Phân tích và bình luận quy định pháp luật Việt Nam về thi hành và hủy phán quyết trọng tài. - Pdf 12

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
NỘI DUNG
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1
NỘI DUNG
I. Khái niệm phán quyết trọng tài thương mại
Trọng tài thương mại (TTTM) là một phương thức giải quyết tranh chấp thương mại,
theo đó các bên tranh chấp thỏa thuận đưa tranh chấp ra trước một Hội đồng trọng tài vụ
việc hoặc Trung tâm trọng tài để giải quyết và được tiến hành theo trình tự thủ tục quy
định của pháp luật trọng tài thương mại.
Khi các bên tranh chấp có thỏa thuận trọng tài về việc giải quyết tranh chấp, Trọng tài
sẽ thụ lý để giải quyết theo một trình tự, thủ tục mà pháp luật về TTTM quy định. Kết thúc
quá trình giải quyết tranh chấp (gọi là tố tụng trọng tài), TTTM sẽ đưa ra quyết định giải
quyết cuối cùng gọi là phán quyết. Phán quyết được hiểu là “ra một quyết định có giá trị
pháp lý ai cũng phải thực hiện” hay là “quyết định để mọi người phải tuân theo”. Có thể
hiểu rằng, phán quyết là kết quả cuối cùng của một trình tự, thủ tục pháp lý theo quy định
của pháp luật. Khi xảy ra tranh chấp, các bên có quyền lựa chọn phương thức giải quyết
khác nhau, đó có thể là Tòa án, Trọng tài hay thương lượng, hòa giải. Dù lựa chọn phương
thức giải quyết nào thì cuối cùng, điều mà các bên tranh chấp mong muốn nhận được là kết
quả giải quyết. Khoản 10 Điều 3 Luật TTTM năm 2010 quy định: “ Phán quyết trọng tài
là quyết định của Hội đồng TTTM giải quyết toàn bộ vụ tranh chấp và chấm dứt tố tụng
trọng tài buộc các bên tranh chấp phải thực hiện”.
Phán quyết trọng tài thương mại (sau đây gọi tắt là Phán quyết trọng tài) mang một số
đặc điểm sau:
Một là, phán quyết Trọng tài là quyết định giải quyết toàn bộ vụ tranh chấp và chấm
dứt tố tụng trọng tài của Hội đồng trọng tài.
Quá trình giải quyết toàn bộ vụ tranh chấp của Hội đồng trọng tài được tính từ thời
điểm “Trung tâm trọng tài nhận được đơn khởi kiện của nguyên đơn” đối với trường hợp
tranh chấp được giải quyết tại Trung tâm trọng tài hoặc “tính từ khi bị đơn nhận được đơn
khởi kiện” đối với trường hợp tranh chấp được giải quyết bằng Trọng tài vụ việc đến khi

thì các bên không có quyền kháng cáo trước bất kỳ một tổ chức hoặc một Tòa án nào (trừ
trường hợp có đủ bằng chứng cho rằng phán quyết đó có vi phạm pháp luật thì có quyền
yêu cầu Tòa án có thẩm quyền hủy). Đây là một ưu thế xuất phát từ bản chất của TTTM.
Phán quyết của TTTM là do một chủ thể (Trọng tài viên hoặc Hội đồng trọng tài gồm
nhiều Trọng tài viên) được các bên thỏa thuận thành lập đưa ra, do đó các bên tranh chấp
phải có tránh nhiệm thi hành. Chính nhờ ưu thế này mà các nhà kinh doanh không bị kéo
vào vòng kiện tụng, tốn kém tiền bạc và thời gian như ở Tòa án.
Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm: Phán quyết TTTM là văn bản có
giá trị pháp lý của Hội đồng TTTM giải quyết toàn bộ vụ tranh chấp thương mại giữa các
bên tranh chấp và chấm dứt tố tụng trọng tài buộc các bên tranh chấp phải thực hiện.
