C
Jn-SễỄlS^'0
m
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHỎA LUẬT
BÔ MÔN LUÂT HÀNH CHÍNH
••
80 Bũl G8
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP cử NHÂN LUẬT
KHÓA 33 (2007 - 2011)
PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ, sử DỤNG
ĐẤT CÔNG ÍCH
Giảns viên hướns dẫn:
Ths. NGUYỄN THỊ THANH XUÂN
Bộ môn Luật Hành Chính
Sinh viên thưc hiên:
ĐOÀN THỊ KIỀU NGÂN
MSSV: 5075126
Lớp: Luật Hành Chính - k33
=ì_________________1=
Cần Thơ, tháng 4/2011
NHẶN XÉT CỦA QUÝ THẦY CÔ
NHẬN XÉT CỦA QUÝ THẰY CÔ
'SkBQI^gs'
MỤC LỤC
'SSŨŨI^ỄS'
Trang
LỜI NÓI ĐẦU..............................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài ...................................................................................................1
2. Mục đích nghiên cứu .............................................................................................2
3. Phạm vi nghiên cứu ...............................................................................................2
4. Phưomg pháp nghiên cứu.......................................................................................2
5. Bố cục đề tài ..........................................................................................................2
CHƯƠNG 1: Sơ LƯỢC VỀ ĐẤT CÔNG ÍCH.........................................................4
1.1.................................................................................................................................Đ
ất công ích - ý nghĩa của quỹ đất công ích..........................................................4
1.1.1................................................................................................................................. K
hái niệm đất công ích.....................................................................................................4
1.1.2. Mục đích của đất công ích ................................................................................6
1.1.3................................................................................................................................. Ý
nghĩa của đất công ích...................................................................................................7
1.1.3.1............................................................................................................................ Ý
nghĩa về mặt kinh tể của đất công ích...........................................................................7
1.1.3.2............................................................................................................................ Ý
nghĩa về mặt xã hội của đất công ích............................................................................8
2.2.1.2. Thẩm quyền quản lý của cơ quan nhà nước cấp địa phương đối với đất
công ích .........................................................................................................................21
2.2.2. Phương pháp quản lý đất công ích.................................................................22
2.2.2.1. Quản lý đất công ích theo phương pháp chung của Luật Đất đai.................22
2.2.2.2. Quản lý đất công ích theo chính sách riêng củatừng cấp xã........................23
2.2.2.3. Quản lý đất công ích bằng việc thu tài chính ...............................................24
2.2.3. Thu hồi đất công ích.........................................................................................27
2.2.3.1. Thẩm quyền thu hồi đất công ích...................................................................27
2.2.3.2. Thủ tục thu hồi đất công ích..........................................................................29
2.2.3.3. Vẩn đề đền bù khi thu hồi đất công ích..........................................................30
2.3......................................................................Quy định về sử dụng đất công ích
..........................................................................................................................32
2.3.1. Quy định về đối tượng sử dụng đất công ích..................................................33
2.3.1.1. Đổi tượng sử dụng đất công ích là ủy ban nhân dân cẩp xã..........................33
2.3.1.2. Đổi tượng sử dụng đất công ích là hộ gia đình, cá nhân ..............................34
2.3.2. Quy định về hình thức sử dụng đất công ích..................................................35
2.3.2.1............................................................................................................................ H
ình thức sử dụng quỹ đất công ích của ủy ban nhân dân..............................................35
2.3.2.2. Hình thức sử dụng đất công ích của hộ gia đình, cá nhân thông qua hợp
đồng thuê.......................................................................................................................36
2.3.3. Các quy định khácvề sử dụng đất công ích.....................................................38
2.3.3.1. Quy định về thời gian sử dụng đất công ích ..................................................38
2.3.3.2. Quy định về diện tích đẩt công ích được sử dụng..........................................39
2.3.3.3. Quy định về giá đất khi hộ gia đĩnh, cá nhân thuê đất công ích ...................41
2.3.4. Quyền và nghĩa vụ cửa chủ thể sử dụng đất công ừh....................................42
2.3.4.1. Quyền của chủ thể sử dụng đẩt công ích ......................................................42
2.3.4.2............................................................................................................................ N
ghĩa vụ của chủ thể sử dụng đất công ích.....................................................................44
nhà. Ở Việt Nam, đất đai thuộc sở hữu toàn dân, trong đó Nhà nước là đại diện chủ sở
hữu1, thay mặt toàn thể công dân quản lý bằng những quy tắc xử sự chung, nhằm bảo
tồn gìn giữ và phát huy tốt các tiềm năng của đất.
