LỜI CẢM TẠ
Tôi đã hoàn thành luận văn tốt nghiệp không chỉ với những cố gắng và nỗ lực
của riêng tôi mà còn nhận được rất nhiều sự giúp đỡ.
Trước hết, tôi xin cảm om Ban lãnh đạo Khoa Luật, trường Đại học cần Thơ đã
tạo điều kiện cho tôi học tập, nghiên cứu và nâng cao trình độ trong những năm qua.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô Lê Huỳnh Phương Chinh đã tận tình
VĂN
TỐT
hướng dẫn, giúp đỡ vàLUẬN
truyền đạt
những
kinhNGHIỆP
nghiệm quý báu, và tạo mọi điều kiện
NIÊN
thuận lợi để tôi hoàn thành
tốt đềKHÓA
tài luận 2007
văn của2011
mình.
Tôi
Đềxin
tài:chân thành cảm ơn cô Trần Thụy Quốc Thái - cố vấn học tập cùng tất
cả quý thầy, cô trong Khoa Luật đã dạy bảo và cung cấp kiến thức cho tôi trong suốt
quá trình học tập và nghiên cứu.
PHÁP LUẬT VÈ HOẠT ĐỘNG
1.1.1. Trên thế giới.................................................................................................4
1.1.2. Tại Việt Nam................................................................................................6
1.2.............................................................................................................................. K
hái niệm bao thanh toán...................................................................................... 7
1.3.
Đặc điểm của hoạt động bao thanh toán theo quy định của pháp luật Việt
Nam. 10
1.4.............................................................................................................................. V
ai trò của hoạt động bao thanh toán.................................................................... 11
1.4.1. Đối với bên bán hàng, cung ứng dịch vụ ..................................................11
1.4.2. Đối với bên mua hàng, sử dụng dịch vụ....................................................12
1.4.3. Đối với đom vị bao thanh toán..................................................................12
1.5..........................................................................................Phân loại bao thanh toán
.............................................................................................................................13
1.5.1. Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ.....................................................................13
1.5.2. Căn cứ vào trách nhiệm đối với rủi ro.......................................................13
1.5.3. Căn cứ vào phưomg thức bao thanh toán..................................................14
1.6.............................................................................................................................. P
hân biệt bao thanh toán và một số hình thức cấp tín dụng khác......................... 14
1.6.1. Phân biệt bao thanh toán và bảo lãnh ngân hàng.......................................14
1.6.2. Phân biệt bao thanh toán và chiết khấu giấy tờ có giá...............................18
CHƯƠNG 2. PHÁP LUẬT VÈ HOẠT ĐỘNG BAO THANH TOÁN CỦA
CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG TẠI VIỆT NAM..........................................................23
2.1.
Quy định của pháp luật về điều kiện hoạt động bao thanh toán của các
tổ chức tín dụng............................................................................................23
2.1.1. Quy định của pháp luật về điều kiện để được thực hiện hoạt động
CHƯƠNG 3. THựC TRẠNG VÈ HOẠT ĐỘNG BAO THANH TOÁNNGUYÊN NHÂN VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN VÀ
PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG BAO THANH TOÁN TẠI VIỆT NAM. .53
3.1.............................................................................................................................Th
ực tiễn hoạt động bao thanh toán ừên thế giới....................................................53
3.2.