II. Thi hành phán quyết trọng tài thương mại
1.Khái niệm thi hành phán quyết Trọng tài
Khi một quyết định của cơ quan tài phán được ban hành, có hiệu lực theo quy định
của pháp luật thì những đối tượng chịu trách nhiệm thực hiện phải tự giác chấp hành. Phán
quyết Trọng tài là văn bản có giá trị pháp lý chung thẩm, các bên tranh chấp phải có nghĩa
3
vụ thi hành, không thể kháng cáo trước bất kỳ một tổ chức, Tòa án nào và cũng không thể
bị cơ quan nào kháng nghị, do đó, không có lý do gì nó không được thi hành. Thi hành
phán quyết trọng tài là hành vi tự nguyện thực hiện phán quyết trọng tài của các bên tranh
chấp hoặc hành vi của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền buộc các bên tranh chấp phải
thực hiện phán quyết theo một trình tự, thủ tục do pháp luật quy định.
2. Nội dung của pháp luật về thi hành phán quyết TTTM
Thi hành phán quyết trọng tài được chia làm hai trường hợp:
Một là, bên phải thi hành phán quyết trọng tài tự nguyện thi hành phán quyết;
Hai là, bên phải thi hành phán quyết trọng tài không tự nguyện thi hành và cũng
không yêu cầu hủy phán quyết .
2.1 Trường hợp bên phải thi hành phán quyết tự nguyện thi hành phán quyết trọng tài
Như đã phân tích trên, phán quyết trọng tài là chung thẩm và có hiệu lực kể từ ngày
ban hành, các bên tranh chấp có nghĩa vụ thi hành. Khi nhận được phán quyết trọng tài, các
bên thỏa thuận thống nhất thi hành theo phán quyết, tức là các bên tự mình, không cần có

quyết trọng tài là: bên phải thi hành phán quyết không tự nguyện thi hành và cũng không
yêu cầu hủy phán quyết trọng tài theo quy định của pháp luật. Pháp luật quy định rõ phán
quyết trọng tài bị hủy nếu thuộc một trong các trường hợp sau:
- Không có thỏa thuận trọng tài hoặc thỏa thuận trọng tài vô hiệu:
Thỏa thuận trọng tài là “thỏa thuận giữa các bên về việc giải quyết bằng trọng tài
tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát sinh” (Khoản 2 Điều 3 Luật TTTM). Như vậy,
các bên có thể thỏa thuận trọng tài trước hoặc sau khi tranh chấp thương mại phát sinh.
Nếu không có thỏa thuận trọng tài thì tranh chấp thương mại đó không thể giải quyết bằng
phương thức trọng tài, và đương nhiên phán quyết trọng tài nếu có cũng sẽ bị hủy bỏ.
Ngoài ra, có một số trường hợp vẫn có thỏa thuận trọng tài nhưng thỏa thuận đó vẫn bị vô
hiệu.
- Thành phần Hội đồng trọng tài, thủ tục tố tụng trọng tài không phù hợp với thỏa thuận của
các bên tranh chấp hoặc trái với quy định của Luật TTTM;
- Vụ tranh chấp không thuộc thẩm quyền của Hội đồng trọng tài, trường hợp phán quyết
trọng tài có nội dung không thuộc thẩm quyền của Hội đồng trọng tài thi nội dung đó bị
hủy bỏ;
- Chứng cứ do các bên cung cấp mà Hội đồng trọng tài có căn cứ vào đó để ra phán quyết là
giả mạo; Trọng tài viên nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác của một bên tranh cháp
làm ảnh hưởng đến tính khách quan, công bằng của phán quyết trọng tài;
- Phán quyết trọng tài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam (Điều 68 Luật
TTTM).
Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được phán quyết trọng tài, nếu một bên có
đủ căn cứ chứng minh được rằng Hội đồng trọng tài đã ra phán quyết thuộc một trong
những trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 68 của Luật TTTM thì có quyền làm đơn gửi
Tòa án có thẩm quyền yêu cầu hủy phán quyết trọng tài. Đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng
tài phải kèm theo tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu hủy phán quyết trọng tài là có
5
căn cứ và hợp pháp. Trường hợp gửi đơn quá hạn vì sự kiện bất khả kháng thì thời gian có
sự kiện bất khả kháng không được tính vào thời hạn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài
(Điều 69 Luật TTTM).