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường, nhu cầu sử dụng
đất ngày càng đa dạng và trở nên là vấn đề cấp thiết, cần có một cơ chế quản lý hiện
đại, thích hợp và sử dụng tiết kiệm hơn nguồn nguyên liệu quý giá này. Tuy nhiên, với
diện tích đất rộng khắp trên cả nước, với nhiều loại đất được phân chia khác nhau, thì
đội ngũ quản lý, các cơ quan chức năng về đất đai hiện nay là chưa cân bằng, chưa đủ
để làm tốt công tác kiểm tra, giám sát về khai thác và sử dụng đất. Bên cạnh đó, còn có
nhiều nguyên nhân khác nữa tác động đến việc quản lý và sử dụng đất ở nước ta hiện
nay, do đó mà pháp luật đất đai còn nhiều sơ hở, trong một số lĩnh vực, một số khâu,
của hoạt động quản lý, sử dụng còn nhiều thiếu sót và hạn chế. Được coi là nguồn gốc
chính làm phát sinh tình trạng các vụ khiếu nại về đất đai gia tăng nhanh như hiện nay.
Đất công ích cũng là một vấn đề nằm trong số còn nhiều bất cập đó, là loại đất
được hình thành, với sự tự chủ trong việc xin giao, tự chịu trách nhiệm quản lý và sử
dụng đất công ích, của chính quyền địa phương. Diện tích đất để lại, chủ yếu nhằm
giải quyết tốt việc cải tạo và chỉnh trang diện mạo nông thôn, làm cơ sở hạ tầng phát
triển mọi mặt của địa phương. Bên cạnh những mục đích có lợi cho địa phương, cho
đất nước như vậy, đất công ích trở thành một chính sách hữu ích và quan trọng của
Nhà nước trong chủ trương bảo vệ quỹ đất nông nghiệp. Song vói những ưu điểm đó,
vẫn tồn tại một số điểm yếu, làm tiền đề cho hàng loạt các hành vi sai phạm phát sinh
như: tình hình tham nhũng cộng thêm lãng phí gia tăng, tình trạng để lại không đúng
diện tích, quản lý, sử dụng không đúng thẩm quyền, không đúng mục đích,... diễn ra
ngày càng nhiều, có nơi không có đất công ích, trong khi nơi khác quỹ đất này được để
lại và nhiều hơn hạn mức quy định, hơn nữa còn có tình trạng để trống không sử dụng,
hoang hóa lãng phí đất đai. Những ưu điểm của đất công ích là không nhỏ, tuy nhiên
nhược điểm cũng khá lớn, ảnh hưởng nhiều đến chính sách đất đai và tình hình phát
triển chung của cả nước. Khi đi vào nghiên cứu về vấn đề này, sẽ thấy rõ hơn những
ưu điểm, cũng như những thiếu sót trong quá trình quản lý, sử dụng đất đai nói chung
các số liệu thống kê, khảo sát sẵn có từ đề tài nghiên cứu khoa học, kết hợp với số liệu
ở các trang thông tin điện để làm tư liệu cho đề tài này .
4. Phương pháp nghiên cứu
Áp dụng chủ yếu các phương pháp đã được hướng dẫn trong quá trình học tập
như phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, vận dụng các quan điểm chính sách
pháp luật của Nhà nước, cùng với việc tham khảo các sách báo, giáo trình và các công
trinh nghiên cứu luật học, mà người viết đã hoàn thành luận văn.
5. Bố cục đề tài
Bố cục của luận văn được người viết trình bày như sau: phần lời nói đầu, phần
nội dung và phần kết luận. Trong phần nội dung gồm có ba chương:
Chương 1. Sơ lược về đất công ích: chương này chủ yếu trình bày các vấn
đề cơ bản của đất công ích trên phương diện lý luận, về khái niệm, mục đích và ý
nghĩa của đất công ích. Cũng như quá trình khẳng định vị trí của quỹ đất công ích
ữong hệ thống pháp luật đất đai nước ta.
GVHD: Ths. Nguyễn Thị Thanh Xuân
2
SVTH: Đoàn Thị Kiều Ngân
Pháp luật về quản lý, sử dụng đất công ích
Chương 2. Quy định pháp luật cụ thể về quản lý, sử dụng đất công ích: nội
dung ở đây chủ yếu đề cập đến các quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng đất
công ích. Đồng thời đi sâu, phân tích các quy định đó làm tiền đề cho việc nghiên cứu
thực trạng quản lý, sử dụng quỹ đất này.
