BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ THU PHƢƠNG
MỘT SỐ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM
VỀ QUAN HỆ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH CÓ YẾU TỐ
NƢỚC NGOÀI TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP
Chuyên ngành: Luật Quốc tế
Mã số: 60380108
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS. NÔNG QUỐC BÌNH
HÀ NỘI - 2015
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên của luận văn, Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban giám
hiệu, Khoa sau đại học và thư viện Trường Đại học Luật Hà Nội đã tạo điều kiện
thuận lợi cho Tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến các thầy giáo, cô giáo Trường Đại học Luật
Hà Nội nói chung và các thầy cô Khoa Pháp luật Quốc tế - Trường Đại học Luật
nói riêng đã trực tiếp giảng dạy, tận tình truyền đạt kiến thức cho Tôi trong suốt
thời gian học tập tại trường.
Đặc biệt, Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến Thầy giáo – PGS.TS. Nông
Quốc Bình, người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ Tôi trong suốt thời
1
1. Tính cấp thiết của đề tài
1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
2
3. Phạm vi nghiên cứu đề tài
3
4. Phƣơng pháp nghiên cứu đề tài
3
5. Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
4
6. Đóng góp của luận văn
4
7. Kết cấu của luận văn
5
1.2.2. Phương pháp thực chất
10
1.3. Nguyên tắc áp dụng để điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình
có yếu tố nƣớc ngoài
11
1.3.1. Nguyên tắc chung
11
1.3.2. Nguyên tắc chuyên biệt
14
1.4. Nguồn pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình có
yếu tố nƣớc ngoài
1.4.1. Pháp luật quốc gia
17
17
1.4.2. Điều ước quốc tế
19
1.4.3. Tập quán quốc tế
34
2.3.1. Vấn đề hôn nhân đồng giới
35
2.3.2. Vấn đề mang thai hộ
38
2.3.3. Vấn đề nam, nữ chung sống như vợ chồng
41
2.4. Pháp luật Việt Nam về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố
nƣớc ngoài – So sánh với pháp luật một số nƣớc trên thế giới
44
CHƢƠNG 3. THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT NHẰM THỰC HIỆN
HIỆU QUẢ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ QUAN HỆ HÔN NHÂN
VÀ GIA ĐÌNH CÓ YẾU TỐ NƢỚC NGOÀI TRONG THỜI KỲ HỘI
NHẬP
52
3.1. Tình hình ban hành và thực hiện các quy định pháp luật Việt
Nam về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nƣớc ngoài hiện nay
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
70
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLDS
: Bộ luật Dân sự.
CHXHCN Việt Nam
: Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
ĐƯQT
: Điều ước quốc tế.
HĐTTTP
: Hiệp định tương trợ tư pháp.
HNGĐ
: Hôn nhân và gia đình.
TQQT
: Tập quán quốc tế.
đề nuôi con nuôi, cấp dưỡng...
Đặc biệt, Luật HNGĐ năm 2014 mới ra đời với những sửa đổi, bổ sung
nhiều quy định trong đó có cả những quy định điều chỉnh quan hệ HNGĐ có yếu
tố nước ngoài để phù hợp hơn với tình hình hội nhập của quốc gia. Vì vậy, nghiên
cứu một cách hệ thống, toàn diện pháp luật điều chỉnh quan hệ HNGĐ có yếu tố
nước ngoài tại Việt Nam hiện nay và đưa ra những giải pháp nhằm thực thi pháp
luật một cách hiệu quả nhất trong thời kỳ hội nhập là một việc làm cấp bách đặt ra.
