Quy định pháp luật việt nam về quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước - Pdf 33

m
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
— £0^03 —
KHOA LUẬT

Luận văn tốt nghiệp
Khóa 31 (2005 - 2009)
Đề tài:
QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM
YỀ QUAN LÝ Dự TRỮ NGOẠI HỐI
NHÀ NƯỚC

Cán bô hướng dẫn
Lê Huỳnh Phương Chinh

Sinh viên thưc hiên
Lê Nguyễn Nhu
MSSV: 5054860
Lớp: Luật Thương mại 2K31

cần Thơ, tháng 4/2009


MỤC LỤC

Trang
LỜI NÓI ĐẦU................................................................................................1
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI...................................................................................1
2........................................................................................................................... M
ỤC TIÊU NGHIÊN cứu VÀ PHẠM VI NGHIÊN cứu......................................2

2.3.3. QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ Dự TRỮ NGOẠI HỐI NHÀ


Đe tài: Quy định Pháp luật Việt Nam về quản lý dự trữ ngoại hối Nhà nước

LỜI NÓI ĐÀU
— £0*03 —
1. LÝ DO CHỌN ĐÈ TÀI.
Trong bối cảnh các nền kinh tế trên thế giới ngày càng tham gia mạnh mẽ
vào thưomg mại và đầu tư quốc tế, quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước là một mảng
chính sách không thể thiếu được, bởi hội nhập quốc tế đem lại nhiều cơ hội nhưng
cũng đặt ra nhiều thách thức và luôn tiềm ẩn những rủi ro do những thay đổi của
môi trường kinh tế thế giới. Đi đôi với hội nhập và mở cửa, các nước cần tiến tới
hoàn thiện hệ thống quản lý ngoại hối để đảm bảo an ninh tài chính quốc gia, nghĩa
là đảm bảo cho hệ thống tài chính ổn định lâu dài, có khả năng tiếp nhận sự di
chuyển các luồng vốn quốc tế trên cơ sở các luồng vốn được thu hút một cách họp
lý, sử dụng hiệu quả và đảm bảo an toàn khả năng hoàn trả kết hợp với sự đảm bảo
quốc gia có một cán cân thanh toán quốc tế bền vững, tỷ giá hối đoái ổn định và dự
trữ ngoại hối đáp ứng yêu cầu dự phòng kinh tế.
Kể từ khi thực hiện chính sách mở của nền kinh tế, chính sách quản lý ngoại
hối của Việt Nam đã có những điều chỉnh phù hợp với những thay đổi của môi
trường kinh tế trong và ngoài nước. Quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước theo định
hướng thị trường dưới sự điều tiết của Nhà nước. Bước đầu đã tạo được khung pháp
lý cơ bản cho hoạt động quản lý dự trữ ngoại hối. Trong giai đoạn mở cửa và hội
nhập kinh tế, khi hoạt động luân chuyển các luồng vốn quốc tế được thực hiện ngày
càng đa dạng và linh hoạt với những gì đạt được ban đầu sẽ là một nền tảng tốt cho
công tác quản lý dự trữ ngoại hối sau này. Công tác quản lý ngày càng được quan
tâm đúng mức bằng việc phân cấp quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước. Tăng cường
tính thanh khoản. Việc điều hòa nguồn ngoại hối của Quỹ dự trữ ngoại hối được
thông suốt theo đúng quy định pháp luật, đảm bảo can thiệp kịp thời thị trường

nhà nước. Trên cơ sở phân tích điều kiện hình thành cơ cấu quỹ, việc sử dụng cũng
như quản lý chúng. Bên cạnh đó, chỉ ra các thực trạng và nêu các phương hướng
giải quyết nhằm hoàn thiện.
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu.
Trong luận văn chủ yếu được sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp phân tích luật viết để làm rõ các quy định của pháp luật hiện hành,
phương pháp phân tích đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật trong lĩnh vực quản lý
dự trữ ngoại hối.
- Phương pháp tổng họp nhằm nhìn nhận vấn đề một cách toàn diện.
CBHD: Lê Huỳnh Phương Chinh

2

SVTH: Lê Nguyễn Nhu


Đe tài: Quy định Pháp luật Việt Nam về quản lý dự trữ ngoại hối Nhà nước

do hạn chế về khả năng và thời gian, chắc chắn đề tài không thể không tránh khỏi
những sơ suất. Người viết mong nhận được ý kiến đóng góp của quý thầy, cô và bạn
đọc để đề tài được hoàn thiện hơn.

