việt Nam (VIA)
- Công ty bảo hiểm liên hiệp (UIC)
- Công ty bảo hiểm Dầu khí (PVI)

góp phần tạo sự cạnh tranh lành mạnh cho thị trường bảo hiểm. Trong thời gian qua, việc
quản lý của nhà nước về hoạt động bảo hiểm có nhiều chuyển biến mạnh mẽ. Thị trường
11
bảo hiểm Việt Nam dần đi vào nề nếp và có sự quản lý chặt chẽ của nhà nước. Hiệp hội
bảo hiểm Việt Nam được thành lập năm 1999, theo Quyết định số 23/QĐ-BTCCBCP của
Chính phủ, với vai trò của mình Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam sẽ góp phần làm lành mạnh
hóa thị trường bảo hiểm nói chung và thị trường hỏa hoạn nhà tư nhân nói riêng, góp phần
đẩy lùi những hiện tượng kinh doanh trái pháp luật. Đặc biệt hiện nay, luật kinh doanh bảo
hiểm Việt Nam đã được Quốc hội thông qua và có hiệu lực kể từ ngày 01/04/2001 – đây là
văn bản pháp lý quan trọng nhất của thị trường bảo hiểm Việt Nam.
2.4. Tốc độ đô thị hóa ngày càng nhanh:
Một khi tốc độ đô thị hóa càng nhanh, số lượng người chuyển từ nông thôn lên thành
thị càng tăng, nhu cầu về chỗ ở càng tăng do đó sẽ có không ít nhà tư nhân mọc lên. Bên
cạnh đó, rủi ro cháy nổ ở các khu đô thị lớn theo đó cũng tăng lên do đất hẹp người đông,
khi đời sống được nâng cao, nhu cầu bảo vệ chính căn nhà nơi mình ở cùng với những tài
sản giá trị trong đó cũng gia tăng. Do đó đây là điều kiện thuận lợi cho việc phát triển gói
sản phẩm bảo hiểm hỏa hoạn nhà tư nhân. Tuy nhiên, nếu như đô thị hóa không có một
hướng đi đúng đắn mà chỉ mang tính tự phát sẽ một phần gây khó khăn trong công tác
triển khai nghiệp vụ này, do số lượng nhà dân tăng nhưng không theo huy hoạch, chen
chúc nhau trong những con hẻm, những khu dân cư trở nên xuống cấp trầm trọng… khi đó
nguy cơ cháy sẽ xuất hiện, công tác phòng cháy chữa cháy cũng trở nên khó khăn do đó
phí bảo hiểm này sẽ cao hay cũng có thể không bảo hiểm được cho những nơi có rủi ro
cháy quá cao.
2.5. Khả năng tài chính của người dân:
Loại hình bảo hiểm hoạn nhà tư nhân tuy đã xuất hiện cách đây hơn 10 năm, nhưng
chỉ mới phổ biến trong vài năm trở lại đây. Nguyên nhân là do trước đây thu nhập của
người dân còn thấp, chất lượng cuộc sống chưa cao, cũng như chưa có nhiều của cải để
dành, cũng như chưa có những tài sản giá trị lớn nên nhu cầu bảo vệ cũng chưa cao. Khi
khả năng tài chính càng cao, chất lượng cuộc sống được nâng lên kéo theo nhu cầu về hạn
chế những rủi ro trong cuộc sống hàng ngày cũng được quan tâm nhiều hơn. Thêm vào đó

điện và sử dụng thiết bị điện, số vụ do ý thức chấp hành các quy định phòng cháy chữa
cháy của người dân (sơ suất trong sinh hoạt và vi phạm quy định về phòng cháy chữa
cháy) tuy có giảm 8,3% so với năm 2008 nhưng vẫn chiếm tỷ lệ cao (477/1.677 vụ), chiếm
28,4% tổng số vụ. Có thể nói chưa bao giờ cháy nổ lại rình rập và gây ảnh hưởng nghiêm
trọng đến hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như cuộc sống của người dân nhiều như
thời gian vừa qua.
13
Tuy nhiên khi nhiều vụ cháy lớn xảy ra liên tiếp, người ta mới phát hiện ra rằng việc
tham gia bảo hiểm cháy nổ còn rất hạn chế. Trong khi số lượng vụ hỏa hoạn tăng một
cách chóng mặt thì năm 2009, doanh thu phí bảo hiểm cháy nổ bắt buộc toàn thị trường chỉ
đạt 31,7 tỷ đồng, 5 tháng đầu năm 2010 đạt 44,4 tỷ đồng.
DOANH THU PHÍ BẢO HIỂM CỦA TOÀN THỊ TRƯỜNG
(6 tháng đầu năm 2009)
Nghiệp vụ bảo
hiểm
Phí bảo
hiểm gốc

