Giải quyết các tranh chấp trong ngoại thương và thực tiễn giải quyết tranh chấp tại Công ty dệt may Hà Nội - Pdf 73

Lời nói đầu
1. tính cấp thiết của đề tài
Từ xa xa việc giao lu buôn bán giữa các quốc gia, mà sau này đợc gọi là
hoạt động ngoại thơng, đã gắn liền với sự tồn tại và phát triển của loài ngời.
Hoạt động ngoại thơng mở rộng khả năng tiêu dùng của một nớc. Nó cho phép
một nớc tiêu dùng tất cả các mặt hàng với số lợng nhiều hơn mức có thể tiêu
dùng với ranh giới của khả năng sản xuất trong nớc đó nếu thực hiện chế độ tự
cung tự cấp không buôn bán. Hơn thế nữa, thông qua ngoại thơng một quốc
gia có thể tiêu dùng tất cả các mặt hàng mình mong muốn mà không cần phải
sản xuất mặt hàng đó. Chính vì vậy, ngoại thơng giữ vai trò đặc biệt quan
trọng trong nền kinh tế. Nó thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế của các quốc gia
nói riêng và nền kinh tế thế giới nói chung.
Cùng với quá trình khu vực hoá, toàn cầu hoá đang diễn ra mạnh mẽ trên
khắp thế giới, Việt nam cũng đang trên đà hội nhập kinh tế theo hớng đa dạng
hoá, đa phơng hoá theo nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi. Hoạt động ngoại
thơng của nớc ta cũng vì thế mà ngày càng phát triển, đem lại những lợi ích to
lớn cho nền kinh tế nớc nhà. Hoạt động buôn bán quốc tế đợc tiến hành thông
qua việc ký kết và thực hiện các hợp đồng trong ngoại thơng. Khi đàm phán ký
kết hợp đồng các bên đều muốn tốt đẹp nhng do những khác biệt về ngôn ngữ,
văn hoá, luật pháp nên tranh chấp là khó tránh khỏi. Việc giải quyết có hiệu
quả các tranh chấp phát sinh luôn là vấn đề đợc các nhà kinh doanh xuất nhập
khẩu quan tâm.
Với mong muốn giúp cho các nhà kinh doanh xuất nhập khẩu và bạn đọc
quan tâm có thêm tài liệu tham khảo về các phơng pháp giải quyết tranh chấp
trong ngoại thơng cả trên lý thuyết và thực tế, tìm hiểu một số biện pháp nhằm
giúp cho việc giải quyết tranh chấp trong ngoại thơng đạt hiệu quả cao để từ
1
đó rút ra kinh nghiệm cho riêng mình, tôi chọn đề tài: Giải quyết các tranh
chấp trong ngoại thơng và thực tiễn giải quyết tranh chấp tại Công ty dệt may
Hà nội làm đề tài nghiên cứu cho khoá luận tốt nghiệp đại học của mình.
2. Mục đích nghiên cứu

những khiếm khuyết. Rất mong nhận đợc những ý kiến đóng góp từ các độc
giả có quan tâm để giúp cho việc tiếp tục nghiên cứu sau này đợc tốt hơn.
Ch ơng i
3
Một số vấn đề chung về giảI quyết
Tranh chấp trong ngoạI thơng
I/ tranh chấp trong ngoạI thơng và đặc đIểm của nó
1. Nhận xét chung về tranh chấp và tranh chấp trong ngoại thơng
Tranh chấp là những xung đột phát sinh từ những mâu thuẫn xảy ra
trong đời sống xã hội.
Trong cuộc sống hàng ngày tranh chấp thờng xuyên xảy ra, từ những
mâu thuẫn nhỏ mà các bên có thể tự giải quyết đợc với nhau đến những mâu
thuẫn lớn phải nhờ đến sự giải quyết của cơ quan có thẩm quyền. Tranh chấp
có thể nảy sinh từ mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó lĩnh vực thơng
mại nói chung hay lĩnh vực ngoại thơng nói riêng là một trong những lĩnh vực
hay xảy ra tranh chấp nhất và việc giải quyết các tranh chấp này thờng là khó
khăn, phức tạp hơn so với các lĩnh vực khác.
Tranh chấp trong ngoại thơng là mọi tranh chấp, xung đột phát sinh giữa
các bên trong quá trình ký kết, thực hiện hợp đồng trong ngoại thơng.
Tranh chấp trong ngoại thơng trớc hết phát sinh trong quá trình đàm
phán, ký kết hợp đồng ngoại thơng. Trong quá trình này các tranh chấp phát
sinh chủ yếu là do các bên có cách hiểu, cách quan niệm khác nhau về khía
cạnh pháp lý của việc hình thành một hợp đồng. Hợp đồng trong ngoại thơng
mang tính chất quốc tế nên nó chịu sự điều chỉnh và chi phối của rất nhiều
nguồn luật: điều ớc quốc tế, luật quốc gia, tập quán quốc tế,... Các nguồn luật
khác nhau thờng có các qui định không giống nhau về chủ thể ký kết hợp
đồng, hình thức của hợp đồng, trình tự ký kết hợp đồng, nội dung hợp đồng,
dẫn đến sự hiểu lầm, bất đồng và tranh chấp, làm phát sinh những xung đột về
4
mặt pháp lý. Ví dụ, Luật Thơng mại Việt nam 1997 Điều 49 qui định hình

