Thực tiễn giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài thương mại tại việt nam - Pdf 33

Luật TTTM 2010
Pháp
lệnh
TTTM 2003
TTTT

Luật
trọng
tài
thương
mại
2010
Pháp lệnh trọng tàiLỜIthương
CẢM ƠNmại 2003
Trung
tâm
trọng
tài
Hội
đồng
trọng
tài
viên thành cảm ơn Cô Nguyễn Mai Hân đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi
Đầu tiênTrọng
tôi xintàichân

hoàn thành tốt đề tài nghiên cứu này.
Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam bên cạnh
Trong quá trình nghiên cứu để hoàn thành luận văn với sự nỗ lực của bản thân, bên cạnh
đó thì Cô Nguyễn Mai Hân đã tạo đều kiện giúp đỡ tôi rất nhiều để tôi có thể hoàn thành tốt
luận văn tốt nghiệp với đề tài: “Thực tiễn giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài

1.3.2. Đặc điểm, vai trò...................................................................................................19
1.3.3. Hình thức trọng tài thương mại.............................................................................21
1.3.3.1. Hội đồng trọng tài do trung tâm trọng tài thành lập (trọng tài qui chể) 21
1.3.3.2........................................................................................................................... H
ội đồng trọng tài do các bên thành lập (trọng tài ad-hoc)............................................22
1.3.4. Tiêu chuẩn trở thành trọng tài viên......................................................................23
1.3.5. Lược sử hình thành phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài ở Việt
Nam...................................................................................................................................25
Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VÈ PHƯƠNG THỨC GIẢI QUYẾT
TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI BẰNG TRQNG TÀI THƯƠNG MẠI............................30
2.1. Điều kiện để tranh chấp được giải quyết bằng trọng tài.............................................30
2.1.1. Điều kiện về loại tranh chấp.................................................................................30


2.2.3. Các bên tranh chấp đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ....................................36
2.2.4. Nguyên tắc giải quyết ữanh chấp không công khai.............................................36
2.2.5. Phán quyết trọng tài là chung thẩm......................................................................37
2.3. Trình tự giải quyết tranh chấp.....................................................................................38
2.3.1. Giải quyết tranh chấp bằng hội đồng trọng tài được thành lập bởi trung tâm
trọng tài..............................................................................................................................38
2.3.1.1. Khởi kiện và thời điểm được tính bắt đầu giải quyết tranh chấp..................39
2.3.1.2. Bản tự bảo vệ và việc gởi bản tự bảo vệ.......................................................41
2.3.1.3. Thành lập hội đồng trọng tài giải quyết tranh chấp.......................................42
2.3.1.4. Trường họp cần thay đổi Ưọng tài viên........................................................44
2.3.1.5. Phiên họp giải quyết tranh chấp....................................................................45
2.3.2. Giải quyết tranh chấp bằng Hội đồng trọng tài do các bên thành lập (trọng
tài vụ việc).........................................................................................................................47
2.3.2.1. Khởi kiện và thời điểm được tính bắt đầu giải quyết tranh chấp..................47
2.3.2.2. Bản tự bảo về và việc gởi bản tự bảo vệ.......................................................47
2.3.2.3. Thành lập hội đồng trọng tài giải quyết tranh chấp.......................................48

sinh
các
bên luôn mong muốn giải quyết vấn đề một cách nhanh nhất, ít tốn kém nhất và mang lại
hiệu
quả cao nhất.
Hiện nay, có nhiều phương thức để giải quyết tranh chấp phát sinh giữa các bên
trong
lĩnh vực kinh doanh- thương mại như: Thương lượng, hòa giải, trọng tài, toà án và các
phương
thức khác do các bên thỏa thuận. Mỗi phương thức giải quyết tranh chấp sẽ có những ưu
điểm
riêng. Thế nhưng phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại đang là
phương thức giải quyết tranh chấp mà các nhà kinh doanh trên thế giới ưu tiên lựa chọn
khi
giải quyết các tranh chấp phát sinh. Bởi vì so với các phương thức giải quyết tranh chấp
khác
thì phương thức giải quyết tranh chấp này giúp các bên tiết kiệm được chi phí, có thể rút
ngắn
được thủ tục giải quyết tranh chấp và uy tín của các bên trên thương trường cũng ít bị
ảnh
hưởng. Trong khi đó, tại Việt Nam phương thức này vẫn chưa được các bên lựa chọn khi
giải
quyết các tranh chấp phát sinh. Khi có tranh chấp phát sinh thì các bên vẫn có khuynh
hướng
kiện ra Tòa án để giải quyết tranh chấp, vấn đề này đặt ra một câu hỏi là tại sao với một