Nhận
TBH
trong
nước.
Nhận
TBH
ngoài
nước.
Nhượng
TBH
trong
nước.

công khai rộng rãi, biểu phí, mức khấu trừ còn rất cao so với biểu phí tự nguyện và chưa
có hướng dẫn bảo hiểm, quy tắc đối với các rủi ro phụ. Nhiều khách hàng đã viện đủ lý do
để trốn tránh việc mua bảo hiểm cháy nổ bắt buộc.
Đến cuối năm 2009, trong số hơn 30.000 cơ sở thuộc diện quy định, chỉ có hơn 15%
tham gia mua bảo hiểm bắt buộc. Nếu tính cả những trường hợp mua bảo hiểm tự nguyện,
tỉ lệ này cũng chỉ vào khoảng 42%. Họ nói rằng họ không thuộc diện tham gia bảo hiểm
cháy nổ bắt buộc theo nghị định của chính phủ. Nhiều doanh nghiệp tư nhân, cơ sở sản
xuất thì không thừa nhận việc mua bảo hiểm cháy nổ bắt buộc vì không có văn bản nào,
thông báo nào từ các cơ quan chức năng xác định doanh nghiệp của họ thuộc diện điều
chỉnh của nghị định.
Thêm vào đó cũng có một số doanh nghiệp chia sẻ rằng: họ cũng muốn thực thi pháp
luật lắm nhưng điều kiện chưa cho phép, chưa có giấy chứng nhận an toàn phòng cháy
14
chữa cháy, chưa được cấp ngân sách, nếu tham gia đầy đủ thì không đủ tiền tham gia, hoặc
có doanh nghiệp đưa ra lý do rằng công ty mẹ ở nước ngoài không đồng ý do không biết
nghị định về bảo hiểm cháy nổ bắt buộc.
Bên cạnh tiềm năng cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm này (nhu cầu bảo hiểm rủi
ro hỏa hoạn và các rủi ro đặc biệt hàng ngày càng gia tăng) thì thực trạng kinh doanh
không có lãi của các doanh nghiệp bảo hiểm đối với nghiệp vụ bảo hiểm hỏa hoạn và rủi
ro đặc biệt cũng đáng phải xem xét.
Theo AVI, doanh thu bảo hiểm hỏa hoạn và rủi ro đặc biệt năm 2005 đạt 5.678 tỷ
đồng và tăng lên 13.641 tỷ đồng vào năm 2009. Tuy nhiên, bắt đầu có dấu hiệu, nhiều
doanh nghiệp bảo hiểm không có lãi trong kinh doanh nghiệp vụ này: năm 2008 có 16
doanh nghiệp bảo hiểm cung cấp dịch vụ này thì có tới 5 doanh nghiệp lỗ là: AAA, Bảo
Tín, Groupama, Liberty và ACE. Năm 2009, mặc dù nhiều doanh nghiệp tăng đầu tư vốn
chủ sở hữu và dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm song vẫn còn 4/16 doanh nghiệp bị lỗ là:
Liberty, Groupama, Fubon và MSIG.
3.2. Tình hình khai thác bảo hiểm hỏa hoạn nhà tư nhân tại Việt Nam trong
những năm gần đây:
Hiện nay thị trường bảo hiểm nhà tư nhân được đánh giá rất rộng, trong đó có sự góp