2
Nhận thức được tính cấp thiết trên, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Một số quy
định pháp luật Việt Nam về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài
trong thời kỳ hội nhập” cho Luận văn tốt nghiệp chương trình đào tạo thạc sỹ luật
học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề quan hệ HNGĐ có yếu tố nước ngoài ở nước ta đã được rất nhiều nhà
nghiên cứu quan tâm và cho ra đời các công trình nghiên cứu như Luận án tiến sỹ,
Luận văn thạc sĩ và một số bài nghiên cứu đăng trên các tạp chí chuyên ngành. Có
thể kể đến các công trình nghiên cứu như Luận án tiến sĩ luật học của Nông Quốc
Bình với đề tài: “Pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài ở
Việt Nam”; Luận án tiến sĩ luật học của Nguyễn Hồng Bắc với đề tài “Pháp luật
điều chỉnh quan hệ gia đình có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam trong thời kỳ đổi
mới”; TS. Nông Quốc Bình, TS. Nguyễn Hồng Bắc với đề tài “Quan hệ HNGĐ
có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế”, Nxb Tư pháp,
Hà Nội năm 2006 và đề tài “Quan hệ HNGĐ có yếu tố nước ngoài những vấn đề
lý luận và thực tiễn”, Nxb Tư pháp, Hà Nội năm 2011; Luận văn thạc sĩ luật học
của Tạ Tùng Hoa với đề tài “Vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam –
Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”; Lê Thị Hoàng Thanh, Trương Hồng Quang
tại Luật Nuôi con nuôi năm 2010 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Trong phạm
vi của luận văn, tác giả sẽ không nghiên cứu các quy định điều chỉnh quan hệ này.
Khi nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, luận văn tìm
hiểu quy định về quan hệ HNGĐ có yếu tố nước ngoài trong các văn bản pháp luật
trong nước, các ĐƯQT mà Việt Nam đã ký kết, gia nhập, đồng thời có so sánh với
pháp luật một số nước về vấn đề xung đột pháp luật trong quan hệ HNGĐ có yếu
tố nước ngoài để tìm ra điểm tương đồng và khác biệt. Từ những phân tích các
quy định của pháp luật hiện hành, luận văn chỉ ra những vấn đề còn thiếu hoặc
chưa phù hợp của pháp luật và đề xuất các giải pháp nhằm thực thi pháp luật về
HNGĐ nói chung và quan hệ HNGĐ có yếu tố nước ngoài nói riêng một cách hiệu
quả nhất.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu đề tài
Để thực hiện đề tài, luận văn đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu
sau:
- Phương pháp duy vật biện chứng;
- Phương pháp phân tích, tổng hợp;
- Phương pháp so sánh;
- Phương pháp lịch sử;
- Phương pháp thống kê.
4
5. Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
Quan hệ HNGĐ có yếu tố nước ngoài là một vấn đề khá phổ biến và phức
tạp trong thời kỳ hội nhập hiện nay. Do đó, đề tài nghiên cứu nhằm mục đích sau:
- Làm sáng tỏ những vấn đề chung về quan hệ HNGĐ có yếu tố nước ngoài
được quy định trong pháp luật Việt Nam hiện nay;
- Phân tích, bình luận một số quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành,
tham khảo, nội dung của luận văn gồm:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về quan hệ hôn nhân và gia đình có
yếu tố nước ngoài
Chương 2: Một số quy định của pháp luật Việt Nam về quan hệ hôn nhân và
gia đình có yếu tố nước ngoài trong thời kỳ hội nhập – So sánh với pháp luật một
số nước
Chương 3: Thực trạng và đề xuất nhằm thực hiện hiệu quả quy định pháp
luật về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài trong thời kỳ hội nhập.
6
CHƢƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUAN HỆ
HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH CÓ YẾU TỐ NƢỚC NGOÀI
1.1. Khái niệm quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nƣớc ngoài
1.1.1. Khái niệm quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài
Hôn nhân là một hiện tượng xã hội đặc biệt, trong đó các bên chủ thể gắn kết
với nhau với mục đích tạo dựng một tế bào xã hội là gia đình. Khác với các quan
hệ dân sự bình thường, mục đích của các chủ thể trong quan hệ hôn nhân không
phải nhằm thỏa mãn nhu cầu vật chất hoặc tinh thần trong một thời điểm nhất định
mà nhằm xác lập mối quan hệ lâu dài. Nói cách khác, hôn nhân là cơ sở tạo nên
quan hệ vợ chồng và quan hệ huyết thống mà tổng hợp các mối quan hệ này là nền
tảng của gia đình.
Khái niệm hôn nhân đã được nhiều tài liệu đề cập đến. Theo Từ điển tiếng
Việt, khái niệm hôn nhân được hiểu là “việc nam nữ chính thức lấy nhau làm vợ
chồng” [10, tr.9].