phủ, thực hiện hoạt động giải quyết tranh chấp phát sinh giữa các bên trên cơ sở thỏa thuận.
Cho nên, trọng tài sẽ giải quyết các tranh chấp phát sinh giữa các bên trên nguyên tắc bình
đẳng, thỏa thuận và không mang quyền lực nhà nước. Trong phạm vi đề tài thì người viết chỉ

Theo Khoản 1 Điều 3 của Luật Thương mại 2005 thì “hoạt động thương mại là
hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu
tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”. Theo định
nghĩa này thì ta có thể hiểu hoạt động thương mại phải là hoạt động nhằm mục đích
sinh lợi, yếu tố sinh lợi hay không sinh lợi là yếu tố quyết định hoạt động đó có phải là
hoạt động thương mại hay không, nểu không có mục đích lợi nhuận thì đó không phải
là hoạt động thương mại mà có thể là hoạt động trên các lĩnh vực lao động hay dân sự,
hôn nhân gia đình... Với định nghĩa như vậy thì sẽ có sự bao quát hết các hoạt động có
mục đích sinh lợi, và bất cứ hoạt động nào mang mục đích sinh lợi đều là hoạt động
thương mại. Luật Thương mại 2005 không liệt kê từng hoạt động như trong Pháp lệnh
Trọng tài thương mại 2003. Theo Pháp lệnh Trọng tài thương mại 2003 thì hoạt động
thương mại được hiểu chi tiết hơn và cụ thể hơn so với định nghĩa của Luật Thương
mại 2005. Tại Khoản 3 Điều 2 Pháp lệnh trọng tài thương mại định nghĩa hoạt động
thương mại là “là việc thực hiện một hay nhiều hành vi thương mại của cá nhăn, tổ
chức kỉnh doanh bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ; phân phối; đại diện,
đại lý thương mại; ký gửi; thuê, cho thuê; thuê mua; xây dựng; tư vẩn kỹ thuật; lixăng; đầu tư; tài chính, ngân hàng bảo hiểm; thăm dò, khai thác; vận chuyển hàng
hoá, hành khách bằng đường hàng không, đường biển, đường sắt, đường bộ và các
hành vi thương mại khác theo quy định của pháp luật”. Như vậy, theo Pháp lệnh Trọng
tài thương mại 2003, hoạt động thương mại được hiểu chi tiết hơn và chỉ có những hoạt
động được liệt kê trong pháp lệnh hoặc được Luật quy định thì mới được xem đó là
hoạt động thương mại.
1.1.1.2. Khái niệm về tranh chấp thương mại
GVHD: Ths. NGUYỄN MAI HÂN Trang 10

SVTH: LÊ VĂN NIÊN


THựC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI BẰNG TRỌNG TÀI
THƯƠNG
MẠI TẠI VIỆT NAM__________________________________________________________

là những tranh chấp về dân sự, nhưng cũng tranh chấp đó nếu người mua nhằm mục
đích mua rồi bán lại nhằm kiếm lợi nhuận thì lúc này tranh chấp đó sẽ được xem như là
tranh chấp thương mại.
- Những mâu thuẫn (bất đồng) đó phải phát sinh từ các hoạt động thương mại.
- Những mâu thuẫn bất đồng đó phát sinh chủ yếu giữa các bên là thương nhân
hoặc ít nhất một bên là thương nhân.
Neu thiểu một trong ba điều kiện này thì tranh chấp đó chưa phải là tranh chấp
thương mại mà có thể là một dạng tranh chấp khác, có thể là tranh chấp dân sự hay lao
động.
Ví dụ như tranh chấp phát sinh giữa hai công ty A và công ty B về hợp đồng gia
công một lô hàng mà công ty A nhận gia công cho công ty B nhưng đến thời hạn giao
hàng như thoả thuận thì công ty A vẫn chưa có hàng để giao cho công ty B thì lúc này
sẽ phát sinh tranh chấp giữa hai công ty này vì việc chậm giao hàng của công ty A có
thể gây ra thiệt hại cho công ty B và công ty A trong trường hợp này đã vi phạm hợp
đồng về gia công đối với công ty B. Tranh chấp này thoả điều kiện là tranh chấp
thương mại vì thoả mãn cả hai bên tranh chấp đều là thương nhân (công ty A và công
ty B), và tranh chấp này phát sinh từ quan hệ gia công hàng hoá, và tranh chấp này phát
sinh từ hoạt động thương mại vì cả hai công ty A và B trong trường họp này thì đều
nhằm mục đích sinh lợi.
1.1.2. Đặc điểm và tính chất tranh chấp thương mại
- Các chủ thể của tranh chấp thương mại thường là các doanh nghiệp, các thương
nhân hoặc cũng có thể là các chủ thể khác có tham gia vào các hoạt động thương mại.
- Tranh chấp thương mại thường gắn với hoạt động kinh doanh của các chủ thể.
GVHD: Ths. NGUYỄN MAI HÂN Trang 12