những vấn đề nan giải trong thởi gian qua. Bên cạnh đó, do đặc thù nhà Việt Nam san sát,
nhiều nhà nằm dưới đường dây điện chằng chịt, treo lơ lửng hoặc bị “khóa” trong các hẻm
nhỏ và cách xa các trung tâm phòng cháy chữa cháy, do đó rủi ro cho các công ty khi bán
bảo hiểm hỏa hoạn nhà tư nhân là rất cao.
Bên cạnh đó, theo khảo sát của các công ty bảo hiểm, hiện nay số lượng người dân
có nhu cầu mua bảo hiểm hỏa hoạn nhà tư nhân không nhiều, phần lớn chỉ mua dưới áp
lực của các ngân hàng khi đem nhà đi thế chấp vay tiền. Ngoài ra, trong quá trình đến nhà
của khách hàng để khảo sát trước khi tiến hành ký hợp đồng, các công ty bảo hiểm ở Việt
Nam đã từng từ chối đề nghị mua bảo hiểm của một số hợp đồng vì nhận thấy độ rủi ro
quá cao, nhất là những căn nhà nằm trong các khu chợ, các căn hẻm quá nhỏ và chằng chịt.
“Tỉ lệ phí Bảo hiểm hiện nay chỉ ở mức 0,15 - 0,2% tổng giá trị tài sản Bảo hiểm, nếu
chúng tôi không khảo sát thực tế mà chỉ dựa vào lời khai của khách hàng thì khó mà gánh
nổi rủi ro”, theo lãnh đạo của một công ty bảo hiểm trong nước phát biểu.
Ngoài ra, để tăng trách nhiệm của khách hàng trong việc bảo vệ tài sản đã được mua
bảo hiểm, các công ty bảo hiểm thường qui định số tiền tối thiểu (mức miễn thường) mà
người mua tự gánh chịu khi tổn thất xảy ra. Giá trị tài sản bảo hiểm càng lớn thì mức miễn
thường càng cao. Ông Phạm Quế Phong, trưởng phòng bảo hiểm tài sản và kỹ thuật của
Tổng công ty cổ phần Bảo Minh, cho biết trong nhiều trường hợp việc khai thác sản phẩm
bảo hiểm nhà tư nhân đều dựa trên kinh nghiệm của nhân viên phụ trách. Nhân viên này sẽ
căn cứ trên lời khai của khách hàng để xác định vị trí căn nhà, từ đó định ra mức phí thích
hợp, do đó nếu nhân viên kinh nghiệm càng thấp công ty bảo hiểm càng phải gánh chịu rủi
ro nhiều hơn. Tuy nhiên, ông Phong chia sẻ: “Chúng tôi đang tính toán làm một chương
16
trình quảng bá mạnh mẽ sản phẩm này, kể cả việc giảm bớt phí bảo hiểm để khuyến khích
người dân tham gia trong giai đoạn đầu”.
Một khía cạnh nữa, khi chi phí bảo hiểm không phải là lý do lớn nhất mà việc có
tham gia hay không còn lệ thuộc nhiều vào ý thức của các hộ dân. Ở Việt Nam, người dân
thường do thói quen từ xa xưa nên thường không có ý thức và ít có nhu cầu mua bảo hiểm
cho ngôi nhà của mình. Do số lượng khách hàng cho loại hình bảo hiểm nhà tư nhân tuy có
tăng nhưng vẫn còn hạn chế so với tiềm năng vốn có của nó, các công ty bảo hiểm thường

thì chưa quan tâm đến vấn đề bảo hiểm, bên bán thì chưa đưa ra sản phẩm phù hợp với đối
tượng dân cư này. Thực tế, những sản phẩm bảo hiểm đã được đưa ra thị trường mới tiếp
cận được chủ yếu là đối tượng người nước ngoài hoặc người trong nước có thu nhập cao
bởi trách nhiệm bảo hiểm rất lớn nên mức phí cũng khá cao.
Về doanh thu trong tương lai của sản phẩm mới này, lãnh đạo BIC thừa nhận, BIC
chưa hy vọng sản phẩm này sẽ mang lại ngay nguồn doanh thu lớn cho Công ty. Tuy
nhiên, ông Trần Trung Tính, Phó giám đốc BIC nhận định, trong tương lai, số người
chuyển đến sống tại các căn hộ chung cư sẽ ngày càng tăng lên. Khi đó, nhu cầu của người
dân về các sản phẩm bảo hiểm được thiết kế riêng để bảo vệ họ trước các rủi ro tại các tòa
chung cư đang sinh sống sẽ ngày càng cao. “Chúng tôi đánh giá thị trường bảo hiểm cho
các khu chung cư còn rất nhiều tiềm năng, đặc biệt là sau các sự cố tại các chung cư xảy ra
trong thời gian vừa qua, người dân sẽ quan tâm nhiều hơn đến vấn đề an toàn cho bản thân
và cho cả gia đình” ông Tính cho biết.
Đánh giá về thị trường bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam, lãnh đạo Cục Quản lý giám
sát bảo hiểm cho rằng, thị trường bảo hiểm phi nhân thọ của Việt Nam vẫn có nhiều tiềm
năng lớn. Trong thời gian qua, có một thực tế là các doanh nghiệp bảo hiểm còn thiếu định
hướng dài hạn cho hoạt động kinh doanh, chưa đầu tư đúng mức vào phát triển nghiệp vụ
bảo hiểm cũng như công tác thống kê và định phí bảo hiểm.
4.2. Các biện pháp thực hiện
4.2.1. Về công tác tuyên truyền
Trong cơ chế thị trường, khách hàng thường rất khó tính, hơn nữa với sự xuất hiện
của nhiều công ty bảo hiểm trong và ngoài nước cùng triển khai nghiệp vụ này thì biện
pháp tốt nhất để thu hút khách hàng chính là công tác tuyên truyền quảng cáo. Khi đi khai
thác bảo hiểm do khách hàng chưa có sự hiểu biết về loại hình nghiệp vụ này nên đòi hỏi
cán bộ khai thác phải hướng dẫn tận tình, nêu rõ cho khách hàng thấy những mặt thuận lợi
khi họ tham gia bảo hiểm hỏa hoạn.
18
Thu hút khách hàng qua thành phần trung gian cũng là điều cần được quan tâm, các
công ty bảo hiểm cần đẩy mạnh và mở rộng hơn nữa đối với các ngành quản lý chủ quan
và ngành liên quan như Tổng cục đầu tư và phát triển, các ngân hàng thương mại, lực