Theo giải thích cuả Oxford advanced Learner’s Dictionary do Oxford
University Press xuất bản năm 1992 thì “hôn nhân là sự liên kết pháp lý giữa một
người đàn ông với một người đàn bà như vợ chồng” [10, tr.9].
Theo từ điển giải thích thuật ngữ luật học của Trường Đại học Luật Hà Nội
cha, mẹ và con cái; quan hệ giữa các thành viên khác trong gia đình. Theo đó,
quan hệ gia đình có yếu tố nước ngoài bao gồm: quan hệ giữa cha, mẹ và con có
yếu tố nước ngoài; quan hệ cấp dưỡng có yếu tố nước ngoài; quan hệ nuôi con
nuôi có yếu tố nước ngoài.
Căn cứ khoản 25 Điều 3 Luật HNGĐ năm 2014, quan hệ gia đình có yếu tố
nước ngoài là quan hệ gia đình mà ít nhất một bên tham gia là người nước ngoài,
người Việt Nam định cư ở nước ngoài; quan hệ gia đình giữa các bên tham gia là
công dân Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo
pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ
đó ở nước ngoài.
Ngoài ra, quan hệ gia đình có yếu tố nước ngoài bao gồm quan hệ giữa các
thành viên trong gia đình như quan hệ giữa ông, bà nội, ông, bà ngoại và cháu;
giữa anh, chị, em và giữa các thành viên trong gia đình có yếu tố nước ngoài.
8
1.1.3. Dấu hiệu nhận biết quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước
ngoài
Các quan hệ HNGĐ được coi là quan HNGĐ có yếu tố nước ngoài khi có
một trong những dấu hiệu sau:
Chủ thể trong quan hệ HNGĐ là người nước ngoài, người Việt Nam định cư
ở nước ngoài. Theo quy định tại Điều 3 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 (sửa
đổi năm 2014), người nước ngoài là người không có quốc tịch Việt Nam, bao
gồm: người có quốc tịch nước ngoài và người không quốc tịch. Người có quốc
tịch nước ngoài có thể là người có một hoặc nhiều quốc tịch nước ngoài. Như vậy,
quan hệ HNGĐ có yếu tố nước ngoài có thể xảy ra trong các trường hợp sau: giữa
công dân Việt Nam với người có quốc tịch nước ngoài; giữa công dân Việt Nam với
người không quốc tịch; giữa người có quốc tịch nước ngoài với nhau thường trú tại
Việt Nam; giữa người không quốc tịch với nhau thường trú tại Việt Nam; giữa người
1.2.1. Phương pháp xung đột
Phương pháp xung đột (hay còn gọi là phương pháp điều chỉnh gián tiếp) là
phương pháp điều chỉnh dựa vào các quy tắc được ấn định để áp dụng pháp luật
của một nước được chỉ định nhằm giải quyết quan hệ HNGĐ có yếu tố nước ngoài
phát sinh thông qua các quy phạm xung đột pháp luật [10, tr.65].
Phương pháp xung đột được hình thành và phát triển trên nền tảng hệ thống
các quy phạm xung đột của quốc gia và các quy phạm xung đột trong các ĐƯQT
mà quốc gia đó là thành viên. Quy phạm xung đột là quy phạm pháp luật ấn định
pháp luật của nước nào cần phải được áp dụng để điều chỉnh quan hệ dân sự có
yếu tố nước ngoài trong một tình huống thực tế. Có thể nói, quy phạm xung đột là
loại quy phạm pháp luật “dẫn chiếu”; theo sự “dẫn chiếu” của quy phạm xung đột,
các cơ quan có thẩm quyền chọn được hệ thống pháp luật điều chỉnh quan hệ dân
sự (theo nghĩa rộng) có yếu tố nước ngoài [10, tr.66].
Hiện nay, để giải quyết xung đột pháp luật trong lĩnh vực HNGĐ có yếu tố
nước ngoài, các nước thường sử dụng một số kiểu hệ thuộc cơ bản sau: luật nhân
thân (lex personalis) gồm hai biến dạng là luật quốc tịch (lex patriae) và luật nơi
cư trú (lex domicili); luật nơi có tài sản (lex rei sitae); luật nơi thực hiện hành vi
(lex loci astus) và luật tòa án (lex fori).