Thực trạng hoạt động bao thanh toán của các tổ chức tín dụng tại Việt
Nam,Nguyên nhân và một số giải pháp ...............................................................58
3.2.1. Tồn tại về phía các đơn vị bao thanh toán - Nguyên nhân và giải pháp.... 61
3.2.2....................................................................................................................... T
ồn tại về phía khách hàng - Nguyên nhân và giải pháp.........................................64
3.2.3....................................................................................................................... T
ồn tại về hành lang pháp lý - Nguyên nhân và giải pháp.......................................66
KẾT LUẬN..................................................................................................72
Luận văn tốt nghiệp
Pháp luật vê hoạt động bao thanh toán- Thực trạng và giải pháp
LỜI MỞ ĐẰU
--0O0-1. Lý do chọn đề tài
Đa dạng hóa các loại hình dịch vụ và giữ được vị trí cạnh tranh hiện tại đang
là vấn đề sống còn đối với các tổ chức tín dụng. Để đạt được mục tiêu này, các
định chế tài chính Việt Nam đã đưa ra các công cụ tài chính mới trên thế giới vào
triển khai áp dụng ở thị trường tài chính Việt Nam, trong đó có bao thanh toán
Luận văn tốt nghiệp
Pháp luật vê hoạt động bao thanh toán- Thực trạng và giải pháp
đóng góp một số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật trong việc
mở rộng và phát triển hoạt động này tại Việt Nam.
1. Phạm vi nghiên cứu
về đối tượng nghiên cứu: ừong luận văn này, người viết tập trung nghiên cứu
trên cơ sở các vãn bản pháp luật quy định trực tiếp về hoạt động bao thanh toán;
các văn bản pháp lý có liên quan trong việc phân tích, làm rõ các khái niệm, đặc
trưng. Qua đó đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật về hoạt động trên đồng thời đưa
ra một số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý.
2. Phương pháp nghiên cứu
Người viết đã vận dụng một vài phương pháp nghiên cứu để làm công cụ
phục vụ cho việc nghiên cứu của mình như: phương pháp tổng hợp, phân tích luật
viết, phương pháp đối chiếu, so sánh những quy định của pháp luật về cùng một
vấn đề, so sánh giữa lý luận và thực tiễn để thực hiện các mục tiêu đề ra khi thực
hiện đề tài. Cụ thể:
-
Phương pháp duy vật biện chửng: nhìn nhận các hiện tượng và quá trình
hoạt động của nên kinh tế trong mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau; dựa vào
các giai đoạn khác nhau của nền kinh tế mà đánh giá và nhận xét quá trình
hình thành và phát triển của bao thanh toán.
và các hĩnh thức cấp tín dụng khác.
Chương II Pháp luật về hoạt động bao thanh toán của các tổ chức tín
dụng tại Việt Nam
Trong Chưomg II, người viết phân tích chủ yếu về điều kiện để tổ chức tín
dụng được hoạt động bao thanh toán; trình tự thủ tục để được Ngân hàng Nhà nước
chấp thuận hoạt động bao thanh toán của tổ chức tín dụng, quy trình hoạt động bao
thanh toán và các vấn đề liên quan đến họp đồng bao thanh toán.
Chương III Thực trạng về hoạt động bao thanh toán - Nguyên nhân và
một số giải pháp nhằm hoàn thiện và phát triển hoạt động bao thanh toán tại
Việt Nam
Qua việc phân tích thực trạng về hoạt động bao thanh toán, người viết chỉ ra
GVHD: Ths. Lê Huỳnh Phương Chinh
3
SVTH: Đỗ Ngọc Lan Phương
1
Tổng hợp từ các nguồn:
Luận văn tốt nghiệp
Pháp luật vê hoạt động bao thanh toán- Thực trạng và giải pháp
Chương I TỔNG QUAN VÈ HOẠT ĐỘNG BAO THANH TOÁN
Thống
kê,
năm
2007,
trang
16-17.
http://www. factors-chain. com/
Võ Đình Toàn, Giáo trình Luật Ngân hàng, Trường Đại học luật Hà Nội, NXB Công an nhân dân, Hả
Nội 2005.
GVHD: Ths. Lê Huỳnh Phương Chinh
4
SVTH: Đỗ Ngọc Lan Phương
2
http ://fredcoutts. ccm/factoring_histary.htrn
Luận văn tốt nghiệp
Pháp luật vê hoạt động bao thanh toán- Thực trạng và giải pháp
Thế kỉ 16 chứng kiến sự bành trướng của chế độ thực dân Mỹ, cùng với nó BTT
cũng như nhiều công cụ tài chính khác có thêm cơ hội mới để mở rộng và phát triển.