CBHD: Lê Huỳnh Phương Chinh

3

SVTH: Lê Nguyễn Nhu


Đe tài: Quy định Pháp luật Việt Nam về quản lý dự trữ ngoại hối Nhà nước

CBHD: Lê Huỳnh Phương Chinh
4


1 GS,TS Lê Văn Tư, Thi trường hối đoái, NXB Thống kê, 2003
Đe tài: Quy định Pháp luật Việt Nam về quản lý dự trữ ngoại hối Nhà nước

quy định tài sản nào sẽ là ngoại hối. Nhìn chung các nhà luật học cho rằng ngoại hối
dùng để chỉ các phương tiện có giá trị dùng để thanh toán giữa các quốc gia. Tùy
theo quan niệm của mỗi quốc gia, khái niệm ngoại hối không giống nhau, về tổng
thể ngoại hối gồm các loại sau1:
- Ngoại tệ: Ngoại tệ là đồng tiền của nước ngoài (như USD, GBP, JPY...)
hoặc đồng tiền chung của một nhóm nước (như EURO). Ngoại tệ bao gồm ngoại tệ
tiền mặt và ngoại tệ tín dụng. Ngoại tệ trong khi lưu thông thanh toán quốc tế tồn tại
dưới hình thức các phương tiện lưu thông tín dụng, ví dụ như Sec, hối phiếu, điện
chuyển tiền và thư chuyển tiền. Các phương tiện thanh toán này thể hiện chủ yếu
các quan hệ giữa các ngân hàng. Các ngân hàng chuyển chúng cho các ngân hàng
đại lý của mình ở nước ngoài. Nghiệp vụ thanh toán được thực hiện bằng cách
chuyển một số tiền từ tài khoản của ngân hàng ủy thác vào tài khoản của ngân hàng
nhận ủy thác. Sau đó số tiền này được ghi vào tài khoản của người hưởng lợi quy
định trên các phương tiện thanh toán đó.
Ngoại tệ tín dụng (các phương tiện lưu thông tín dụng) được chuyển nhượng,
mua bán từ tay người này sang tay người khác bằng cách chuyển giao không cần ký
chuyển nhượng hay ký chuyển nhượng và người thụ hưởng phương tiện đó là người
chủ hợp pháp của phương tiện đó.
- Các phương tiện thanh toán quốc tế ghi bằng ngoại tệ: Hối phiếu, lệnh
phiếu, Séc.. .Phàn lớn các phương tiện thanh toán này hình thành trên cơ sở của sự
phát triển tín dụng thương mại và tín dụng ngân hàng. Các phương tiện này không
có giá trị nội tại của nó, mà nó chỉ là dấu hiệu của tiền tệ, phần lớn là do kết quả của
họp đồng mua bán hàng hóa và các nghiệp vụ của ngân hàng tạo ra.

chuyển vào và chuyển ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc được sử dụng trong thanh
toán quốc tế.
Với cách tiếp cận định nghĩa ngoại hối theo phương pháp liệt kê, các nhà làm
luật đã đưa ra hàng loạt các tài sản nào được xem là ngoại hối, nó giúp chúng ta dễ
nhận biết và tránh nhầm lẫn giữa các loại ngoại hối với nhau. Sự phát triển của nền
kinh tế hiện đại, luôn có những đối tượng mới được xem là ngoại hối. Với cách thức
liệt kê và các khoản dự phòng như những phương tiện thanh toán khác, giấy tờ có
giá khác,..thì việc một loại ngoại hối mới xuất hiện là điều không đáng lo ngại,
chúng ta có thể ban hành thêm những văn bản kèm theo mà không làm mất đi tính
hiệu lực của văn bản cũ, đồng thời đảm bảo được tính khả thi của luật luôn theo sát
thực tiễn áp dụng.

CBHD: Lê Huỳnh Phương Chinh

6

SVTH: Lê Nguyễn Nhu


Đe tài: Quy định Pháp luật Việt Nam về quản lý dự trữ ngoại hối Nhà nước

dụng trong các giao dịch mua bán và thanh toán quốc tế, nếu không sẽ không được
thừa nhận.
Tóm lại, ngoại hối là ngoại tệ, những phưomg tiện thanh toán thể hiện dưới
dạng ngoại tệ hoặc các khoản phải thu, phải đổi bằng ngoại tệ, kể cả vàng theo tiêu
chuẩn quốc tế. Ngoại hối là một phần tài sản quốc gia, là phương tiện thanh toán
quan trọng trong các giao dịch thương mại và đàu tư quốc tế. Như vậy, sự hình
thành ngoại hối xuất phát từ sự đa dạng về loại hình tiền tệ - vật ngang giá chung
trong hoạt động thương mại. Thị trường ngoại hối là nơi diễn ra các hoạt động ngoại
hối, thị trường ngoại hối sẽ không tồn tại trong trường hợp chỉ có một đồng tiền