SVTH: LÊ VĂN NIÊN


1 Theo Điều
294

không bó hẹp trong các mối quan hệ nội tại trong nước với các doanh nghiệp trong
nước nên những tranh chấp giữa các doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp nước
ngoài là rất khó có thể tránh khỏi.
1.1.3. Nguyên nhân làm phát sinh tranh chấp thương mại
Tranh chấp thương mại thì có vô số nguyên nhân phát sinh khác nhau nhưng trên

GVHD: Ths. NGUYỄN MAI HÂN Trang 13

SVTH: LÊ VĂN NIÊN


2 Áp
dụng
Điều
294
LuậtTHựC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI BẰNG TRỌNG TÀI
Thương
mại
THƯƠNG
2005.
3 Th.s DươngMẠI TẠI VIỆT NAM__________________________________________________________ Kim
Thế
Nguyên,
Giáo
trình luậthàng và hẹn đến ngày 17/11 mới nhận hàng; thế nhưng cùng thời điểm đó thì trời mưa
thương
mại 3, Khoa
Luật Đại học cần
Thơ
2008, ừang

THƯƠNG
MẠI TẠI VIỆT NAM__________________________________________________________
1.2.2. Các phương thức giải quyết tranh chấp
Tùy theo điều kiện của mỗi quốc gia và cũng tùy theo mức độ của các loại tranh
chấp mà các bên có thể lựa chọn các phương thức khác nhau để giải quyết các tranh
chấp phát sinh, nhưng trên thực tế hiện nay thì các tranh chấp thương mại thường được
các bên giải quyết bằng bốn phương thức chủ yếu: Đó là thương lượng, hòa giải, trọng
tài và tòa án. Mỗi phương thức giải quyết sẽ có những ưu và nhược điểm riêng mà tùy
theo những mối quan hệ phát sinh mà các bên sẽ lựa chọn phương thức phù họp:
- Thương lượng
Là hình thức giải quyết tranh chấp thường không cần đến vai trò của bên thứ 03
can thiệp vào mà bản thân các bên ưong mối quan hệ có phát sinh hanh chấp sẽ tự thỏa
thuận với nhau để giải quyết các bất đồng, mâu thuẫn giữa các bên. Phương thức này
đơn giản, gọn nhẹ, hiệu quả lại ít tốn kém về tiền bạc, không mất nhiều thời gian của
các bên, và ít gây ảnh hưởng đến mối quan hệ họp tác vốn có giữa các bên. Các bên có
thể tự mình đứng ra giải quyết hoặc uỷ quyền cho người đại diện họp pháp của mình
đứng ra giải quyết mà không cần phải trực tiếp giải quyết. Trong quá trình giải quyết
thì các bên có thể tự đưa ra ý kiến, quan điểm của mình khi giải quyết các tranh chấp,
hay cũng có thể thỏa thuận lại những nội dung đang phát sinh tranh chấp theo hướng
phù họp nhất và có lợi nhất cho cả hai bên, không gây mất hòa khí giữa các bên. Thỏa
thuận được lập thành giữa các bên sẽ có hiệu lực thi hành giữa các bên. Thế nhưng
phương thức giải quyết này chỉ thích họp khi cả hai bên cùng có thiện chí để giải quyết
các tranh chấp mà thôi. Trong trường họp các bên hoặc ít nhất một trong các bên tỏ ra
mất hòa khí hay có sự bất đồng quan điểm thì phương thức giải quyết này sẽ không đi
đến kết quả mà đôi khi còn ảnh hưởng đến quan hệ của các bên. Thỏa thuận được tạo
lập giữa các bên không có tính thi hành bắt buộc hay không có gì để đảm bảo các bên
phải thi hành mà chỉ được thi hành dựa trên sự tự nguyện của các bên mà thôi vì thế
các bên có thể phá vỡ sự thỏa thuận này một cách dễ dàng. Hình thức thương lượng
thường diễn ra khép kín, không công khai nên dễ xảy ra những tiêu cực trái pháp luật.
- Hoà giải