^ Chương 3. Thực trạng quản lý, sử dụng đất công ích: vấn đề được tìm hiểu
trong chưomg này chủ yếu là tình hình thực tế trong công tác quản lý, sử dụng đất công
ích từ khi quỹ đất này được pháp luật đất đai ghi nhận cho đến nay, tìm ra các nguyên
1.1.1. Khái niệm đất công ích
Trong các quy định của pháp luật đất đai trước kia, cũng như Luật Đất đai hiện
hành không có một khái niệm cụ thể nào cho đất công ích, nhưng có thể rút ra từ các
quy định đó một cách khái quát: đất công ích là diện tích đất mà mỗi xã, phường, thị
trấn căn cứ vào quỹ đất, đặc điểm và nhu cầu của địa phương, mà được giữ lại không
quá năm phần trăm (5%) trong tổng diện tích đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu
năm và đất nuôi trồng thủy sản của địa phương để thực hiện các mục đích công ích tại
xã, phường, thị trấn thuộc địa phương đó2.
Từ khái niệm trên nên hiểu rằng, đất công ích là loại đất thuộc nhóm đất nông
nghiệp, trích ra nhằm sử dụng vào mục đích công ích và chỉ được giữ lại trong giới
hạn pháp luật cho phép là từ 5% hoặc ít hơn, so với tổng diện tích đất sản xuất nông
nghiệp có trong phạm vi địa bàn địa phương.
Tìm hiểu về nhóm đất nông nghiệp: theo quan niệm truyền thống của người
Việt Nam, thì đất nông nghiệp thường được hiểu là đất trồng lúa, trồng cây hoa màu
như: ngô, khoai, sắn và các loại cây khác được coi là lương thực. Tuy nhiên, việc sử
dụng đất nông nghiệp trên thực tế không chỉ phục vụ gói gọn trong các hoạt động sản
xuất đó, còn một số mục đích khác mà đất nông nghiệp là phương tiện thực hiện, như
chăn nuôi gia súc, gia cầm, nuôi trồng thủy sản và trồng các loại cây lâu năm và cả đất
làm muối, tùy theo từng quy định, từng căn cứ khác nhau mà có sự phân loại đất khác
nhau. Luật Đất đai năm 1987 căn cứ vào mục đích sử dụng đã phân đất đai thành năm
loại3:
3. Đất nông nghiệp;
4. Đất lâm nghiệp;
5. Đất khu dân cư;
GVHD: Ths. Nguyễn Thị Thanh Xuân
1
SVTH: Đoàn Thị Kiều Ngân
nghiệp, đất lâm nghiệp, trồng cây hàng năm, trồng cây lâu năm, đất nuôi trồng thủy
sản. Ngoài ra, còn có đất nông nghiệp khác theo quy định của Chính phủ. Như vậy, đất
công ích được khẳng định trong Luật Đất đai năm 2003, được chỉ rõ là quỹ đất được
lập với ba loại cụ thể là đất trồng cây hàng năm, cây lâu năm và đất nuôi trồng thủy
sản không nói đến các loại đất nông nghiệp khác mà Chính phủ quy định, dùng để
phục vụ nhu cầu công ích của địa phương. Tuy qua nhiều lần Luật Đất đai được sửa
đổi, bổ sung, đất nông nghiệp đã bước ra khỏi cái giới hạn trước đó và mang nội hàm
rộng hơn, có thêm nhiều loại đất khác góp mặt vào nhóm đất này. Nhưng nhìn chung,
thì đất công ích không thay đổi, vẫn giữ nguyên cái bản chất ban đầu, là được sinh ra
từ đất sản xuất nông nghiệp tại cấp xã.
GVHD: Ths. Nguyễn Thị Thanh Xuân
2
SVTH: Đoàn Thị Kiều Ngân
Pháp luật về quản lý, sử dụng đất công ích
1.1.2. Mục đừh của đất công ích
Mỗi một loại đất có tên gọi khác nhau, sẽ có những tính chất, đặc điểm riêng
đáp ứng các mục đích sử dụng khác nhau. Với tên gọi, cũng như những quy định của
Luật Đất đai về đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích, thì đất công ích chủ
yếu chỉ nhằm phục vụ vào các hoạt động công cộng của các xã, phường, thị trấn. Mục
đích công ích mà quỹ đất này được để lại, nhằm đáp ứng nhu cầu gồm các công trình
văn hóa, thể dục thể thao, y tế, vui chơi giải trí công cộng, nghĩa trang, nghĩa địa và
các công trình khác theo quyết định sử dụng của ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương.