Bên cạnh đó, tranh chấp trong ngoại thơng còn mang một số đặc điểm
của hợp đồng mua bán ngoại thơng do chúng cùng liên quan và có ảnh hởng
quan trọng đến hoạt động ngoại thơng. Các đặc điểm đó nh sau:
Thứ nhất, tranh chấp trong ngoại thơng có yếu tố quốc tế. Yếu tố quốc tế
của tranh chấp trong ngoại thơng thể hiện ở chỗ các bên tranh chấp có trụ sở
thơng mại đặt ở các nớc khác nhau.
Thứ hai, tranh chấp trong ngoại thơng mang tính thơng mại. Tất cả các
tranh chấp trong ngoại thơng đều có liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến hoạt
động buôn bán, cụ thể là hoạt động buôn bán với nớc ngoài.
Thứ ba, cơ quan giải quyết tranh chấp trong ngoại thơng là toà án hay
trọng tài của một nớc nào đó đợc coi là toà án hay trọng tài nớc ngoài.
Thứ t, luật áp dụng để giải quyết tranh chấp trong ngoại thơng là luật nớc
ngoài đối với ít nhất là một trong các bên hoặc với tất cả các bên.
Thứ năm, luật áp dụng để giải quyết tranh chấp trong ngoại thơng rất đa
dạng và phức tạp: luật quốc gia, luật quốc tế, tập quán quốc tế và các án lệ.
Các bên có thể thoả thuận lựa chọn nguồn luật thích hợp để áp dụng trong việc
giải quyết tranh chấp trong hợp đồng ngoại thơng hoặc thoả thuận sau khi ký
kết hợp đồng. Việc áp dụng nguồn luật nào cũng có thể do pháp luật qui định.
ii/ giải quyết tranh chấp trong ngoạI thơng
1. Nhận xét chung
6
Bất kỳ một hợp đồng nào trong lĩnh vực ngoại thơng nếu đợc các bên đ-
ơng sự thực hiện đúng thì không xảy ra tranh chấp và do đó cũng không cần
việc giải quyết tranh chấp. Nhng trong thực tế sự tranh chấp gần nh là một ng-
ời bạn đồng hành với hoạt động ngoại thơng. Khi tham gia vào hợp đồng mua
bán ngoại thơng các bên đều không muốn tranh chấp phát sinh, nhng do nhiều
nguyên nhân khách quan cũng nh chủ quan mà tiêu biểu nhất là sự đối lập
quyền lợi giữa các bên, tranh chấp vẫn thờng xảy ra. Có tranh chấp phát sinh
cũng có nghĩa là tranh chấp đó phải đợc giải quyết thoả đáng. Nh vậy, giải
quyết các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng là khâu cuối cùng không thể thiếu