19
sửa đổi quy định về tỷ lệ 5% kinh phí phòng cháy chữa cháy phải nộp và tỷ lệ giữ lại của
các doanh nghiệp bảo hiểm (không tính phần phí tái bảo hiểm) phù hợp hơn với thực tế.
Các công ty bảo hiểm cũng cần phải hoàn thiện bộ phận tư vấn của mình về công tác
phòng cháy chữa cháy tới những cá nhân tham gia bảo hiểm để hạn chế tối đa khả năng
xảy ra rủi ro cũng như tư vấn về các công tác phòng cháy chữa cháy cần thiết, cách bố trí
và lắp đặt để hạn chế rủi ro xảy ra hỏa hoạn đặc biệt là trong những mùa khô nóng. Ngoài
ra công ty cũng nên thường xuyên tổ chức các buổi hội thảo với sự có mặt của các cơ quan
chức năng và những người giàu kinh nghiệm trong công tác PCCC và những người tham
gia bảo hiểm nhằm tuyên truyền nâng cao kiến thức PCCC tới mọi người.
20
KẾT LUẬN
Bảo hiểm hoả hoạn nói chung và bảo hiểm hỏa hoạn nhà tư nhân nói riêng là nghiêp
vụ bảo hiểm rất cần thiết trong đời sống cũng như trong hoạt động sản xuất kinh doanh của
người dân Việt Nam. Khi cuộc sống ngày càng được cải thiện, nhận thức của người dân về
rủi ro được đầy đủ thì bảo hiểm hỏa hoạn nhà tư nhân sẽ là một chỗ dựa vững chắc cho
từng gia đình Việt Nam. Cùng với sự phát triển của xã hội, phạm vi bảo hiểm sẽ ngày càng
trở nên rộng rãi hơn, thể hiện tiềm năng phát triển của loại hình bảo hiểm này.
Tuy nhiên, vì là một nghiệp vụ truyền thống, lại rất phức tạp do liên quan nhiều đến
luật pháp hiện hành nên sẽ không tránh khỏi những vướng mắc, tồn tại cần có thời gian để
hoàn thiện dần. Qua việc mở rộng quan hệ, đi sâu đi sát thị trường và không ngừng đổi
mới hoàn thiện, bảo hiểm hoả hoạn nhà tư nhân sẽ ngày càng thể hiện rõ vị trí của nó. Với
một cơ chế đầu tư thoáng và mang tính khuyến khích cao như hiện nay, sẽ có rất nhiều cá
nhân, tổ chức và doanh nghiệp nước ngoài đến sinh sống và bỏ vốn vào kinh doanh tại
Việt Nam. Chắc chắn họ sẽ quan tâm đến luật pháp của Việt Nam và phát sinh nhu cầu về
bảo hiểm tài sản. Khi đó, nghiệp vụ bảo hiểm hoả hoạn nhà tư nhân sẽ thực sự khẳng định
tầm quan trọng và hiệu quả của mình.
Cuộc sống luôn tiềm ẩn những biến động và rủi ro khó lường, bảo hiểm là phương
cách ưu việt nhất để bảo vệ tài sản và cuộc sống bình an của chúng ta!
21


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status