Khoảng cách giữa Châu Ầu và thị trường thực dân vốn đã rất lớn, đặc biệt là khi Mỹ
mở rộng biên giới về phía Tây; các phương tiện lưu thông và thông tin thời bấy giờ
còn hạn chế, do đó vòng tuần hoàn vốn từ lúc sản xuất đến lúc được thanh toán hoàn
5
SVTH: Đỗ Ngọc Lan Phương
3
http:/Avww.tapchiketoan.com/ngan-hang-tai-chũửi/tai-chinh-doanh-nghiep/bao-thanh-toan-Êictormg-mot-hinhthuc-tin- Luận văn tốt nghiệpdung-moi-tai-
Pháp luật vê hoạt động bao thanh toán- Thực trạng và giải pháp
vie .html
1.1.1 Tại Việt Nam
Nghiệp vụ BTT hiện nay tuy còn khá mới mẻ đối với nhiều tổ chức và doanh
nghiệp, nhung cũng không còn xa lạ với hệ thống ngân hàng Việt Nam. Ban đầu,
nghiệp vụ BTT được các chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam giới thiệu như
một sản phẩm mang lại nhiều ưu thế ừong hoạt động ngân hàng. Một số bài báo giới
thiệu về nghiệp vụ BTT như bài viết của ông Nguyễn Mạnh Dũng - Vụ các ngân hàng
đăng trên Thị trường tài chính tiền tệ tháng 7/1999, rồi bài viết của Nguyễn Văn Hà
đăng trên tạp chí Phát triển kinh tế tháng 8/2004 đã cho thấy hình thức “mua bán nợ”
đã bắt đàu len lỏi trong nền kinh tế đang chuyển minh của nước ta bấy giờ. Tháng
9/2004 Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ký ban hành Quyết định số
1096/2004/QĐ-NHNN về Quy chế hoạt động bao thanh toán của các tổ chức tín dụng
(sau đây gọi tắt là Quy chế hoạt động BTT). Quyết định này có ý nghĩa như là một
bước mở đường cho sự phát triển của nghiệp vụ BTT tại Việt Nam. Vào thời điểm
cuối năm 2004, đầu năm 2005 diễn ra rất nhiều các cuộc hội thảo, báo cáo và quảng bá
về dịch vụ này, như hội thảo về BTT do FENB (Far East National Bank thuộc tập đoàn
Sinopac Holding) của Mỹ tổ chức vào ngày 23/9/2004 nhằm giới thiệu và vận động sự
Hương Thảo, Phát
triển nghiệp vụ
bao thanh toán trong
Luận văn tốt nghiệp
Pháp luật về hoạt động bao thanh toán- Thực trạng và giải pháp
hoạt động tài trợ
thương mại và năng
cao
năng lực cạnh
tranh tại các ngân hàng
thương mại ở
Việt Nam, Tạp chí
Ngân hàng số 19
tháng 10/2008, trang
màu mỡ để phát triển dịch vụ, bởi vì đó là nhu cầu cấp thiết từ phía khách hàng- chính
26
5
Võ Đình Toàn,
trình Luật Ngăn
là đại đa số các doanh nghiệp vừa và nhỏ đang hoạt động, cũng như nhu cầu từ phía Giáo
hàn,
Trường Đại học luật
Hà
Nội,nhà cung cấp - các tổ chức tín dụng (TCTD) trong và ngoài nước. Do đó, BTT chắc NXB Công an nhân
dân,
Hà
Nội
2005,
trang 226. chắn sẽ không là ngoại lệ.
SVTH: Đỗ Ngọc Lan Phương
Luận văn tốt nghiệp
Pháp luật về hoạt động bao thanh toán- Thực trạng và giải pháp
hàng Nhà nước Việt Nam ban hành kèm Quy chế hoạt động BTT của các tổ chức tín
dụng. Cụ thể BTT được định nghĩa như sau:
BTT là một hình thức cấp tin dụng của TCTD cho bên bản hàng thông qua việc
mua lại các khoản phải thu phát sinh từ việc mua, bán hàng hóa đã được bên bán
hàng và bên mua hàng thỏa thuận trong hợp đong mua bán hàng hóa.