mãn. Sở dĩ trớc hết cần phải tiến hành khiếu nại chứ cha đi kiện ngay vì các
bên đơng sự là những ngời hiểu rõ tranh chấp cho nên dễ dàng nhân nhợng với
nhau, rút ngắn đợc thời gian giải quyết tranh chấp, không bị đọng vốn và lệ
phí giải quyết tranh chấp đỡ tốn kém.
Mặc dù khiếu nại có thể là bắt buộc hoặc không bắt buộc tuỳ theo qui
định trong hợp đồng hoặc trong luật áp dụng cho hợp đồng và khi hợp đồng
hoặc trong luật áp dụng cho hợp đồng không có qui định gì về khiếu nại thì
khiếu nại không phải là bắt buộc, bên có quyền lợi bị vi phạm có thể bỏ qua b-
ớc khiếu nại mà đi kiện ngay, nhng trớc tiên các bên tranh chấp nên giải quyết
tranh chấp phát sinh trong ngoại thơng bằng khiếu nại. Luật pháp nhiều nớc
qui định khiếu nại là phơng thức bắt buộc đầu tiên để giải quyết tranh chấp.
Cụ thể, khoản 1 điều 239 Luật thơng mại Việt nam 1997 đã qui định : Tranh
chấp thơng mại trớc hết phải đợc giải quyết thông qua thơng lợng giữa các
8
bên. Khi đó, khiếu nại là cơ sở pháp lý để giải quyết tranh chấp ở các mức
cao hơn là Toà án và Trọng tài.
Khiếu nại là một khâu rất quan trọng trong hoạt động ngoại thơng cho
nên ngời làm công tác xuất nhập khẩu cần nắm vững kiến thức về nghiệp vụ
ngoại thơng cũng nh kiến thức pháp lý về khiếu nại.
Trong hoạt động thơng mại và hàng hải quốc tế, khiếu nại liên quan đến
nhiều bên nh ngời bán, ngời mua, ngời chuyên chở, ngời thuê chở, ngời gửi
hàng, ngời nhận hàng, ngời uỷ thác, ngời nhận uỷ thác, ngời bảo hiểm v.v
Song khiếu nại ngời bán hàng, ngời chuyên chở hàng hoá bằng đờng biển, ng-
ời bảo hiểm hàng hoá là những trờng hợp hay xảy ra nhất.
2.2. Đặc điểm
Để có thể tiến hành giải quyết thành công tranh chấp trong ngoại thơng
bằng phơng pháp khiếu nại các bên cần tuân thủ chặt chẽ thời hạn khiếu nại và
thủ tục khiếu nại.
a) Thời hạn khiếu nại
Thời hạn khiếu nại là một khoảng thời gian nhất định cho phép các bên

cách xa gần giữa ngời bán và ngời mua, mức độ hiện đại của phơng tiện giao
thông, để qui định là dài hay ngắn.
Trong trờng hợp cả hợp đồng lẫn luật áp dụng cho hợp đồng đều không
qui định gì về thời hạn khiếu nại thì thông thờng đó là một khoảng thời gian
hợp lý kể từ ngày bên bị vi phạm biết đợc hoặc đáng lẽ ra phải biết đợc quyền
lợi của mình bị vi phạm. Do vậy, trong trờng hợp này khi phát hiện ra quyền
lợi của mình bị vi phạm, bên bị vi phạm phải nhanh chóng lập bộ hồ sơ khiếu
nại để gửi đi trong thời gian nhanh nhất và hợp lý.
10
Các bên tranh chấp cần phải đặc biệt chú ý tới thời hạn khiếu nại. Nếu bên
bị vi phạm bỏ lỡ thời hạn khiếu nại thì sẽ mất quyền khiếu nại và hoặc mất
quyền đi kiện, quyền thắng kiện, còn bên vi phạm có quyền bác khiếu nại nếu
thấy thời hạn khiếu nại đã hết.
Để thấy rõ tác hại của việc bỏ lỡ thời hạn khiếu nại chúng ta xem xét ví dụ
sau:
Một công ty của Việt nam mua bông của một công ty của Xuđăng.
Hợp đồng qui định một số nội dung chính nh sau:
- Số lợng: 650 MT bông cấp 4 và 3249 MT bông cấp 6
- Thời hạn giao hàng: tháng 11 và 12 năm 1978
- Thời hạn khiếu nại: 30 ngày sau khi dỡ hàng đối với khuyết tật rõ rệt
và 90 ngàyđối với khuyết tật không rõ rệt.
Quá trình thực hiện hợp đồng diễn ra nh sau:
+ Ngày 29/01/1979, tàu đến cảng Việt nam.
+ Ngày 05/02/1979, phía Việt nam yêu cầu Vinacontrol giám định hàng.
+ Ngày 24/02/1979, bên Việt nam nhận đợc biên bản giám định của
Vinacontrol và gửi th nhắc nhở phía Xuđăng về phẩm chất hàng, đề nghị
tránh lặp lại chuyến sau.
+ Ngày 01/03/1979, bên Việt nam gửi th cho phía Xuđăng tiếp tục phàn
nàn về phẩm chất hàng.
+ Ngày 12/03/1979, bên Việt nam gửi cho phía Xuđăng biên bản giám