3 Khoản ld Điều 4 Nghi định số 63/1998/NĐ-CP về quản lý ngoại hối, ngày 17/8/1998
4 Khoản 1 ĐiềuĐe tài: Quy định Pháp luật Việt Nam về quản lý dự trữ ngoại hối Nhà nước 3 Nghi định
số
160/2006/NĐ-CP quy
định
chi
tiết
thi
hành
Pháp
lệnh
ngoại
hối,
ngày
28/12/2006.
5 Đại học Luật

Nội,
Giáo
trình
Luật ngân
hàng,
NXBtrường ngoại hối sẽ xuất hiện. Điều này đã nói lên rằng, thị trường ngoại hối là thị Công
an
Nhân
dân,
2005
trường có tính toàn cầu.

8

SVTH: Lê Nguyễn Nhu


6 Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Ngân hàng, NXB Công an Nhân dân, 2005
7 Đại từ điển
tiếng Việt, NXB
Văn hóa thôngĐe tài: Quy định Pháp luật Việt Nam về quản lý dự trữ ngoại hối Nhà nước tin, 2005

khác (kim loại quý, phương tiện thanh toán...) có thể chuyển đổi thành ngoại tệ
mạnh.
Ba là, thị trường ngoại hối ở một quốc gia bao giờ cũng chịu ảnh hưởng sâu
sắc của tình hình kinh tế, chính trị, xã hội trong nước và quốc tế. Với nền kinh tế
phát triển, các hoạt động xuất nhập khẩu được đẩy mạnh làm cho thị trường mua
bán ngoại tệ diễn ra sôi động hơn, đây là một tín hiệu tốt cho thị trường hối đoái nói
riêng cũng như thị trường ngoại hối nói chung. Mặc khác, chính trị ổn định và các
chính sách xã hội phù hợp sẽ thu hút được một lượng lớn ngoại tệ đầu tư từ nước
ngoài vào, sự chuyển dịch ồ ạt lượng vốn này sẽ gây ra tình trạng thừa ngoại tệ trên
thị trường và điều đó cũng ảnh hưởng đến thị trường ngoại hối trong nước như tỷ
giá hối đoái biến đổi.
Mặc khác, để hiểu rõ hơn khái niệm thị trường ngoại hối, cần phải phân biệt
sự khác nhau giữa khái niệm “thị trường ngoại hối” với khái niệm “thị trường hối
đoái”, về phương diện lý thuyết, hai khái niệm này là khác nhau. Sự khác nhau này
thể hiện ở chổ, thị trường ngoại hối là nơi diễn ra các loại giao dịch khác nhau về
ngoại hối như giao dịch đầu tư tài chính bằng ngoại hối, giao dịch vay-cho vay
ngoại hối, giao dịch bảo lãnh bằng ngoại hối, giao dịch mua bán ngoại hối (trong đó
đối tượng của tất cả các loại giao dịch này được hiểu bao gồm các loại ngoại hối
khác nhau như ngoại tệ, giấy tờ có giá bằng ngoại tệ, vàng tiêu chuẩn quốc tế,...).
Còn thị trường hối đoái chỉ được hiểu là nơi diễn ra loại hình giao dịch duy nhất là