Lúc này BTT phải co minh trong mỗi lĩnh vực mua bán hàng hóa, vì vậy việc
áp dụng Quy chế hoạt động BTT lại càng gò bó và chưa thực sự phát huy hết được lợi
thế của nghiệp vụ BTT, cũng như chưa được quan tâm một cách đúng mực từ phía các
doanh nghiệp và các TCTD. Từ tình hình trên, Quyết định số 30/2008/QĐ-NHNN
ngày 16/10/2008 của Ngân hàng Nhà nước được ban hành nhằm sửa đối, bố sung một
số điều của Quy chế hoạt động BTT ban hành theo Quyết định số 1096/2004/QĐNHNN ngày 06/9/2004. Trong đó, BTT được mở rộng hoạt động bao gồm Mua bán
hàng hoả và Cung ứng dịch vụ.
Còn theo Luật Các tổ chức tín dụng 2010 (có hiệu lực ngày 01/01/2011) thì
“Bao thanh toán là hình thức cấp tín dụng cho bên bán hàng hoặc bên mua hàng
thông qua việc mua lại có bảo lưu quyền truy đỏi các khoản phải thu hoặc các khoản
phải trả phát sinh từ việc mua, bán hàng hoả, cung ứng dịch vụ theo hợp đồng mua,
bản hàng hoả, cung ứng dịch vụ”.
Định nghĩa về BTT được ghi nhận trong Luật Các tổ chức tín dụng 2010 đề cập
đến một số vấn đề sau:
Thứ ba, là quy định về việc “có bảo lưu quyền truy đòi”. Quyền truy đòi không
được nhắc đến ừong định nghĩa về BTT trong Quy chế hoạt động BTT. Tuy nhiên,
việc truy đòi hay miễn truy đòi lại được nhắc đến trong các loại hình BTT (Điều 11
Quy chế hoạt động BTT). “Truy đòi” là việc bên bán hàng phải hoàn trả lại theo yêu
cầu của TCTD số tiền mà TCTD đã chuyển giao như thỏa thuận trong họp đồng BTT
do các điều khoản trong họp đồng mà theo đó các TCTD được quyền đòi lại các khoản
đã bỏ ra. Có thể hiểu rằng việc truy đòi là dấu hiệu ngầm trong khái niệm BTT quy
định trong Quy chế hoạt động BTT. Do rủi ro lớn nhất của hoạt động BTT là việc bên
mua hàng trì hoãn việc thanh toán hoặc mất đi khả năng thanh toán, đặc biệt là đối với
BTT miễn truy đòi. Nên để giảm thiểu rủi ro trên các TCTD phải cẩn trọng khi xem
xét đến việc có nên ký họp đồng BTT với khách hàng hay không. Điều đó lại còn tùy
thuộc vào nghiệp vụ, kỹ thuật chuyên ngành, kinh nghiệm.. .của thành viên các TCTD
thực hiện nghiệp vụ BTT. Và để tạo cơ sở pháp lý vững vàng hơn cho hoạt động BTT,
định nghĩa về BTT trong Luật Các tổ chức tín dụng 2010 đã đề cập đến điều được
ngầm hiểu trong khái niệm BTT quy định tại Điều 2 Quy chế hoạt động BTT. Tuy
nhiên điều đó không có nghĩa là hoạt động BTT nhất định và luôn luôn phải được thực
hiện dưới hình thức “BTT có quyền truy đòi”. Việc “truy đòi” hay “miễn truy đòi” là
do thỏa thuận của các bên trong họp đồng BTT. Xét đến các yếu tố rủi ro mà TCTD có
thể gặp phải, có thể nhận thấy, khi mua “các khoản phải thu”, cùng với việc ứng tiền
cho người bán và thu tiền người mua khi đến hạn thanh toán thì có thể áp dụng một
trong hai hình thức BTT trên. Tuy nhiên, đối với việc cấp tín dụng cho người mua
thông qua việc mua lại “các khoản phải trả” thì rõ ràng TCTD chỉ có thể ký kết họp
đồng với quyền truy đòi, nếu như muốn đảm bảo sự an toàn cho đồng vốn đã bỏ ra.