Quy phạm xung đột được ghi nhận, trước hết, trong các văn bản pháp luật
của từng quốc gia. Ở Việt Nam, quy phạm xung đột về quan hệ HNGĐ có yếu tố
nước ngoài được ghi nhận trong Luật HNGĐ năm 2014 và một số văn bản khác.
Ngoài ra, quy phạm xung đột còn được ghi nhận trong các HĐTTTP Việt Nam ký
10
kết với các nước. Các hiệp định này đều xây dựng các quy phạm xung đột thống
nhất để điều chỉnh quan hệ HNGĐ có yếu tố nước ngoài.
1.2.2. Phương pháp thực chất
1.3. Nguyên tắc áp dụng để điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình
có yếu tố nƣớc ngoài
Các nguyên tắc điều chỉnh quan hệ HNGĐ có yếu tố nước ngoài bao gồm
các nguyên tắc cơ bản áp dụng chung cho cả hệ thống pháp luật Việt Nam và các
nguyên tắc cơ bản áp dụng riêng cho việc điều chỉnh quan hệ HNGĐ có yếu tố
nước ngoài.
1.3.1. Nguyên tắc chung
Quan hệ HNGĐ có yếu tố nước ngoài là một phần trong quan hệ HNGĐ Việt
Nam. Vì thế, nó cũng được điều chỉnh bằng các nguyên tắc cơ bản của chế độ
HNGĐ. Các nguyên tắc này được quy định tại Điều 2 Luật HNGĐ năm 2014 bao
gồm:
Một là nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng
bình đẳng.
Hai là nguyên tắc hôn nhân giữa công dân Việt Nam thuộc các dân tộc, tôn
giáo, giữa người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, giữa người có tín
ngưỡng với người không có tín ngưỡng, giữa công dân Việt Nam với người nước
ngoài được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.
Ba là nguyên tắc xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc; các thành
viên gia đình có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; không
phân biệt đối xử giữa các con.
Bốn là nguyên tắc nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ, hỗ
trợ trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật thực hiện các quyền về HNGĐ; giúp
đỡ các bà mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của người mẹ; thực hiện kế hoạch
hóa gia đình.
Năm là nguyên tắc kế thừa, phát huy truyền thống văn hóa, đạo đức tốt đẹp
của dân tộc Việt Nam về HNGĐ.
Ngoài ra, quan hệ HNGĐ có yếu tố nước ngoài còn được điều chỉnh bằng các
nguyên tắc chung sau:
- Một là nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ quan hệ HNGĐ có yếu tố nước ngoài
đề này được quy định tại khoản 2 Điều 121 Luật HNGĐ năm 2014: “Trong quan
hệ HNGĐ với công dân Việt Nam, người nước ngoài tại Việt Nam có các quyền,
nghĩa vụ như công dân Việt Nam, trừ trường hợp pháp luật Việt Nam có quy định
khác.” Theo nguyên tắc trên, khi người nước ngoài tham gia vào quan hệ HNGĐ
có yếu tố nước ngoài, sẽ được hưởng các quyền nhân thân và quyền tài sản như
công dân Việt Nam, trừ một số trường hợp cụ thể mà pháp luật Việt Nam quy định
13
dành riêng cho công dân Việt Nam. Điều này là hoàn toàn xuất phát từ yêu cầu
cần thiết của việc bảo vệ nền kinh tế, bảo đảm chủ quyền, an ninh của Việt Nam
và cũng phù hợp với quy định các nước trên thế giới.
- Ba là nguyên tắc áp dụng pháp luật về HNGĐ của Việt Nam đối với quan
hệ HNGĐ có yếu tố nước ngoài. Nguyên tắc này được quy định tại khoản 1 Điều
122 Luật HNGĐ năm 2014: “Các quy định của pháp luật về HNGĐ của nước
CHXHCN Việt Nam được áp dụng đối với quan hệ HNGĐ có yếu tố nước ngoài,
trừ trường hợp Luật này có quy định khác.