đảm thi hành án theo quy định tại Điều 66 Luật THADS nhằm ngăn chặn việc tẩu tán, hủy
hoại tài sản, trốn tránh việc thi hành án. Các biện pháp bảo đảm gồm: Phong tỏa tài khoản;
6
Tạm giữ tài sản, giấy tờ; Tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi
hiện trạng tài sản.
Kèm theo đơn yêu cầu THA phải có phán quyết Trọng tài được yêu cầu thi hành và
tài liệu khác có liên quan, nếu có, trong đó bắt buộc phải có thông tin về tài sản và điều
kiện THA của người phải THA. Một điểm mới của Luật THADS năm 2008 khác với Pháp
lệnh THADS năm 2004 là quy định nghĩa vụ cung cấp thông tin về điều kiện THA thuộc
về người được THA. Theo quy định tại Điều 5, Nghị định số 58/NĐ-CP ngày 13/7/2009
của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số điều của Luật THADS thì người được THA có
quyền tự mình hoặc ủy quyền cho người khác xác minh điều kiện THA của người phải
THA. Kết quả xác minh được công nhận và làm căn cứ để tổ chức việc THA, trừ trường
hợp Chấp hành viên thấy cần phải xác minh lại. Nếu người được THA không thể hoặc
không có điều kiện xác minh tài sản và điều kiện THA thì phải có đơn yêu cầu cơ quan
THADS xác minh và phải chịu chi phí. Việc yêu cầu này phải được lập thành văn bản và
phải ghi rõ các biện pháp đã được áp dụng nhưng không có kết quả, kèm theo tài liệu
chứng minh (Điều 44 Luật THADS).
Sau khi hoàn chỉnh nội dung và hình thức đơn yêu cầu THA và các tài liệu kèm theo,
người được THA tự mình hoặc ủy quyền cho người khác yêu cầu THA bằng một trong các
hình thức sau: nộp đơn hoặc trực tiếp trình bày bằng lời nói tại cơ quan THADS; Gửi qua
đường bưu điện (Điều 32 Luật THADS).
*Thụ lý hoặc từ chối nhận đơn yêu cầu thi hành án
Khi nhận đơn yêu cầu THA, cơ quan THADS phải kiểm tra cụ thể nội dung đơn và
các tài liệu kèm theo. Theo quy định của pháp luật, có hai trường hợp xảy ra khi cơ quan
THADS nhận đơn yêu cầu THA:
Một là, trong trường hợp nếu thấy đơn yêu cầu THA không có đầy đủ nội dung theo
quy định tại Điều 31 Luật THADS hoặc không ghi rõ thông tin về điều kiện THA nhưng
không yêu cầu cơ quan THADS xác minh thì cơ quan THADS thông báo để đương sự bổ
sung nội dung đơn yêu cầu THA trước khi ra quyết định THA (Điều 4 Luật THADS).

Quyết định THA phải được gửi cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp (Điều 38 Luật
THADS), đồng thời Quyết định THA và các văn bản khác có liên quan đến việc THA phải
được thông báo cho các đương sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan để họ thực
hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Việc thông báo được thực hiện theo các hình thức:
Thông báo trực tiếp qua cơ quan, tổ chức, cá nhân khác theo quy định của pháp luât; Niêm
yết công khai (áp dụng trong trường hợp không rõ địa chỉ của người phải THA); Thông
báo trên các phương tiện thông tin đại chúng (Điều 39 Luật THADS).
*Tổ chức thi hành quyết định thi hành án
Quyết định THADS có hiệu lực kể từ ngày ký. Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ
ngày ra Quyết định THA, Thủ trưởng cơ quan THADS phải phân công CHV tổ chức thi
hành Quyết định THA đó (Điều 36 Luật THADS).