nêu rõ các chi phí, thiệt hại cần đ ợc bồi thờng. Nội dung này rất cần
thiết vì nó là cơ sở để ngời bị khiếu nại xem xét xem có nên thoả mãn yêu
sách của ngời khiếu nại hay không, và nó cũng là cơ sở để ngời khiếu nại
có thể đòi đợc các chi phí, thiệt hại mà mình phải gánh chịu.
12
Ngoài những yêu cầu nh trên, đơn khiếu nại hợp lệ cũng cần phải rõ ràng,
ngắn gọn, lịch sự trong cách sử dụng ngôn ngữ giao tiếp, lời lẽ trong đơn hợp
tình, hợp lý và có sức thuyết phục cao thì việc khiếu nại mới có thể thành
công.
Các chứng từ kèm theo có vai trò rất quan trọng trong quá trình khiếu nại.
Các chứng từ này là toàn bộ các th từ, điện tín trao đổi giữa các bên từ khi kí
kết, thực hiện hợp đồng mua bán ngoại thơng cho đến khi phát sinh và giải
quyết tranh chấp để làm bằng chứng cho việc khiếu nại. Trong mỗi một trờng
hợp khác nhau, bộ hồ sơ khiếu nại bao gồm các chứng từ khác nhau, nhng
thông thờng bao giờ cũng có:
- Hợp đồng mua bán ngoại thơng và các văn bản sửa đổi, bổ xung hợp
đồng.
Chứng từ này là cơ sở để xác định nghĩa vụ, trách nhiệm của các bên, do
đó cũng là cơ sở để xác định mức độ vi phạm hợp đồng của các bên.
- Th tín dụng L/C và các văn bản sửa đổi, bổ xung L/C.
Khi hợp đồng qui định thanh toán bằng th tín dụng thì việc nộp L/C trong
bộ hồ sơ khiếu nại là cần thiết. Nếu ngời mua là ngời khiếu nại, bộ hồ sơ
khiếu nại có L/C chứng tỏ ngời mua đã sẵn sàng thanh toán mà ngời bán
không thực hiện nghĩa vụ thì lỗi là ở ngời bán. Còn nếu ngời mua mở L/C
không phù hợp với hợp đồng thì khi ngời bán khiếu nại ngời bán sẽ nộp
L/C trong bộ hồ sơ khiếu nại để chứng minh việc mở L/C sai với hợp
đồng.
- Vận đơn.
Có thể là vận đơn đờng biển (Bill of lading), vận đơn đờng sắt (Railway
bill), vận đơn hàng không (Airway bill) tuỳ theo hàng hoá đ ợc chuyên