Trong trường hợp ĐƯQT mà CHXHCN Việt Nam là thành viên có quy định khác
với quy định của Luật này thì áp dụng quy định của ĐƯQT đó”. Theo đó, nếu
Luật HNGĐ không có quy định khác thì các quy định của pháp luật HNGĐ Việt
Nam được áp dụng đối với quan hệ HNGĐ có yếu tố nước ngoài. Quy định này
hoàn toàn phù hợp với thực tế hiện nay, nhất là trong điều kiện chúng ta chưa xây
dựng được các quy phạm xung đột để điều chỉnh tất cả quan hệ HNGĐ phát sinh
trên thực tế.
Ngoài ra theo Điều 6 Luật HNGĐ năm 2014, các quy định của Bộ luật Dân
sự (BLDS) và các luật khác liên quan đến quan hệ HNGĐ được áp dụng đối với
quan hệ HNGĐ không có quy định. Đây chính là phương pháp áp dụng tương tự
quy định pháp luật. Phương pháp này được đặt ra trong trường hợp hệ thống pháp
luật trong nước và ĐƯQT không có quy định thực chất cũng như không có quy
Trong trường hợp áp dụng pháp luật nước ngoài để điều chỉnh quan hệ
HNGĐ có yếu tố nước ngoài mà “Trong trường hợp pháp luật nước ngoài dẫn
chiếu trở lại pháp luật Việt Nam thì áp dụng pháp luật về HNGĐ Việt Nam”.
(khoản 2 Điều 122 Luật HNGĐ năm 2014). Như vậy, pháp luật Việt Nam đã chấp
nhận vấn đề dẫn chiếu ngược trở lại của pháp luật nước ngoài . Quy định này có ý
nghĩa rất quan trọng, bởi vì nó mở rộng phạm vi áp dụng pháp luật Việt Nam, góp
phần giải quyết nhanh chóng, hữu hiệu các việc HNGĐ có yếu tố nước ngoài. Đây
cũng là cách giải quyết phổ biến được ghi nhận trong pháp luật của một số nước.
1.3.2. Nguyên tắc chuyên biệt
Ngoài các nguyên tắc chung được quy định trong pháp luật Việt Nam điều
chỉnh quan hệ HNGĐ có yếu tố nước ngoài, quan hệ này còn được điều chỉnh theo
các nguyên tắc chuyên biệt, bao gồm các nguyên tắc sau:
- Một là nguyên tắc điều chỉnh quan hệ HNGĐ có yếu tố nước ngoài theo
pháp luật của nước mà đương sự có quốc tịch (hay còn gọi là nguyên tắc luật
quốc tịch của đương sự). Nguyên tắc luật quốc tịch của đương sự là nguyên tắc
được áp dụng phổ biến trong các quan hệ dân sự quốc tế, đặc biệt là trong quan hệ
15
HNGĐ có yếu tố nước ngoài. Theo nguyên tắc này, quan hệ HNGĐ có yếu tố
nước ngoài phát sinh giữa công dân của nước nào thì áp dụng pháp luật của nước
đó để điều chỉnh.
Luật HNGĐ năm 2014 (Điều 126) đã sử dụng nguyên tắc này. Nguyên tắc
luật quốc tịch cũng đã trở thành nguyên tắc quan trọng trong các HĐTTTP giữa
Việt Nam với Cuba, Hungari, Séc và Slovakia (Tiệp Khắc cũ) và một số nước
khác.
- Hai là nguyên tắc điều chỉnh các quan hệ HNGĐ có yếu tố nước ngoài theo
pháp luật của nước nơi đương sự cư trú (hay còn gọi là nguyên tắc luật nơi cư trú
tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, cha mẹ và con, về nhận cha, mẹ,
con, nuôi con nuôi và giám hộ giữa công dân Việt Nam cư trú ở khu vực biên giới
với công dân của nước láng giềng cùng cư trú ở khu vực biên giới với Việt Nam
thuộc thẩm quyền của tòa án nhân dân cấp huyện và theo quy định của Luật
HNGĐ năm 2014 và các quy định khác của pháp luật Việt Nam (khoản 3 Điều
123). Như vậy, các tòa án của Việt Nam áp dụng nguyên tắc lex fori giải quyết các
tranh chấp liên quan đến quan hệ HNGĐ có yếu tố nước ngoài.