8
Ngay sau khi nhận phân công của Thủ trưởng, CHV tiến hành các bước thi hành
Quyết định THADS. Trước hết, CHV thông báo cho người phải THA thời hạn tự nguyện
thi hành án là 15 ngày, kể từ ngày người phải THA nhận được hoặc được thông báo hợp lệ
quyết định THA. Như vậy, việc THA mặc dù đã có sự can thiệp của cơ quan nhà nước có
thẩm quyền nhưng pháp luật về THADS vẫn quy định cho phép người phải THA có một
khoảng thời gian nhất định (15 ngày) để tự nguyện THA. Tuy nhiên, cũng tùy từng trường
hợp nếu xét thấy cần thiết hoặc có yêu cầu của người được THA, CHV có thể áp dụng
ngay các biện pháp bảo đảm THA nhằm ngăn chặn việc đương sự tẩu tán tài sản để trốn
tránh nghĩa vụ THA mặc dù có thể vẫn còn thời hạn tự nguyện thi hành án. CHV không
phải thông báo trước cho đương sự khi áp dụng biện pháp bảo đảm.
Cùng với việc gửi quyết định THA và thông báo thời gian tự nguyện thi hành cho
người phải THA, CHV thực hiện hoạt động xác minh THA. Xác minh THADS là quá trình
tìm kiếm thực tế cho thât người phải THA có điều kiện, khả năng THA hay không. Đây là
hoạt động quan trọng nhất và xuyên suốt nhất trong toàn bộ quá trình THADS và CHV
phải thực hiện. Việc xác minh phải được lập thành biên bản, có xác nhận của tổ trưởng tổ
dân phố, Ủy ban nhân dân, công an cấp xã hoặc cơ quan, tổ chức nơi tiến hành xác minh.
Biên bản xác minh phải thể hiện đầy đủ kết quả xác minh.
Kết quả xác minh sẽ dẫn tới những hệ quả:

người thứ ba giữ; Khai thác tài sản của người phải THA; Buộc chuyển giao vật, chuyển
giao quyền tài sản, giấy tờ; Buộc người phải THA thực hiện hoặc không được thực hiện
công việc nhất định.
Ba là, nguyên tắc không tổ chức cưỡng chế trong một số thời điểm nhất định
Nguyên tắc này được thể hiện rõ ràng trong khoản 2 Điều 8 Nghị định 58/NĐ-CP:
“Ngoài những trường hợp do Luật THADS quy định, cơ quan THADS không tổ chức
cưỡng chế THA có huy động lực lượng trong thời hạn 15 ngày trước và sau tết Nguyên
đán; các ngày truyền thống đối với các đối tượng chính sách, nếu họ là người phải THA”.
Ngoài ra, mặc dù không có quy định như Bộ Tư pháp cũng đã có văn bản hướng dẫn và
CHV khi tổ chức cưỡng chế cũng cần lưu ý tránh những ngày diễn ra các sự kiện lớn hoặc
có tầm ảnh hưởng ở địa phương hoặc trên toàn quốc như ngày bầu cử đại biểu Quốc hội và
Hội đồng nhân dân các cấp, ngày Đại hội Đảng… để tổ chức cưỡng chế.
Bốn là, việc tổ chức cưỡng chế THA phải dựa trên những căn cứ nhất định được quy
định tại Điều 70 Luật THADS, đó là: “1.Bản án, quyết định; 2.Quyết định THA; 3.Quyết
định cưỡng chết THA, trừ trường hợp bản án, quyết định đã tuyên kê biên, phong tỏa tài
sản, tài khoản và trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của
Tòa án”.
Như vậy, trong trường hợp người phải THA có điều kiện THA mà không tự nguyện
thi hành thì sẽ bị cưỡng chế thi hành. Cưỡng chế THA là biện pháp thể hiện rõ nhất bản
10
chất của việc Nhà nước sử dụng quyền lực của mình mà cụ thể là thông qua hoạt động của
CHV cơ quan THADS để tác động đến người mà phải THA buộc họ phải thực hiện nghĩa
vụ của mình. Chính vì mục đích ý nghĩa và tầm quan trọng đó mà pháp luật cũng quy định
rất chặt chẽ về thẩm quyền, điều kiện và trình tự, thủ tục áp dụng và đòi hỏi CHV phải tuân
thủ triệt để các quy định đó.