14
- Hai bên hiểu rõ nội dung sự việc, nội dung tranh chấp nên dễ có thể
đạt đợc sự thống nhất nếu nh cả hai bên đều thiện chí.
- Vì giải quyết tranh chấp bằng khiếu nại thì chỉ có các bên tranh chấp
với nhau nên những thông tin cần thiết và bí mật không bị lộ ra bên
ngoài và giữ đợc uy tín của các bên trong hoạt động kinh doanh lâu
dài.
- Tiết kiệm đợc thời gian và chi phí. Khiếu nại giữa hai bên không bắt
buộc phải tuân theo thủ tục tố tụng nào nên tranh chấp có thể đợc giải
quyết nhanh chóng. Hơn nữa, không phải trả tiền công cho hoà giải
viên, không mất phí trọng tài, án phí cho nên chi phí bỏ ra là ít nhất.
- Sau khi tranh chấp đợc giải quyết ổn thoả bằng khiếu nại, các bên th-
ờng vẫn giữ đợc mối quan hệ buôn bán với nhau còn nếu nh đã đi kiện
ra toà án hoặc trọng tài thì mối quan hệ này thờng là chấm dứt, các
bên mất hẳn một đối tác làm ăn.
Nhìn chung, phơng pháp giải quyết tranh chấp bằng khiếu nại là phơng
pháp tối u thờng đợc áp dụng. Tuy nhiên, dù bên vi phạm chấp nhận khiếu nại
và chấp nhận nộp phạt hoặc bồi thờng thiệt hại cho bên bị vi phạm thì việc
thực hiện nghĩa vụ của bên vi phạm là hoàn toàn trên cơ sở tự nguyện không
mang tính cỡng chế, bên bị vi phạm không thể ép buộc đợc. Nếu bên vi phạm
không thực hiện thì khiếu nại là không thành công. Hơn nữa, trong thực tế
buôn bán quốc tế không phải lúc nào các bên cũng sẵn sàng nhân nhợng với
nhau để giải quyết tranh chấp bằng con đờng khiếu nại vì bản chất của tranh
chấp là sự vi phạm quyền lợi của nhau. Do vậy, để giải quyết tranh chấp các
bên có khi phải tiến hành việc tố tụng. Đối với các tranh chấp phát sinh từ hợp
đồng mua bán ngoại thơng các bên có thể đi kiện ra toà án hoặc trọng tài. Vì
vậy, chúng ta sẽ tiếp tục tiến hành nghiên cứu các phơng pháp giải quyết tranh
chấp trong ngoại thơng là việc đi kiện ra toà án hoặc trọng tài.
15
3. Giải quyết tranh chấp trong ngoại thơng bằng Toà án và đặc điểm

điều ớc quốc tế đang có hiệu lực trong quan hệ giữa hai nớc tơng ứng.
Khi toà án nhận đợc đơn kiện thì cần phải dựa trên đơn kiện xem xét mình
có thẩm quyền xét xử không. Trong các tranh chấp thơng mại thuộc thẩm
quyền xét xử của toà kinh tế, chỉ có toà án cấp tỉnh hoặc thành phố trực thuộc
trung ơng mới có thẩm quyền giải quyết tranh chấp có nhân tố nớc ngoài, nh-
ng phải ở nơi bị đơn c trú hoặc nơi có bất động sản (nếu là tranh chấp bất động
sản) hoặc nơi bị đơn có tài sản hoặc đóng trụ sở chính.
ở Việt nam, theo Điều 12 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế
(16/3/1994), toà án có thẩm quyền giải quyết các vụ án kinh tế sau đây:
- Các tranh chấp về hợp đồng kinh tế giữa pháp nhân với pháp nhân, giữa
pháp nhân với cá nhân có đăng ký kinh doanh;
- Các tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa các
thành viên của công ty với nhau liên quan đến thành lập, hoạt động,
giải thể công ty;
- Các tranh chấp liên quan đến việc mua bán cổ phiếu, trái phiếu;
- Các tranh chấp kinh tế khác theo qui định của pháp luật.
Luật Thơng mại Việt nam qui định ở Điều 240 rằng: Đối với các tranh
chấp thơng mại với thơng nhân nớc ngoài, nếu các bên không thoả thuận hoặc
điều ớc quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam ký kết hoặc tham gia
không có qui định thì tranh chấp đợc giải quyết tại Toà án Việt nam.
17
Nh vậy, toà án Việt nam có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp phát
sinh trong ngoại thơng khi điều này đợc qui định trong hợp đồng, trong văn
bản thoả thuận giữa các bên hoặc trong pháp luật có liên quan.
b) Hồ sơ kiện ra toà án
Toà án của bất kỳ nớc nào cũng chỉ tuân thủ luật tố tụng của nớc mình,
nghĩa là nhận đơn kiện, chuẩn bị xét xử, tiến hành xét xử theo đúng luật tố
tụng của nớc toà án. Còn khi giải quyết tranh chấp toà án phải áp dụng luật
thực chất điều chỉnh hợp đồng.
Toà án Việt nam không phải là trờng hợp ngoại lệ. Chẳng hạn, bên Việt