nghĩa dự trữ ngoại hối là toàn bộ tài sản bằng ngoại hối, sẵn sàng sử dụng để can
thiệp thể hiện trên bảng cân đối tiền tệ của Ngân hàng Trung ương. Như vậy, ta có
thể hiểu dự trữ ngoại hối nhà nước là dự trữ ngoại hối, đối với các nước khác nhau
thì sẽ có những tên gọi khác nhau, nhưng hàu hết theo thông lệ quốc tế thì khi nói
đến dự trữ ngoại hối là người ta sẽ nghĩ đến ngay đó là dự trữ ngoại hối nhà nước
của một quốc gia. Tính chất quan trọng của dự trữ ngoại hối nhà nước biểu hiện
thông qua việc dự trữ ngoại hối sử dụng trong các trường hợp khẩn cấp như chiến
tranh, thảm họa mang tính quốc gia, hay trong trường hợp xảy ra khủng hoảng tài
chính. Khi chu chuyển vốn gặp khó khăn khối dự trữ ngoại hối sẽ được sử dụng
nhằm duy trì tính thanh khoản của thị trường ngoại hối, hạn chế những tác động tiêu
cực xảy ra như mất giá đồng nội tệ, sụp đổ hệ thống ngân hàng. Mỗi nước đều có
khối dự trữ ngoại hối, lớn hay nhỏ tùy theo khả năng của nền kinh tế nước đó có thể
tạo lập được nhiều hay ít. Nó là kết quả của tổng số thu và chi ngoại tệ (kể cả vàng)
của một nước trong một thời gian nhất định, thường là một năm. Dự trữ ngoại hối
tăng khi thu lớn hơn chi điều đó có được khi Ngân hàng Trung ương mua bán ngoại
hối. Ngân hàng Trung ương mua ngoại hối, khối tiền tệ tăng lên và ngược lại.
Đối với pháp luật Việt Nam, ngoài khái niệm dự trữ ngoại hối nhà nước còn
có thêm khái niệm dữ trữ quốc tế. Dự trữ quốc tế là dự trữ ngoại hối nhà nước do
Ngân hàng Nhà nước quản lý và dự trữ ngoại hối của các tổ chức tín dụng được
phép hoạt động ngân hàng9.
Theo Điều 3 Quy chế tổ chức và thực hiện những nhiệm vụ về quản lý dự
quản lý ngoại hối phù hcrp tiến trình hội nhập kinh tế thế giói, NXB Thống
kê,2003
"Điều 33 Pháp lệnh số 28/2005/PL-UBTVQH11 ngày 13/12/2005 về Ngoại hối.
SVTH: Lê Nguyễn Nhu
CBHD: Lê Huỳnh Phương Chinh
10


12 Điều 1 Nghị định số 86/1999/NĐ-CP ngày 30/8/1999

ngân hàng nhà nước quản lý. Quỹ điều hòa ngoại tệ có hai nhiệm vụ cơ bản là sử
dụng ngoại tệ để bình ổn tỷ giá đồng Việt Nam và đô la Mỹ. Ngoài ra, Quỹ điều hòa
ngoại tệ còn có nhiệm vụ đáp ứng một số nhu cầu chi tiêu ngoại tệ thanh toán nhập
khẩu theo kế hoạch của nhà nước và một số nhu cầu chi tiêu khác khi cần thiết. Khi
thị trường ngoại tệ liên ngân hàng ra đời năm 1994, Ngân hàng Nhà nước đã mua
được lượng ngoại tệ nhiều hơn từ thị trường. Điều này thể hiện sự phát triển về quy
mô của thị trường ngoại hối, thông qua đó thị trường tiền tệ liên ngân hàng góp
phần tăng nhanh số dư của Quỹ điều hòa tiền tệ. Đến khi Nghị định số 86/1999/NĐCP về quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước được ban hành, đánh dấu bước thay đổi
quan trọng trong công tác quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước để quản lý theo thông
CBHD: Lê Huỳnh Phương Chinh

11

SVTH: Lê Nguyễn Nhu


Đe tài: Quy định Pháp luật Việt Nam về quản lý dự trữ ngoại hối Nhà nước

ngoài vào Việt Nam. Dự trữ ngoại hối nhà nước khi được đặt dưới sự quản lý của
Ngân hàng Trung ương, cơ quan chức năng của Chính phủ có nhiệm vụ trọng yếu là
hoạch định và điều hành chính sách tiền tệ quốc gia, hoạt động của nó có tác động
và ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đến sự phát triển nền kinh tế, cũng góp phần thực hiện
chính sách tiền tệ, ổn định giá trị đồng tiền thông qua các công cụ của chính sách
tiền tệ quốc gia. Ví dụ, để đồng đô la giảm giá Ngân hàng Nhà nước sẽ thông qua
nghiệp vụ thị trường mở bán đô la ra thị trường, đổi đồng đô la lấy các ngoại tệ
khác “làm tràn ngập thị trường bằng đô la” sẽ gây áp lực giảm giá đồng đô la, để
thực hiện được điều này thì Quỹ dự trữ ngoại hối là nơi cung cấp ngoại tệ cho Ngân
hàng Nhà nước thực hiện các mục tiêu của mình.
1.2. ĐẶC ĐIỂM CỦA Dự TRỮ NGOẠI HỐI NHÀ NƯỚC
Trong bối cảnh toàn càu hóa, Quỹ dự trữ ngoại hối nhà nước có ý nghĩa quan