*Kết thúc thi hành án
Quá trình THA được coi là đương nhiên kết thúc trong các trường hợp sau (Điều 52
Luật THADS):
- Đương sự đã thực hiện xong quyền, nghĩa vụ của mình: Trường hợp này được hiểu là khi
đương sự, tức là người được THA đã thực hiện xong quyền của mình và người phải THA

là giả mạo; hoặc trọng tài viên nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác của một bên
tranh chấp làm ảnh hưởng đến tính khách quan, công bằng của phán quyết trọng tài.
- Phán quyết trọng tài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.
2. Nghĩa vụ chứng minh
Theo quy định của Khoản 3 Điều 68 Luật trọng tài thương mại năm 2010, ngoại trừ
trường hợp Tòa án chủ động xác minh, bên yêu cầu hủy phán quyết trọng tài có nghĩa vụ
chứng minh Hội đồng trọng tài đã ra phán quyết thuộc một trong các trường hợp phán
quyết phải bị hủy; Đối với yêu cầu hủy phán quyết trọng tài do thuộc trường hợp trái với
các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam, Tòa án có trách nhiệm chủ động xác minh
thu thập chứng cứ để quyết định hủy hay không hủy phán quyết trọng tài.
3. Thời hạn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài
Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được phán quyết trọng tài, nếu một bên có
đủ căn cứ để chứng minh được rằng Hội đồng trọng tài đã ra phán quyết thuộc một trong
những trường hợp bị hủy, thì có quyền làm đơn gửi Toà án có thẩm quyền yêu cầu huỷ
phán quyết trọng tài. Trường hợp gửi đơn quá hạn vì sự kiện bất khả kháng thì thời gian có
sự kiện bất khả kháng không được tính vào thời hạn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài
(Điều 69 Luật trọng tài thương mại năm 2010). “Sự kiện bất khả kháng” theo Bộ luật Dân
sự là những sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể
khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép (Điều
161 Bộ luật Dân sự).
4. Tòa án có thẩm quyền
Tòa án có thẩm quyền hủy phán quyết trọng tài là Tòa án cấp tỉnh tại nơi các bên lựa
chọn hoặc tại nơi mà hội đồng trọng tài đã tuyên phán quyết (Điều 7 Luật trọng tài thương
mại).
5. Đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài
Đơn yêu cầu huỷ phán quyết trọng tài phải có các nội dung chủ yếu sau đây:
12
- Ngày, tháng, năm làm đơn;
- Tên và địa chỉ của bên có yêu cầu; và
- Yêu cầu và căn cứ huỷ phán quyết trọng tài.

trọng tài thương mại năm 2010).
Khi xét đơn yêu cầu, hội đồng xét đơn yêu cầu căn cứ vào các quy định của Luật
trọng tài thương mại năm 2010 về căn cứ hủy phán quyết trọng tài (nêu ở trên) và các tài
liệu kèm theo để xem xét, quyết định; không xét xử lại nội dung vụ tranh chấp mà Hội
đồng trọng tài đã giải quyết. Sau khi xem xét đơn và các tài liệu kèm theo, nghe ý kiến của
những người được triệu tập, nếu có, kiểm sát viên trình bày ý kiến của Viện kiểm sát, hội
đồng thảo luận và quyết định theo đa số (Khoản 4 Điều 71 Luật trọng tài thương mại năm
2010).
Hội đồng xét đơn yêu cầu có quyền ra quyết định huỷ hoặc không huỷ phán quyết
trọng tài. Hội đồng cũng có thể đình chỉ việc xét đơn yêu cầu nếu bên yêu cầu được triệu
tập rút đơn hoặc đã được triệu tập hợp lệ mà vắng mặt không có lý do chính đáng hoặc rời
phiên họp mà không được hội đồng chấp thuận (Khoản 5 Điều 71 Luật trọng tài thương
mại năm 2010). Quyết định của toà án là quyết định cuối cùng và có hiệu lực thi hành
(Khoản 10 Điều 71 Luật trọng tài thương mại năm 2010).
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định, Tòa án gửi quyết định cho
các bên, trung tâm trọng tài hoặc trọng tài viên trọng tài vụ việc và viện kiểm sát cùng cấp
(Khoản 6 Điều 71 Luật trọng tài thương mại năm 2010).