Mặc dù có nhiều cách diễn đạt khác nhau nhưng tất cả đều hướng về bản chất
của hoạt động BTT - sự chuyển nhượng quyền đòi nợ. Khoản nợ từ họp đồng của
GVHD: Ths. Lê Huỳnh Phương Chinh
9
Quyết
định
Pháp luật vê hoạt động bao thanh toán- Thực trạng và giải pháp
30/2008/QĐngày
16/10/2008
đốc
Ngân
nước.
nghiệp, “là khoản tiền bên bản hàng hóa, cung ứng dịch vụ phải thu từ bên mua hàng
hóa, sử dụng dịch vụ theo hợp đồng mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ ” 6. Tương tự
vậy, các khoản phải trả là tài sản nợ của doanh nghiệp, được tính dựa trên các khoản
nợ, các giao dịch chưa thanh toán hoặc bất cứ nghĩa vụ tiền tệ liên quan trực tiếp đến
hợp đồng. Các chứng từ thương mại liên quan đến giao dịch giữa người mua và người
bán được xem là căn cứ để xác định sự tồn tại pháp lý và giá trị kinh tế của các khoản
phải thu và phải trả. Thông thường các loại chứng từ này bao gồm: chứng từ hàng hóa
(ví dụ: hỏa đơn bán hàng, hóa đơn vận tải...), chứng từ tài chính (ví dụ: hối phiếu, lệnh
phiếu...) và có thể là các sổ sách kế toán có liên quan. Hoạt động BTT gắn liền với
việc chuyển giao cho đơn vị BTT các chứng từ chứng minh các khoản phải thu và phải
trả này. Xét một giao dịch thực tế thì bên bán hàng là bên ghi nhận chứng từ một cách
rõ ràng và cụ thể nhất. Vì đó là cơ sở đảm bảo họ có thể đòi lại những khoản nợ đến
hạn và mặt khác là nhằm tránh những ừanh chấp không đáng có. Do vậy, bên bán
hàng sẽ là chủ thể thực hiện việc chuyển giao này.
1.3Đặc điểm của hoạt động BTT theo quy định của pháp luật Việt Nam
BTT mang một số các đặc điểm nổi bật sau:
- BTT là một hình thức cấp tín dụng cho bên bán hàng hoặc bên mua hàng. Theo
Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 thì cấp tín dụng được hiểu “là việc thỏa
thuận để tổ chức, cả nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử
dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết
định 1096/2004/QĐđổi, bổ sung bởi Quyết
30/2008/QĐ-NHNN
16/10/2008 của Thống
hàng Nhà nước
BTT mang bản chất là hình thức cấp tín dụng ngắn hạn. TCTD chỉ được cấp tín
dụng BTT nếu thời gian còn lại của các khoản phải thu tính từ thời điểm BTT
không quá 180 ngày7. Quy định này nhằm đảm bảo khả năng quản lý của
TCTD đối với các khoản phải thu. Tưomg tự vậy, có thể áp dụng khoản thời
gian trên đối với các khoản phải trả.
-
Hoạt động BTT dựa trên quan hệ về mua bán quyển tài sản là quyển đòi nợ.
Đây là dấu hiệu để phân biệt hoạt động BTT và các hình thức cấp tín dụng
khác. Do quyền đòi nợ là một loại tài sản được xác định từ một giao dịch
thưomg mại cụ thể nên khi thực hiện hoạt động BTT, tổ chức tín dụng phải tiến
hành phân tích toàn diện và trực tiếp các giao dịch làm phát sinh các khoản phải
thu, tình hình tài chính và hoạt động của cả bên bán hàng và bên mua hàng.