hối, thường mục tiêu lợi nhuận mâu thuẩn với hai mục tiêu trên bởi vì các kênh đầu
tư lãi suất cao thì hệ số rủi ro cũng cao, không đảm bảo được tính an toàn và thanh
khoản.
Dự trữ ngoại hối nhà nước thật sự cần thiết đối với mỗi quốc gia. Bản chất
kinh tế của nó có ảnh hưởng nhất đỉnh đến việc đỉều hành thị trường ngoại hối. Hầu
hết các nước đều muốn tăng cường lượng dự trữ ngoại hối. Trên thế giới các nước
có dự trữ ngoại hối lớn tập trung ở châu Á như Trung Quốc, Nga, Ấn Độ.. .Với dự
trữ ngoại hối lớn là một công cụ rất quan trọng nhằm phòng ngừa rủi ro khi xảy ra
thiếu thanh khoản của thị trường tài chính toàn cầu. Điển hình, các nước tự do hóa
các tài khoản vốn, một khi có sự đảo chiều đột ngột của các luồng vốn ngắn hạn
như luồng vốn đầu tư gián tiếp thì phải cần một lượng dự trữ ngoại hối lớn để sẵn
sàng can thiệp. Ngoài ra, dự trữ ngoại hối lớn cũng nhằm phòng ngừa chu kỳ suy
thoái kinh tế có thể xảy ra thường kỳ và chống đỡ sự bất ổn của thị trường tài chính
trong nước như khang hiếm ngoại tệ để nhập khẩu những hàng hóa thiết yếu khi
trong nước không sản xuất được. Bên cạnh đó, dự trữ ngoại hối lớn sẽ đảm bảo khả
năng thanh toán nợ nước ngoài khi thâm hụt cán cân thanh toán quốc tế một khi nợ
nước ngoài ngắn hạn của quốc gia đó ở mức cao, nếu không có dự trữ ngoại hối đủ
lớn thì việc huy động vốn sẽ gặp rất nhiều khó khăn nếu được thì cũng mất rất nhiều
chi phí do phải vay nợ từ nước ngoài với lãi suất cao.
Tuy nhiên, không phải mọi quốc gia đều có thể tạo cho mình một lượng dự
trữ ngoại hối lớn mà tùy thuộc vào nền kinh tế của nước đó, mặt khác nếu mức dự
trữ ngoại hối quá lớn sẽ làm phát sinh chi phí cho việc nắm giữ dự trữ ngoại hối. Vì
thế, các quốc gia hiện nay đều quan tâm đến việc xác định mức dự trữ ngoại hối vừa
đủ, phù họp với quy mô của nền kinh tế. Thông thường, mức dự trữ ngoại hối vừa
đủ được xác định theo nguyên tắc: mức dự trữ ngoại hối của một nước tương đương
từ ba đến sáu tháng nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ của nước đó. Có ba tiêu chí
đánh giá quy mô dự trữ ngoại hối:
- Tỷ lệ giữa dự trữ ngoại hối và giá trị một tuần nhập khẩu trong năm tiếp theo.

CBHD: Lê Huỳnh Phương Chinh

Thông qua đặc điểm của dự trữ ngoại hối nhà nước ta thấy được tầm quan
trọng của nó đối với nền kinh tế nói riêng cũng như sự phát triển của đất nước. Hầu
hết các quốc gia đều có những chính sách phù hợp nhằm duy trì và quản lý dự trữ
ngoại hối nhà nước nhằm phục vụ các mục tiêu cơ bản: Thực hiện chính sách tiền tệ
và chính sách tỷ giá, duy trì tính thanh khoản của thị trường ngoại hối, lòng tin và
khả năng đảm bảo thanh toán nghĩa vụ nợ nước ngoài.. .Thiết nghĩ nếu không quản
lý dự trữ ngoại hối nhà nước thì sẽ không thực hiện được các mục tiêu cơ bản trên,
cho nên quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước cũng không kém phàn quan trọng. Thông
qua các chính sách về tiền tệ và tỷ giá sẽ làm rõ hơn tác dụng của vấn đề này.

CBHD: Lê Huỳnh Phương Chinh

14

SVTH: Lê Nguyễn Nhu


Đe tài: Quy định Pháp luật Việt Nam về quản lý dự trữ ngoại hối Nhà nước

Ở một bình diện khác, việc điều hành chính sách tiền tệ trên phương diện vĩ
mô phải đối mặt với một thực tế khác khi có những biến động lớn trên thị trường
thế giới, nhất là trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa, khi mà bất cứ nền kinh tế
nào cũng đều có thể bị tác động bởi các diễn biến khách quan, sự biến động của tỷ
giá, mối quan hệ nhân quả giữa biến số tiền tệ và lạm phát, sự chuyển dịch của các
luồng vốn.
Nguyên tắc quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước phải đảm bảo an toàn theo
nguyên tệ hoặc hiện kim, bảo đảm tính thanh khoản cao sẵn sàng đáp ứng các nhu
cầu ngoại hối khi cần thiết. Đối với chính sách điều hành tiền tệ của Việt Nam
những năm gần đây đã có sự thay đổi lớn theo hướng chuyển dần sang điều tiết tiền
tệ gián tiếp, duy trì ổn định tiền tệ, góp phàn kìm chế lạm phát nhưng luôn đóng vai