nên nếu các bên không thể thống nhất được là sẽ lựa chọn ai thì các hanh chấp cũng
không thể giải quyết được. Đe giải quyết các tranh chấp đạt được hiệu quả thì một vấn
đề cần thiết là người được các bên lựa chọn để giải quyết tranh chấp phải có chuyên
môn trong lĩnh vực mà họ sẽ giải quyết tranh chấp.
Hai phương thức trên có giải quyết tranh chấp thành công hay không đều phụ
thuộc rất lớn vào sự tự nguyện và thiện ý của các bên. Thiếu những yểu tố đó việc giải
quyết tranh chấp sẽ thất bại. Do đó để giải quyết tranh chấp giữa các bên có hiệu quả
thì cần giải quyết bằng những phương thức khác, quyết định của tổ chức, cơ quan giải
quyết tranh chấp phải được tuân thủ một cách triệt để. Vì thế người có quyền lợi bị
xâm phạm sau khi không thành công trong việc áp dụng của các biện pháp trên có thể
kiện ra toà án hoặc trọng tài để bảo vệ quyền lợi của mình.
GVHD: Ths. NGUYỄN MAI HÂN Trang 16

SVTH: LÊ VĂN NIÊN


THựC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI BẰNG TRỌNG TÀI
THƯƠNG
MẠI TẠI VIỆT NAM__________________________________________________________
các doanh nghiệp. Nếu như phương thức giải quyết tranh chấp bằng thương lượng hòa
giải mang tính mềm dẻo, không có hiệu lực bắt buộc các bên thi hành trong thực tế do
một số hạn chế nhất định thì phương thức giải quyết tranh chấp này có tính bắt buộc thi
hành hơn. Phán quyết trọng tài sẽ có hiệu lực bắt buộc các bên phải thi hành và nếu
một bên không thi hành hay cố tình chống lại thì có thể bị áp dụng các biện pháp bắt
buộc thi hành nào đó như cưỡng chế, bắt buộc thi hành phán quyết trọng tài... Trọng tài
viên, hay trung tâm trọng mà được các bên lựa chọn để giải quyết các tranh chấp theo
phương thức này thường là những người có kiến thức chuyên môn và có kinh nghiệm
về lĩnh vực cần giải quyết. Trong nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển và các
mối quan hệ của các bên cũng đã vượt ra ngoài phạm vi của một quốc gia và mang tính
quốc tế nên việc áp dụng phương thức giải quyết tranh chấp này là phù họp với tình

những nguyên tắc xét xử quy định riêng cho việc xét xử bằng tòa án, cũng như ảnh
hưởng nhiều đến tiếng tăm, uy tín, danh dự của các bên trên thương trường vì tòa án
thường thì xét xử công khai mà việc xét xử công khai sẽ làm lộ các bí mật kinh doanh
của các bên nên không tránh khỏi những tổn thất cho các bên, và thời gian giải quyết
cũng kéo dài gây cản trở cho công việc kinh doanh của các bên.
1.3. Khái quát chung về phương thức giải quyết tranh chấp thương mại bằng
trọng tài thương mại
1.3.1. Khái niệm
Trọng tài thường được biết đến như một cơ quan hay một tổ chức hay một người
làm trung gian để giải quyết các tranh chấp, bất đồng hay là người đứng ra để phán xét
giữa các bên xem ai đúng ai sai. Ví dụ như trong một trận bóng đá thì có trọng tài sẽ là
người điều khiển trận đấu, công nhận kết quả giữa hai đội bóng. Trong cuộc sống thì
rất dễ phát sinh ra những tranh chấp, bất đồng giữa các bên về quyền và nghĩa vụ và
cần có một người đứng ra làm trung gian để giải quyết các mâu thuẫn giữa hai bên,
đứng ra giải thích cho các bên về quyền và nghĩa vụ của mình cũng như hướng dẫn các
bên phải làm như thế nào cho đúng, mỗi một lĩnh vực thì ta cần có một cơ quan hay tổ
chức hay một người sẽ đứng ra làm nhiệm vụ trung gian giữa các bên. Ví dụ như trong