1.4 Vai trò của hoạt động BTT
BTT mang lại nhiều lợi ích cho các bên trong quá trình thanh toán. Cụ thể:
1.4.1. Đổi với bên bán hàng, cung ứng dịch vụ
Thứ nhất, bên bán được giải quyết nhu cầu về vốn, do được cung cấp nguồn tài
chính để đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh. Nguồn vốn bao giờ cũng là vấn đề
chiếm trọn sự quan tâm của các doanh nghiệp. Trong giao dịch mua bán hàng hóa, một
trong những trăn trở của bên bán là làm sao có thể nhận được tiền nhanh chóng để có
rủi ro trong kinh doanh đặc biệt là trong giao thưomg với các đối tác nước ngoài.
1.4.2 Đổi với bên mua hàng, sử dụng dịch vụ
Thứ nhất, do được đơn vị BTT ứng vốn trước nên bên mua có thể mua chịu
hàng một cách dễ dàng bên cạnh đó có thể tăng sức mua, tìm kiếm thêm lợi nhuận
đồng thời cũng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Thứ hai, ừong tài trợ thương mại thì phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
L/C (Letter of Credit) được xem là phương thức thông dụng nhất. Trong phương thức
này, nhà xuất khẩu (bên bán) yêu cầu nhà nhập khẩu (bên mua) tiến hành thủ tục mở
L/C tại một ngân hàng với các điều kiện đã thỏa thuận. Thủ tục mở L/C cho khách
hàng được xem là một hình thức tài trợ cho doanh ngiệp vì khi ngân hàng đồng ý mở
L/C cho bên mua hàng bao hàm trong đó là sự cam kết thanh toán cho người hưởng
lợi L/C. Ngân hàng sẽ gánh chịu rủi ro nếu bên mua không có khả năng thanh toán.
Trong hoạt động BTT, bên mua nhờ sự đảm bảo tài chính của TCTD bằng một khoản
ứng trước cho bên bán mà không phải mở L/C; đồng nghĩa với việc giảm được gánh
nặng tài chính khi không phải bỏ ra một khoản tiền cho việc mở L/C nhằm đảm bảo
khả năng thanh toán.
Thủ ba, giảm được thời gian, chi phí quản lý sổ sách kế toán và quản lý các
khoản nợ. Do chức năng quản trị sổ sách của nghiệp vụ BTT, đơn vị BTT sẽ là chủ
thể thực hiện việc quản lý các khoản nợ, theo sát tình hình kinh doanh của bên mua,
thông báo cho bên mua hàng về tình trạng của sổ quản lý, thời hạn thanh toán.. .Theo
đó, bên mua hàng sẽ có thể tiết kiệm các khoản về nhân sự, tiết kiệm thời gian khi thực
GVHD: Ths. Lê Huỳnh Phương Chinh
12
SVTH: Đỗ Ngọc Lan Phương
động BTT)
-
BTT quốc tế: (BTT xuất - nhập khẩu, Intemational Factoring) là BTT liên quan
đến ít nhất hai quốc gia khác nhau, dựa trên hợp đồng xuất nhập khẩu. (Khoản 3
Điều 4 Quy chế hoạt động BTT)
Điểm khác biệt giữa hai loại BTT này là khả năng có sự tham gia của hai đơn vị
GVHD: Ths. Lê Huỳnh Phương Chinh
13
SVTH: Đỗ Ngọc Lan Phương
8
Điều 12 Quy chế hoạt động BTT của tổ chức tín dụng ban hành theo Quyết định 1096/2004/QĐ-NHNN ngày
06/9/2004, Luận văn tốt nghiệpđược sửa đổi, bổ
sung bởi Quyết định 30/2008/QĐPháp luật vê hoạt động bao thanh toán- Thực trạng và giải pháp
NHNN
ngày 16/10/2008 của
Thống đốc
Ngân
hàng Nhà
nước.