Trong nền kinh tế mở, quá trình quốc tế hóa và toàn cầu hóa đời sống kinh tế
làm cho tính liên kết và phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế trên toàn cầu ngày
càng chặt chẽ. Do vậy các chính sách về quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước ngày
càng trở nên quan trọng và đầy thách thức, “để đảm bảo cân đối vĩ mô, hạn chế tác
động sự chuyển dịch của các luồng vốn đến diễn biến kinh tế tiền tệ trong nước,
việc thực hiện chính sách tiền tệ tin cậy, có tính minh bạch và cùng với việc quản lý
ngoại hối dự trữ nhà nước một cách hiệu quả và áp dụng chính sách tỷ giá phù hợp
có ý nghĩa vô cùng quan trọng.”15

CBHD: Lê Huỳnh Phương Chinh

16

SVTH: Lê Nguyễn Nhu


16 http://sieiuĩma.com/archive/index.php?t-2340.htm
Đe tài: Quy định Pháp luật Việt Nam về quản lý dự trữ ngoại hối Nhà nước

CHƯƠNG 2
NỘI DUNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÈ
QUẢN LÝ Dự TRỮ NGOẠI HÓI NHÀ NƯỚC

2.1. CHỦ THẺ QUÀN LÝ Dự TRỮ NGOẠI HỐI NHÀ NƯỚC
Quản lý nhà nước về kinh tế nói chung và quản lý nhà nước về ngoại hối nói
riêng là hoạt động chức năng thuộc thẩm quyền của các cơ quan hành pháp. Theo
báo cáo của Quỹ tiền tệ quốc tế IMF (2007) về cơ quan quản lý và sở hữu dự trữ
ngoại hối, có bốn hình thức quản lý:
-


17 Khoản 1 Điều 49 Nghị định số 160/2006/NĐ-CP quy định chi tiét thi hành Pháp lệnh ngoại hối.
Đe tài: Quy định Pháp luật Việt Nam về quản lý dự trữ ngoại hối Nhà nước

Ngân hàng Nhà nước thì Bộ tài chính cũng góp phần quản lý nguồn dự trữ này
thông qua các quy định riêng, thuộc lĩnh vực quản lý của mình.
2,1,1, CHÍNH PHỦ
Theo quy định pháp luật về ngoại hối17: Chính phủ thống nhất quản lý nhà
nước về ngoại hối. Quản lý Nhà nước về ngoại hối là quản lý tất cả những gì liên
quan đến ngoại hối bao gồm quản lý nhà nước về hoạt động ngoại hối: Giao dịch
vốn, giao dịch vãng lai, sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam, hoạt động cung
ứng dịch vụ ngoại hối, quản lý xuất nhập khẩu vàng; quản lý dự trữ ngoại hối nhà
nước và xử lý vi phạm về ngoại hối và hoạt động ngoại hối (thuộc lĩnh vực nghiên
cứu của Luật Hành chính).
Quản lý hoạt động ngoại hối và dự trữ ngoại hối nhà nước là những lĩnh vực
quan trọng nhất trong các chiến lược của Chính phủ về chính sách ngoại hối. Chính
phủ quản lý ngoại hối một cách thống nhất trên cơ sở phân công, phân nhiệm cho
các bộ ngành có liên quan. Giữa hoạt động ngoại hối và dự trữ ngoại hối nhà nước
có những quy định pháp luật cụ thể về trách nhiệm và quyền hạn của Chính phủ.
Riêng đối với dự trữ ngoại hối nhà nước, Thủ tướng Chính phủ được phân định rõ
thẩm quyền trong vấn đề quản lý dự trữ ngoại hối.
Với vai trò là người đứng đầu và điều hành cơ quan hành pháp cao nhất,
những quyết định hay chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ sẽ có ảnh hưởng rất quan
trọng đối với chính sách tiền tệ của quốc gia nói chung cũng như đối với dự trữ
ngoại hối nhà nước nói riêng. Theo đó, Thủ tướng Chính phủ sẽ có thẩm quyền
quyết định mức dự trữ ngoại hối nhà nước dự kiến hàng năm do Thống đốc Ngân
hàng Nhà nước trình và hạn mức ngoại hối của Quỹ bình ổn tỷ giá và giá vàng; khi
có biến động lớn về tỷ giá vượt quá tầm kiểm soát của Quỹ bình ổn tỷ giá và giá
vàng Thủ tướng Chính phủ sẽ quyết định điều chuyển ngoại hối từ Quỹ dự trữ ngoại
hối sang trên cơ sở đề nghị của Thống đốc nhằm đảm bảo kiểm soát được thị