GVHD: Ths. NGUYỄN MAI HÂN Trang 18

SVTH: LÊ VĂN NIÊN


6 Theo Điều 2
Luật
TTTM
2010.
THựC
TIỄN
GIẢI

chức trọng tài, và cũng là điểm để phân biệt tổ chức trọng tài với các tổ chức khác như
toà án. Các trung tâm trọng tài được thành lập dựa trên yêu cầu khách quan của từng
vùng, từng địa phương và xuất phát từ những yêu cầu cụ thể của đời sống chứ không
liên quan gì đến sự tổ chức của chính phủ. Khi thực hiện các hoạt động giải quyết các
tranh chấp thì các trung tâm hay tổ chức trọng tài sử dụng quyền lực riêng của mình
chứ không sử dụng quyền lực của nhà nước, các tổ chức trọng tài khi xét xử chỉ tuân
theo pháp luật chứ không bị ràng buộc bởi một cơ quan quyền lực nào cả.
- Các tồ chức trọng tài thường được lập trên sáng kiến và sự tự nguyện của
các trọng tài viên. Việc thành lập các trung tâm trọng tài dựa trên sự cần thiết và yêu
cầu của các trọng tài viên và cần những điều kiện nhất định về số lượng trọng tài viên

GVHD: Ths. NGUYỄN MAI HÂN Trang 19

SVTH: LÊ VĂN NIÊN


8 Trình
tự
thủ tục
thành lậpTHựC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI BẰNG TRỌNG TÀI trung
tâm trọng
tài
Điều 24, 25,THƯƠNG
26, 29
Luật TTTMMẠI TẠI VIỆT NAM__________________________________________________________ 2010.
9 Theo
Khoản
4 Điều 4
Luật
TTTM



10 Theo
Khoản
6 Điều 3THựC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI BẰNG TRỌNG TÀI Luật
Trọng
tàiTHƯƠNG
thuong
mạị 2010. MẠI TẠI VIỆT NAM__________________________________________________________
11 Bởi vì theo
Luật
TTTM 2010
thì
không nhấtsẽ nhanh hơn, gọn hơn so với việc giải quyết tranh chấp bằng toà án, vì so với toà án
thiết
các
bên
phải
lựa
chọn
trọng
tài viên củathì thủ tục giải quyết tranh chấp của trọng tài đơn giản hơn nhiều và khi tổ trọng tài giải
trung
tâm trọng
tài
đỏ khi giải
quyết
tranh chấpquyết đưa ra phán quyết thì đó là phán quyết có tính bắt buộc thi hành chứ không như
bằng
trọng

có lợi thế nhất định. Trọng tài qui chế thường giải quyết các tranh chấp theo qui tắc tố

GVHD: Ths. NGUYỄN MAI HÂN Trang 21

SVTH: LÊ VĂN NIÊN


12 Theo
Khoản
7 Điều 3THựC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI BẰNG TRỌNG TÀI Luật
Trọng
tài
thưcmg mạiTHƯƠNG
2010.
MẠI TẠI VIỆT NAM__________________________________________________________
thường phải xây dựng uy tín của mình đồng thời có những phương án để thu hút khách
hàng như hạ biểu phí, đưa vào danh sách trọng tài viên những trọng tài viên có uy tín,
kinh nghiệm lâu năm trong giải quyết tranh chấp. Điều này giúp cho các bên tranh chấp
có thể lựa chọn trọng tài viên cũng như trung tâm họng tài phù họp với loại tranh chấp
có thể phát sinh giữa các bên ữong hoạt động thương mại, nhằm mục đích nâng cao
hiệu quả của việc giải quyết các tranh chấp. Vì là hội đồng trọng tài được thành lập và
giải quyết tranh chấp theo quy tắc của một trung tâm trọng tài nhất định nên tạo điều
kiện cho các bên có thể lựa chọn những trung tâm trọng tài có uy tín mà họ tin tưởng
để giải quyết các tranh chấp của mình. Hình thức trọng tài này đã có từ lâu, khi bắt đầu
hình thành phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại từ năm 1993
mà tiền thân của nó là Hội đồng trọng tài kinh tế nhà nước cũng đã lựa chọn phương
thức này cho các bên khi giải quyết tranh chấp. Hình thức giải quyết tranh chấp này đã
mang đển cho các bên tranh chấp một sự an tâm về chất lượng giải quyết tranh chấp
của các trung tâm trọng tài.
1.3.3.2. Hội đồng trọng tài do các bên thành lập (trọng tài ad-hoc)