Theo phương thức này mọi rủi ro nếu xảy ra đều do đơn vị BTT gánh lấy.
-
Đồng BTT: Hai hay nhiều đơn vị bao thanh toán cùng thực hiện hoạt động bao
thanh toán cho một họp đồng mua, bán hàng, cung ứng dịch vụ trong đó một
đơn vị bao thanh toán làm đầu mối thực hiện việc tổ chức đồng bao thanh toán8
GVHD: Ths. Lê Huỳnh Phương Chinh
14
SVTH: Đỗ Ngọc Lan Phương
Luận văn tốt nghiệp
Pháp luật vê hoạt động bao thanh toán- Thực trạng và giải pháp
Bảo lãnh ngân hàng trong Quy chế bảo lãnh ngân hàng ban hành theo Quyết
định số 26/2006/QĐ-NHNN ngày 26/06/2006 của Ngân hàng Nhà nuớc Là cam kết
bằng văn bản của tố chức tín dụng (bên bảo lãnh) với bên có quyển (bên nhận bảo
lãnh) vế việc thực hiện nghĩa vụ tài chinh thay cho khách hàng (bên được bảo lãnh)
khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đủng nghĩa vụ đã cam kết với
bên nhận bảo lãnh. Khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tố chức tín dụng sổ tiền
đã được trả thay.
Như vậy, các bên liên quan trong hoạt động bảo lãnh ngân hàng là:
-
hàng. Vì lí do này, bảo lãnh thanh toán sẽ là sự đảm bảo thanh toán số hàng hóa cho
người bán hàng nếu người mua không thực hiện nghĩa vụ thanh toán của mình khi đến
hạn. Số tiền bảo lãnh thanh toán thường chính là giá trị hàng hóa và số phí phải trả cho
số ngày kéo dài thêm vì đòi bồi thường.
Theo đó, có thể thấy BTT và bảo lãnh thanh toán có một số nét giống nhau:
-
Đều là những hình thức cấp tín dụng, một nghiệp vụ của các TCTD được thực
hiện bằng kỹ thuật chuyên môn nghiệp vụ nhằm đảm bảo sự an toàn cho các
đồng vốn mình bỏ ra khi chấp nhận đóng vai trò người sẽ trả các khoản nợ tài
chính của khách hàng.
-
Đều gắn liền với một giao dịch cụ thể giữa hai chủ thể. Đối với bảo lãnh thanh
toán thì hai chủ thể này sẽ tuông tự như BTT: người bán, người thụ hưởng và
người mua, người có nghĩa vụ thanh toán.
-
Đều là những công cụ mang tính chất tài trợ. Nhu cầu về vốn đối với hoạt động
kinh tế là một vấn đề cầp thiết, đặc biệt là trong họp đồng có giá trị lớn, thời
gian kéo dài thi khả năng về vốn càng trở nên bức thiết. Khi đó, sự xuất hiện
của BTT và bảo lãnh ngân hàng mà cụ thể là bảo lãnh thanh toán là một sự hỗ
trợ rất lớn.
-
Đơn vị BTT khi mua lại các khoản nợ thì thường với mức giá thấp hom giá trị của
khoản nợ đó. Lợi nhuận phát sinh từ sự chênh lệch giữa tiền thu được của số nợ đã
mua và giá mua thực tế của món nợ đó. Nói cách khác, khi cấp tín dụng cho người
bán, giá trị bao giờ cũng nhỏ hơn giá trị các khoản thu. Ngược lại, với bảo lãnh thanh
toán, khi thực hiện chi trả cho bên có quyền, TCTD thông thường phải chấp nhận số
tiền là toàn bộ giá trị họp đồng.