số
653
ngày
17/5/2001
của Thống đốc 2.1.2. NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC
Ngân
hàng
Nhà
nước)
Ở hầu hết các nền kinh tế, Ngân hàng Trung ương thường giữ vai trò trung
tâm, tác động lên toàn bộ hoạt động tín dụng, ký thác, tiết kiệm của ngân hàng trung
gian và các định chế tài chính, trong đó có nội dung về dự trữ ngoại hối nhà nước.
Đối với Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước vừa có tư cách pháp lý của cơ quan
quản lý nhà nước chuyên ngành, vừa có tư cách pháp lý của Ngân hàng trung ương
cho nên chức năng của nó cũng được thể hiện trên cả hai phương diện. Quản lý dự
trữ ngoại hối nhà nước là một phần trong nhiệm vụ và quyền hạn mà nhà nước giao
cho Ngân hàng Nhà nước.
Theo Luật Ngân hàng Nhà nước:
“Ngân hàng nhà nước quản lý dự trữ ngoại hoi nhà nước của nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam theo quy định của Chính phủ nhằm thực hiện chính sách
tiền tệ quốc gia, bảo đảm khả năng thanh toán quốc tế, bảo toàn dự trữ ngoại hoi
nhà nước18. ”
Như vậy, mục tiêu Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quản lý dự trữ ngoại hối
nhà nước là nhằm thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia theo sự chỉ đạo của Chính
phủ, bảo đảm uy tín của Việt Nam trong thanh toán nợ quốc tế cũng như điều hòa
cán cân thương mại và bảo đảm an toàn dự trữ ngoại hối nhà nước.
Đe thực hiện tốt nhiệm vụ của mình, việc quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước
tại Ngân hàng Nhà nước được phân giao cụ thể cho những chủ thể bao gồm Thống
đốc Ngân hàng Nhà nước, Ban điều hành quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước, các cơ
quan chuyên trách trực thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

đầu tư ngắn hạn trung hạn và dài hạn.
Quyết định tiêu chuẩn, hạn mức đầu tư dự trữ ngoại hối nhà nước theo tờ trình
của Vụ quản lý ngoại hối và Sở giao dịch nhằm đảm bảo sử dụng dự trữ ngoại hối
nhà nước một cách tối ưu nhất. Ngoài ra, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước còn có
thẩm quyền duyệt các báo cáo về tình hình thực hiện việc quản lý dự trữ ngoại hối
nhà nước theo từng thời kỳ trình Thủ tướng Chính phủ quyết định, báo cáo tình hình
thực tế sử dụng ngoại hối nhà nước như đầu tư, tạm ứng cho ngân sách nhà nước...
và các biến động về dự trữ ngoại hối nhà nước trình Chính phủ và ủy ban thường
vụ Quốc hội thường kỳ hoặc khi cần thiết.
Các quyết định cũng như các phương án can thiệp thị trường ngoại hối trước
khi Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ký, đều dựa trên cơ sở tham mưu của các cơ
quan giúp việc, một trong số đó là Ban điều hành quản lý dự trữ ngoại hối nhà
nước.
2.I.2.2. Ban điều hành quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước
CBHD: Lê Huỳnh Phương Chinh

20

SVTH: Lê Nguyễn Nhu


20 Điều 4 Quy chế hoạt động của Ban điều hành quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước (Ban hành kèm theo
Quyết định soĐe tài: Quy định Pháp luật Việt Nam về quản lý dự trữ ngoại hối Nhà nước
1278/2001/QĐNHNN ngày
09/10/2001)
21 Điều 18 Quy
chế
tổ
chức thực hiện
những