Kiểm
sátTrọng tài thương mại 2003 mà thôi còn thời gian trước đó thì không được thừa nhận
nhân
dân 2002.
một cách trực tiếp.
1.3.4. Tiêu chuẩn trở thành trọng tài viên
Trước khi các bên tranh chấp muốn đưa vụ tranh chấp của mình ra giải quyết
bằng trọng tài thì vấn đề mà các bên luôn quan tâm là việc lựa chọn cho mình một
trọng tài viên phù họp để bảo vệ quyền và lợi ích họp pháp của mình không bị xâm
phạm. Trọng tài viên là người đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết các tranh
chấp phát sinh giữa các bên, là người sẽ quyết định cho việc các tranh chấp phát sinh
có được giải quyết triệt để hay không, và hoạt động của trọng tài viên sẽ quyết định
phần nào sự tồn tại của chính trung tâm trọng tài mà họ đãng ký làm trọng tài viên.
Nếu một trung tâm trọng tài mà có nhiều trọng tài viên có kinh nghiệm giải quyết các
tranh chấp, và có uy tín trên thương trường được nhiều người biết đến thì các bên trong
giao dịch dân sự, thương mại thường sẽ có khuynh hướng lựa chọn những người đó để
giải quyết những tranh chấp của mình. Bởi vì các bên trong mối quan hệ đó thì bên nào
cũng muốn quyền lợi của mình được bảo đảm tốt nhất. Ví dụ như ở Việt Nam hiện nay
07 trung tâm trọng tài thế nhưng không phải trung tâm nào cũng hoạt động tốt mà chỉ
có một số trung tâm trọng tài hoạt động tốt, giải quyết được nhiều vụ tranh chấp mà
thôi. Ví dụ như Trung tâm họng tài quốc tế Việt Nam bên cạnh phòng thương mại và
công nghiệp Việt Nam giải quyết bình quân khoảng 20 vụ/năm13. Vì thế trọng tài viên
sẽ đóng vai trò quyết định cho việc giải quyết tranh chấp của trung tâm trọng tài, quyết
định sự tồn tại và hoạt động của trung tâm trọng tài. Theo Pháp lệnh Trọng tài thương
mại 2003 thì để trở thành trọng tài viên cần có những tiêu chuẩn sau: “Phải là công
dân Việt Nam có năng lực hành vi dần sự đầy đủ; Có phẩm chất đạo đức tốt, trung
thực vô tư khách quan; Có bằng đại học và đã qua thực tế công tác theo ngành đã học
tự năm năm trở lên”14. Có thể nói đây là những điều kiện chuẩn phù họp với quy định
trong các ngành luật khác như Luật tổ chức tòa án nhân dân, Luật tổ chức viện kiểm sát
nhân dân khi quy định về điều kiện thành trở thành kiểm sát viên, thẩm phán15. Với

từ năm năm mới có thể làm trọng tài viên. Như vậy đối với những người không có
bằng Đại học nhưng lại có kinh nghiệm, và đặc biệt là chuyên nghiên cứu về các lĩnh
vực phát sinh tranh chấp giữa các bên thì sao. Những người này nếu xét về kinh
nghiệm thì có thể họ sẽ giải quyết các tranh chấp đó tốt hơn họng tài nhiều, việc giải
quyết tranh chấp của họ sẽ nhanh hơn và hiệu quả hơn. Vì thế Luật Trọng tài thương
mại 2010 đã có những quy định về trọng tài viên theo hướng mở rộng hơn khắc phục
được những nhược điểm của Pháp lệnh Trọng tài thương mại 2003.
Theo Luật Trọng tài thương mại 2010 thì để trở thành một trọng tài viên cần có
những điều kiện sau: “Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của Bộ luật
dân sự; có trình độ đại học và đã qua công tác theo ngành đã học từ năm năm trở lên;