- Bốn là nguyên tắc điều chỉnh các quan hệ HNGĐ có yếu tố nước ngoài theo
“luật nơi thực hiện hành vi” (lex loci astus). Nguyên tắc luật nơi thực hiện hành vi
được thực hiện ở nước nào sẽ được điều chỉnh theo pháp luật của nước đó. Pháp
luật Việt Nam cũng áp dụng luật nơi thực hiện hành vi để điều chỉnh các vấn đề
liên quan đến quan hệ HNGĐ có yếu tố nước ngoài. Ví dụ, Điều 126 Luật HNGĐ
năm 2014 quy định: “1. Trong việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người
nước ngoài, mỗi bên phải tuân theo pháp luật của nước mình về điều kiện kết hôn;
nếu việc kết hôn được tiến hành tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam thì
người nước ngoài còn phải tuân theo các quy định của Luật này về điều kiện kết
hôn.
2. Việc kết hôn giữa những người nước ngoài thường trú ở Việt Nam tại cơ quan
có thẩm quyền của Việt Nam phải tuân theo các quy định của Luật này về điều
kiện kết hôn”.
Như vậy, những nguyên tắc cơ bản nêu trên điều chỉnh quan hệ HNGĐ có
yếu tố nước ngoài luôn gắn bó chặt chẽ, bổ sung cho nhau tạo cơ sở pháp lý vững
chắc để bảo vệ lợi ích quốc gia, lợi ích của các bên đương sự góp phần thúc đẩy
giao lưu dân sự quốc tế phát triển, tạo điều kiện thuận lợi để mở rộng quan hệ đối
ngoại và chủ động hội nhập quốc tế, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ
quốc tế.
17
18
nước ngoài cũng là nguồn của pháp luật điều chỉnh quan hệ HNGĐ có yếu tố nước
ngoài.
Luật
Quan hệ HNGĐ có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam đã được ghi nhận trong
các văn bản Luật HNGĐ năm 1986, 2000 và 2014. Hiện nay, Luật HNGĐ năm
2014 là văn bản pháp luật quan trọng nhất điều chỉnh hầu hết các quan hệ HNGĐ
có yếu tố nước ngoài (trừ quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài). Luật
HNGĐ năm 2014 có hiệu lực từ ngày 01/01/2015 bao gồm 9 chương và 133 điều
trong đó có 10 điều (từ Điều 121 đến Điều 130) quy định về quan hệ HNGĐ có
yếu tố nước ngoài. Luật HNGĐ năm 2014 kế thừa các nguyên tắc cơ bản và các
quy định đã được thực tiễn kiểm nghiệm trong Luật HNGĐ năm 2000; sửa đổi các
quy định đã có nhiều bất cập, hạn chế trong thực tiễn thi hành, đồng thời bổ sung
các quy định để giải quyết các vấn đề thực tiễn phát sinh phù hợp với quá trình
thay đổi của gia đình hiện đại và đời sống xã hội; bảo đảm tính khả thi của Luật
HNGĐ; và đảm bảo sự tương thích pháp luật HNGĐ với Hiến pháp năm 2013, các
quy định của pháp luật hiện hành khác và các ĐƯQT mà Việt Nam là thành viên.
Nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài cũng là một trong các quan hệ HNGĐ có
yếu tố nước ngoài. Trước đây, quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài được
quy định trong các văn bản Luật HNGĐ. Tuy nhiên, Luật HNGĐ năm 2014 không
còn điều chỉnh về quan hệ này. Nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài hiện nay được
điều chỉnh bởi Luật Nuôi con nuôi năm 2010 và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Ngoài ra, quan hệ HNGĐ có yếu tố nước ngoài còn được quy định trong
Luật Quốc tịch Việt Nam 2008 (sửa đổi 2014)...
Các văn bản dưới Luật
Hiện nay, để hướng dẫn thi hành Luật HNGĐ năm 2014 và Luật Nuôi con
nuôi năm 2010 nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản để điều chỉnh quan hệ