nhà nước (ban
theo
Quyếtđịnh việc trích tạm ứng từ Quỹ dự trữ ngoại hối cho Ngân sách Nhà nước theo định
số
653
ngày
17/5/2001
của Thống đốcquyết định của Thủ tướng Chính phủ; Quyết định việc xuất nhập khẩu vàng tiêu Ngân
hàng
Nhà
nước)
23 Điều 4 Quychuẩn quốc tế thuộc dự trữ ngoại hối nhà nước và các phương án can thiệp thị chế
hoạt động củatrường ngoại hối trong nước. Đồng thời điều hành việc thực hiện các nhiệm vụ về Ban
điều
hành
quản lý
dự trữ ngoạiquản lý dự trữ ngoại hối nhà nước cũng là chức năng của Ban điều hành.
hối nhà
nước ( Ban
hành
kèm
theo
Quyết định so
Cơ cấu Ban điều hành quản lý Dự trữ ngoại hối nhà nước gồm năm thành NHNN
1278/2001/QĐngày
viên: một Lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước làm Trưởng Ban, Vụ trưởng Vụ Quản lý
09/10/2001)
ngoại hối, Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ, Giám đốc Sở Giao dịch và một Thư ký
Ban. Trưởng Ban điều hành có thẩm quyền quyết định cơ cấu của quỹ bình ổn tỷ
giá và giá vàng; cơ cấu quỹ dự trữ ngoại hối theo sự ủy quyền của Thống đốc Ngân

của Chính phủ về quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước.
Tùy từng lĩnh vực quản lý mà các Vụ, Sở sẽ có những thẩm quyền cụ thể.
- về quản lý quỹ dự trữ ngoại hối, Vụ Quản lý ngoại hối chủ trì, phối hợp với
Sở Giao dịch để đánh giá cơ cấu dự trữ hiện có và xây dựng cơ cấu quỹ dự trữ ngoại
hối cho phù hợp với tình hình mới. Trong trường hợp có biến động trên thị trường
ngoại hối trong và ngoài nước, Sở Giao dịch có nhiệm vụ báo cáo Trưởng Ban điều
hành, có thông báo gửi Vụ Quản lý ngoại hối để xem xét, đề xuất phương án điều
chỉnh cơ cấu quỹ dự trữ ngoại hối trình Thống đốc quyết định.
Vụ Quản lý ngoại hối đề xuất việc điều chuyển ngoại hối từ Quỹ dự trữ ngoại
hối sang Quỹ bình ổn tỷ giá và giá vàng trong trường hợp số ngoại hối của Quỹ
bình ổn tỷ giá và giá vàng không đủ đáp ứng yêu cầu can thiệp, Sở Giao dịch sẽ
thực hiện việc điều chuyển theo Quyết định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.
Vụ Quản lý ngoại hối dự thảo Quyết định của Thống đốc Ngân hàng Nhà
Nước về việc trích tạm ứng từ Quỹ dự trữ ngoại hối cho ngân sách Nhà nước trình
Thống đốc ký ban hành. Sở giao dịch trích tạm ứng từ Quỹ dự trữ ngoại hối cho
Ngân sách Nhà nước theo Quyết định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.
- về quản lý Quỹ bình ổn tỷ giá và giá vàng, Vụ Quản lý ngoại hối xây dựng
cơ cấu Quỹ bình ổn tỷ giá và giá vàng. Bên cạnh đó, Vụ Quản lý ngoại hối xác định
khối lượng vàng tiêu chuẩn quốc tế cần xuất, nhập khẩu trình Thống đốc quyết
CBHD: Lê Huỳnh Phương Chinh

22

SVTH: Lê Nguyễn Nhu


24 Điều 5 19 Quy chế tổ chức thực hiện những nhiệm vụ về quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước (ban hành kèm
theo
Quyết
định số 653 ngàỵ

để tổ chức thực hiện quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước theo các qui định pháp luật.
Và thực hiện việc hạch toán các nghiệp vụ phát sinh liên quan đến dự trữ ngoại hối
nhà nước theo qui định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước25.
2,1,3. Bộ TÀI CHÍNH
Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước đều là các cơ quan Nhà nước thuộc
quyền quản lý của Chính phủ, mỗi cơ quan sẽ có chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn
riêng. Việc nắm giữ ngoại hối trong cơ quan nào, suy cho cùng cũng thuộc sở hữu
của dự trữ ngoại hối nhà nước, sẽ được điều chuyển qua lại khi có quyết định của
Thủ tướng Chính phủ. Theo quy định của pháp luật hiện hành thì Bộ Tài chính được
Chính phủ giao quản lý một số nguồn ngoại hối thuộc sở hữu Nhà nước như: Quỹ
ngoại tệ tập trung được thành lập theo quyết định số 93/2000, quỹ này được hình

CBHD: Lê Huỳnh Phương Chinh

23

SVTH: Lê Nguyễn Nhu



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status