GVHD: Ths. NGUYỄN MAI HÂN

Trang 24

SVTH: LÊ VĂN NIÊN


THựC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI BẰNG TRỌNG TÀI
THƯƠNG
MẠI TẠI VIỆT NAM__________________________________________________________
ngoài và những chuyên gia có kinh nghiệm cũng có thể trở thành trọng tài viên.
1.3.5. Lược sử hình thành phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài
ở Việt Nam
So với các nước trên thế giới thì phương thức giải quyết tranh chấp bằng con
đường trọng tài thương mại xuất hiện ở Việt Nam khá muộn màng so với tiến trình
phát triển của loại hình giải quyết tranh chấp này. Ở Việt Nam tiến trình hình thành
phương thức giải quyết tranh chấp bằng con đường trọng tài thương mại có thể được
chia làm 3 giai đoạn:
Thứ nhất là giai đoạn trước ngày 1 tháng 7 năm 1994

17/4/1984:
MẠI TẠI VIỆT NAM__________________________________________________________ “Trọng
tài
kinh
tế
huyện
ỉà ca quan cấp
phòng,
bao gồm có trong việc ký kết và thực hiện các hợp đồng kinh tế theo tinh thần Nghị quyết hội nghị
một chủ tịch,
một số
trọng tài viên
và một
số cán bộ giúp 20 và 22 của Ban chấp hành Trung ương Đảng ngày 10 tháng 3 năm 1975, Chính phủ
việc.’’'’
19 Văn
kiện
Đại
hội
Đảng
toàn
quốc
lần
thứ 6
năm 1986. đã ban hành Nghị định số 75/CP ngày 14 tháng 4 năm 1975 ban hành điều lệ và tổ
20 Theo Điều
4, Diều
5 Pháp lệnh
Trọng
tài kinh tế

MẠI TẠI VIỆT NAM__________________________________________________________
chức ở 3 cấp: trung ương, tỉnh và huyện21.
về chức năng chủ yếu vẫn là quản lý công tác hợp đồng kinh tế, mà trọng tâm là:
• Giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh tế
• Kiểm tra, kết luận và xử lý các hợp đồng kinh tể trái pháp luật
• Tuyên truyền hướng dẫn việc thực hiện pháp luật về họp đồng kinh tế và trọng
tài kinh tế.
• Bồi dưỡng nghiệp vụ công tác họp đồng kinh tế và trọng tài kinh tế.
Các chức năng nhiệm vụ trên của trọng tài kinh tể được thực hiện thông qua hai
hình thức hoạt động chủ yểu là hoạt động kiểm tra xử lý và hoạt động xét xử. Trong đó
do trọng tài kinh tế là cơ quan quản lý có chức năng quản lý kinh tế nên phần lớn hoạt
động của trọng tài kinh tế tập trung chủ yếu vào kiểm tra hợp đồng, kiểm tra việc ký
kết và thực hiện hợp đồng. Còn việc xét xử của trọng tài kinh tế đối với các vi phạm về
hợp đồng kinh tế rất ít, vả lại vừa kém hiệu lực thi hành vì thiếu tính cưỡng chể và
thiếu động lực, lợi ích thôi thúc các bên đấu tranh với nhau để thực hiện nghiêm chỉnh
quyết định của trọng tài kinh tế. Các bên được kiện và thua kiện không thu được lợi ích
gì nhiều ngoài sự rắc rối và phiền hà.
Cùng với việc đổi mới quy định về trọng tài kinh tế Nhà nước, qua tổng kết kinh
nghiệm thực tiễn về công tác tổ chức và hoạt động của hai tổ chức trọng tài phi Chính
phủ nhận thấy những kết quả mà hai tổ chức trọng tài này đã đạt được không mấy
thuyết phục và cần phải có một tổ chức trọng tài mới ra đời trên cơ sở họp nhất hai tổ
chức trọng tài này nhằm làm cho công tác giải quyết tranh chấp bằng con đường trọng
tài có hiệu quả hơn và đạt được những kết quả khả quan hơn, đưa các bên tranh chấp
đến gần với trọng tài hơn, ngày 28/04/1993 thủ tướng Chính phủ ra quyết định số
204/TTg về thành lập Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam, đặt bên cạnh phòng
thương mại và công nghiệp Việt Nam, trên cở sở hợp nhất hội đồng trọng tài ngoại
thương và hội đồng trọng tài hàng hải.

GVHD: Ths. NGUYỄN MAI HÂN Trang 27


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status