Thứ tư, sự khác biệt giữa BTT và bảo lãnh thanh toán còn thể hiện ở quan hệ
họp đồng khi thực hiện nghiệp vụ. Mặc dù ở hai hình thức cấp tín dụng trên đều tồn tại
ít nhất ba chủ thể: TCTD; bên bán, bên có quyền; bên mua, bên có nghĩa vụ thanh toán
nhưng về quan hệ họp đồng thì có sự khác nhau. Trong bảo lãnh thanh toán thường tồn
tại hai mối quan hệ pháp luật như sau: một là, quan hệ hợp đồng dịch vụ bảo lãnh
(phát sinh giữa TCTD với khách hàng được bảo lãnh); hai là, quan hệ họp đồng bảo
lãnh (phát sinh giữa TCTD bảo lãnh với bên nhận bảo lãnh - bên có quyền). Còn đối
với BTT, chỉ tồn tại họp đồng BTT giữa TCTD (bên tài trợ) và bên bán hoặc bên mua
(bên được tài trợ). TCTD tiếp đó chỉ việc thực hiện việc thông báo cho bên còn lại
trong họp đồng thương mại mà không cần phải ký thêm một họp đồng nào khác.
Thứ năm, về khả năng bảo hiểm đối với rủi ro, TCTD mặc nhiên có quyền truy
đòi người mua, bên cỏ nghĩa vụ thanh toán các khoản đã ừả cho người bán. Còn đối
với hoạt động BTT, TCTD có thể truy đòi hoặc không, tùy thuộc vào đây là họp đồng
GVHD: Ths. Lê Huỳnh Phương Chinh
17
SVTH: Đỗ Ngọc Lan Phương
9
tế
TP.HCM, NXB
trang 108.
Pháp luật vê hoạt động bao thanh toán- Thực trạng và giải pháp
1.6.2 Phân biệt BTT và chiết khẩu giấy tờ có giá
Trong đời sống kinh tế, nhiều chủ thể được pháp luật cho phép phát hành các
giấy tờ cỏ giá để huy động vốn. Ví dụ: công ty cổ phần được quyền phát hành cổ
phiếu, trái phiếu; ngân hàng thưomg mại có thể phát hành chứng chỉ tiền gửi; thưcmg
nhân có quyền phát hành hối phiếu...Theo Khoản 8 Điều 6 Luật Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam 2010 thì giấy tờ có giá là “bằng chứng xác nhận nghĩa vụ trả nợ giữa tố
chức phát hành giấy tờ có giá với người sở hữu giấy tờ có giả trong một thời hạn nhất
định, điều kiện trả lãi và các điều kiện khác”.
Theo đó, kể từ khi xác lập quyền sở hữu đối với giấy tờ có giá, chủ sở hữu cần
phải chờ đến hạn thanh toán mới thu hồi được lượng tiền đã bỏ ra. Tuy nhiên, có một
giải pháp khác có thể nhanh chóng thu hồi đó là chuyển nhượng quyền sở hữu giấy tờ
có giá cho chủ thể khác trước hạn thanh toán. Nếu bên mua giấy tờ có giá là TCTD thì
được gọi là cấp tín dụng bằng hình thức chiết khấu giấy tờ có giá.
Chiết khấu theo Luật Các tổ chức tín dụng 2010 là “việc mua có kỳ hạn hoặc
mua cỏ bảo lim quyền truy đòi các công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác của
người thụ hưởng trước khi đến hạn thanh toán ”
Phần bài này, người viết chỉ đề cập đến chiết khấu hối phiếu, hình thành dựa
trên quan hệ thưomg mại. Như đã biết, trong kinh doanh, việc mua bán chịu giữa các
đối tác gần như đã trở thành một “thói quen thưcmg mại”. Một mặt nó thúc đẩy quá
Nghiệp
vụ
ngân hàng thương mại, Trường Đại học kinh tế TP.HCM, NXB
2009,Pháp luật về hoạt động bao thanh toán- Thực trạng và giải pháptrang 108.
Luận văn tốt nghiệpTP.HCM,
Stf đồ 1.2 Quy trình chiết khấu hối phiếu10
Ngân hàng chiết khấu
Thanh
Người thụ hưởng
hối phiếu
(4)