8. Tạm đình chỉ giải quyết đơn yêu cầu trong trường hợp trọng tài có sai sót về tố
tụng
Theo yêu cầu của một bên và xét thấy phù hợp, hội đồng xét đơn yêu cầu có thể tạm
đình chỉ việc xem xét giải quyết đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài trong thời hạn không
quá 60 ngày để tạo điều kiện cho Hội đồng trọng tài khắc phục sai sót tố tụng trọng tài theo
quan điểm của Hội đồng trọng tài nhằm loại bỏ căn cứ hủy bỏ phán quyết trọng tài. Hội
đồng trọng tài phải thông báo cho Tòa án biết về việc khắc phục sai sót tố tụng. Trường
hợp hội đồng trọng tài không tiến hành khắc phục sai sót tố tụng thì hội đồng tiếp tục xét
đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài (Khoản 7 Điều 71 Luật trọng tài thương mại năm
2010).
9. Hậu quả của việc hủy phán quyết trọng tài
Trường hợp hội đồng xét đơn yêu cầu ra quyết định hủy phán quyết trọng tài, các bên
có thể thỏa thuận lại để đưa vụ tranh chấp đó ra giải quyết tại trọng tài hoặc một bên có

Điều 68 Luật TTTM thì Tòa án sẽ quyết định hủy quyết định trọng tài. Với trường hợp quy
định tại điểm đ khoản 2 Điều 68, thì Tòa án sẽ có trách nhiệm chủ động xác minh, thu thập
chứng cứ để quyết định hủy hay không hủy quyết định trọng tài.
Như vậy, quy định này góp phần khắc phục những sai phạm (nếu có) của Hội đồng
trọng tài khi giải quyết tranh chấp, làm cho vụ tranh chấp được giải quyết thực sự khách
quan, công bằng, đúng pháp luật.
Luật TTTM đã quy định một cách cụ thể về vấn đề hủy quyết định trọng tài. Khi xem
xét việc hủy phán quyết trọng tài, còn có sự tham gia của Viện kiểm sát với tư cách là cơ
quan giám sát hoạt động tố tụng của Tòa án trong việc hỗ trợ hoạt động trọng tài. Quyết
15
định của Tòa án là quyết định cuối cùng và có hiệu lực thi hành. Đây là một chế định quan
trọng của Luật TTTM nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự khi đưa ra
tranh chấp ra giải quyết tại Trọng tài.
Khác với Pháp lệnh TTTM năm 2003, thủ tục Tòa án xét xử đơn yêu cầu hủy phán
quyết trọng tài theo Luật TTTM năm 2010 chỉ có một cấp và có giá trị chung thẩm. Luật
quy định một Hội đồng gồm 3 Thẩm phán xem xét đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài
và quyết định của Hội đồng là chung thẩm có hiệu lực thi hành ngay là phù hợp (Điều 71).
Quy định này thay thế cho các quy định bất hợp lý tại các Điều 55, 56 của Pháp lệnh
TTTM năm 2003.
Luật TTTM năm 2010 quy định một phiên họp xét đơn phải có sự tham gia của 3
Thẩm phán, sự có mặt của các bên tranh chấp, luật sư của các bên (nếu có) à đại diện Viện
kiểm sát. Nhìn chung, sau khi qua một phiên họp giải quyết tranh chấp với sự tham gia của
các Trọng tài viên giàu kinh nghiệm thì quyết định của Trọng tài được xem xét yêu cầu
hủy bởi Tòa án như trên về cơ bản là đảm bảo được tính công bằng của phán quyết. Việc
quy định thêm một giai đoạn kháng cáo, kháng nghị nữa là không cần thiết. Ngoài ra các
bên tranh chấp cũng có thể lợi dụng quy định này để kéo dài thời gian gây khó khăn cho
việc thi hành phán quyết, gây bất lợi cho bên được thi hành phấn quyết trong vụ tranh
chấp. Như vậy, việc xét đơn chỉ có một cấp và quyết định của Hội đồng xét đơn yêu cầu là
quyết định chung thẩm là phù hợp, khắc phục được những thủ tục rườm rà không cần thiết
của giai đoạn kháng cáo, kháng nghị. Việc không quy định thủ tục kháng cáo, kháng nghị


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status