+ Các yêu cầu đề nghị toà án xem xét, giải quyết.
Ngoài đơn kiện, bộ hồ sơ kiện tới toà án còn có các chứng từ làm bằng bị
đơn chứng. Các chứng từ làm bằng chứng kèm theo đơn kiện bao gồm toàn bộ
các chứng từ có trong bộ hồ sơ khiếu nại, ngoài ra còn có thêm th từ, điện tín
trao đổi giữa hai bên trong quá trình giải quyết khiếu nại giữa các bên nhng
không đạt kết quả, các bằng chứng mới mà lúc khiếu nại cha tìm ra Khi
thiếu các chứng từ làm bằng chứng thì bộ hồ sơ kiện vẫn có thể hợp lệ (toà án
vẫn thụ lý) nếu đơn kiện hợp lệ nhng đơn kiện sẽ bị bác toàn bộ hoặc một phần
do thiếu các chứng từ làm bằng chứng. Do vậy, việc chuẩn bị và nộp đầy đủ
các chứng từ làm bằng chứng đi kèm theo đơn kiện khi đi kiện là một nhân tố
quan trọng giúp cho việc đi kiện thành công.
Pháp luật qui định ngời đi kiện có quyền bổ sung các bằng chứng và ngời
bị kiện cũng có quyền cung cấp các bằng chứng bổ sung để bác lại. Toà án
không có nghĩa vụ phải thông báo cho các bên nếu thiếu chứng từ. Ngoài ra,
toà án có quyền điều tra, xác minh các chứng từ trong quá trình xét xử.
19
Muốn đợc thụ lý đơn kiện để đa ra xét xử, nguyên đơn phải nộp một số
tiền nhất định gọi là chi phí hành chính. Chẳng hạn, Toà án trọng tài quốc tế
của Phòng thơng mại quốc tế khi nhận hồ sơ kiện thu 2000 USD trả trớc chi
phí hành chính.
c) Thời hiệu khởi kiện
Ngời đi kiện phải tuân thủ đúng thời hiệu khởi kiện. Thời hiệu khởi kiện
(hay còn gọi là thời hiệu tố tụng) là khoảng thời gian do pháp luật qui định cho
bên có quyền lợi bị vi phạm đi kiện ra toà án, nếu bỏ qua thời hiệu khởi kiện
mới đi kiện thì đơn kiện sẽ bị bác.
Thời hiệu khởi kiện đợc qui định trong điều ớc quốc tế. Chẳng hạn, theo
Điều 20 Công ớc Hamburg 1978, thời hiệu khởi kiện ngời chuyên chở là 2
năm kể từ ngày đã giao toàn bộ hàng cho ngời nhận hàng.
Thời hiệu khởi kiện cũng đợc qui định trong luật quốc gia của các nớc. Ví
dụ, Luật hàng hải Việt nam 1990 qui định thời hiệu khởi kiện đối với Công ty

dụng các biện pháp chế tài phù hợp. Khi tham gia quan hệ tố tụng trớc toà án
để giải quyết tranh chấp quyền và nghĩa vụ của các bên là bình đẳng.
Nguyên tắc tự hoà giải : nội dung của nguyên tắc này là trớc khi đa tranh
chấp ra toà án xét xử các bên phải hoà giải, thơng lợng với nhau để giải quyết
tranh chấp theo nguyện vọng chính đáng của các bên. Khi đã đa tranh chấp ra
toà án các bên vẫn phải hoà giải, thơng lợng dới sự công nhận, hớng dẫn của
toà án. Biên bản hoà giải thành công có giá trị pháp lý nh biên bản xét xử của
toà và buộc các bên phải thực hiện.
Nguyên tắc toà án không tiến hành điều tra mà chỉ thu thập và xác
minh chứng cứ : toà án ra phán quyết trên cơ sở các chứng cứ mà các bên đ-
ơng sự đa ra. Các đơng sự có nghĩa vụ cung cấp các chứng cứ này để chứng
minh và bảo vệ quyền lợi của mình. Toà án không tiến hành điều tra để xác
21
minh các tình tiết, sự thật của vụ tranh chấp mà chỉ thông qua các biện pháp
nghiệp vụ nh nghe các bên trình bày, xem xét các chứng cứ, tiến hành tranh
luận để đánh giá, kết luận và đ a ra phán quyết.
Nguyên tắc xét xử công khai : mọi tranh chấp đợc xét xử công khai , trừ
khi luật pháp cho phép, toà án sẽ xét xử kín. Toà án có thể đợc xét xử kín đối
với các vụ tranh chấp liên quan đến bí mật của các quốc gia hay bí mật của
các bên đơng sự theo yêu cầu chính đáng của họ. Bí mật của các quốc gia có
thể là các vấn đề liên quan đến an ninh quốc gia, liên quan đến việc duy trì
nền kinh tế, hay chiến lợc phát triển kinh tế của các quốc gia. Bí mật của các
bên đơng sự có thể là sự sống còn của các bên, là vấn đề liên quan trực tiếp
đến hiệu quả sản xuấtkinh doanh, uy tín của các bên
Nguyên tắc chỉ tuân theo pháp luật : theo nguyên tắc này, toà án chỉ
tuân theo pháp luật khi xét xử các tranh chấp và không bị ảnh hởng bởi sự chi
phối của bất kỳ cá nhân hay tổ chức nào khác. Việc ra phán quyết phải hoàn
toàn dựa vào tình tiết khách quan cụ thể và luật áp dụng. Toà án độc lập trong
việc ra phán quyết và chịu trách nhiệm đối với các phán quyết đó.
3.3. Nhợc điểm của xét xử bằng toà án

tranh chấp chủ yếu trong mua bán quốc tế.
Trọng tài thơng mại đợc thành lập dới hai hình thức: trọng tài Adhoc
(trọng tài vụ việc) và trọng tài qui chế (trọng tài thờng trực). Tuỳ tính chất,
mức độ và phạm vi của các vụ tranh chấp mà các bên lựa chọn hình thức trọng
tài sao cho phù hợp để giải quyết tranh chấp đạt hiệu quả cao.
23
Trọng tài Adhoc (hay còn gọi là trọng tài đặc biệt, trọng tài ngẫu nhiên)
đợc hình thành để giải quyết một tranh chấp cụ thể, sau khi giải quyết xong thì
giải tán. Đặc điểm của trọng tài này là không có cơ quan, tổ chức, không có
trụ sở hoạt động cố định và vận dụng linh hoạt qui tắc xét xử nh không nhất
thiết ngôn ngữ xét xử và ngôn ngữ đơn kiện phải đồng nhất, nơi xét xử có thể
ở bất cứ đâu
Ban trọng tài xét xử chỉ có một trọng tài viên duy nhất. Do đó, khi lựa
chọn trọng tài các bên tranh chấp cần chọn những chuyên gia đầu nghành, có
tên tuổi. Với thủ tục xét xử linh hoạt trong vận dụng qui tắc, điều lệ, việc giải
quyết tranh chấp thờng gọn gàng và triệt để.
Trọng tài qui chế hay còn gọi là trọng tài thờng trực là loại trọng tài đợc
thành lập thành tổ chức cố định, thờng xuyên của các nớc và hoạt động theo
một qui chế nhất định. Đó là điều lệ và qui tắc tố tụng của tổ chức trọng tài.
Trọng tài qui chế có trụ sở hoạt động cố định và thờng đợc đặt cạnh phòng th-
ơng mại của các nớc. Tên gọi của trọng tài qui chế thờng là trung tâm trọng tài
nh Trung tâm trọng tài quốc tế Việt nam (VIAC), Trung tâm trọng tài quốc tế
Singapo (SIAC) , hay có tên gọi khác nh Hiệp hội trọng tài thơng mại Nhật
bản (JCAA), toà án trọng tài quốc tế Luân đôn Trung tâm trọng tài quốc tế
Việt nam (Vietnam International Arbitration Center- VIAC) đợc thành lập
năm 1993 bên cạnh Phòng thơng mại và Công nghiệp Việt nam, là kết quả của
việc tổ chức lại, hợp nhất hai hội đồng trọng tài: hội đồng trọng tài ngoại th-
ơng đợc thành lập năm 1963 và hội đồng trọng tài hàng hải đợc thành lập năm
1968.
Ban trọng tài xét xử có thể đợc lựa chọn theo ba cách sau:

trọng tài là cơ sở pháp lý để khẳng định tính bất khả thụ lý của toà án quốc gia
25

Trích đoạn Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ Tình hình hoạt động ngoại thơng ở Công ty dệt may Hà nộ Những thuận lợi và thành tựu Những khó khăn và tồn tạ Tiếp tục hoàn thiện pháp luật thơng mại Việt nam
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status