Bên cạnh đó, còn dùng đất vào việc xây dựng nhà tình thương, nhà tình nghĩa
cho những gia đình nghèo, neo đơn hoặc gia đình có công với cách mạng, bồi thường
SVTH: Đoàn Thị Kiều Ngân
5
6
Điều 86 Luật Đất đai năm 2003.
Viện Khoa Học Đo Đạc và Bàn Đồ: Nghiên
Pháp luật về quản lý, sử dụng đất công ích cứu thực trạng quỹ đất công ích và cắc giải pháp
nhằm nâng cao
hiệu quả quản lý, sử dụng đất công ích, 2002, tr.13.
chấp thuận của Nhà nước. Vậy ở đây, người chịu hách nhiệm xin phép chuyển mục
đích sử dụng là ủy ban nhân dân vì là người sử dụng đất trực tiếp nhất, mọi vấn đề về
thu hồi đất và các chi phí phát sinh sẽ do Nhà nước chi trả vì nhìn chung các hoạt động
đều nhằm phát triển đất nước, phục vụ nhân dân.
Ngoài ra, đất công ích còn được sử dụng như là cơ sở hạ tầng, nhằm phục vụ
cho Nhà nước trong việc chỉnh trang, phát triển các khu dân cư nông thôn 5. Cùng các
mục đích khác phát sinh trực tiếp trong nhu cầu sử dụng tại địa phương như trường
họp cho người dân diện tích đất công ích làm nhà ở theo dạng cấp đất dãn dân 6 hoặc
do Chính phủ quy định.
1.1.3. Ý nghĩa của đất công ích
1.1.3.1. Ý nghĩa về mặt kinh tế của đất công ích
Là một tư liệu sản xuất quan trọng trên tất cả các lĩnh vực, ngành nghề, đất đai
giữ một vai trò đặc biệt và chính yếu trong đời sống và phát triển chung của xã hội, mà
điển hình là về kinh tế. Như đã biết nước ta phát triển chủ yếu về nông nghiệp, chiếm
khoảng 70% dân số sống bằng nghề làm nông. Từ đó cho thấy, có xuất phát từ đất
cái tên đất nông nghiệp dùng vào mục đích công ích. Hom nữa phần diện tích đất công
ích cho hộ gia đình cá nhân thuê là diện tích đất chỉ sử dụng để sản xuất nông nghiệp
nên nó vẫn nằm trong quỹ đất nông nghiệp. Tóm lại, dù giải pháp này không mấy
thuyết phục nhưng cũng có ý nghĩa trong việc góp phần nhỏ bảo vệ quỹ đất nông
nghiệp.
Tuy nguồn thu từ quỹ này chưa cao, nhưng đã tạo điều kiện cho chính quyền
cấp xã chủ động hom trong vấn đề sử dụng tài chính, cho xây dựng cơ sở hạ tầng và
các công trình kiến trúc công cộng khác. Trên nền tảng có sẵn đất trống thuộc thẩm
quyền sử dụng, cộng thêm tiền có được từ việc cho thuê đất công ích, việc thực hiện
xây dựng, phát triển các công trình không cần chờ đợi. Nếu không có quỹ đất này, thì
khi mà chính quyền cấp xã muốn xây dựng công trình công ích của địa phương mình
sẽ phải xin đất, và nếu đất không là đất sạch thì phải chờ thực hiện công tác giải phóng
mặt bằng, huy động vốn trong nhân dân, sẽ gặp nhiều khó khăn về thời gian, về cả vấn
đề tài chính, vì mỗi nhà mỗi cảnh đâu phải ai cũng có tiền, và đóng góp ngay được,...
Là một đom vị hành chính nhỏ, nhưng lại là tế bào góp phần quan trọng tạo nên nền
móng của bộ máy hành chính trên cả nước, việc chậm tiến độ phát triển của các xã,
phường, thị trấn sẽ gây ảnh hưởng lớn dẫn đến trì truệ trong sự phát triển chung của cả
nền kinh tế nước nhà.
Tóm lại, đất công ích như là một giải pháp hữu ích đáp ứng kịp thời, chủ động
cho địa phương, trong việc xây dựng các công trình công ích, chủ động phát triển về
mọi mặt, phục vụ đắt lực cho sự nghiệp phát triển kinh tế của địa phương nói riêng và
của đất nước nói chung.
1.1.3.2. Ý nghĩa về mặt xã hội của đất công ích
Ngoài các ưu điểm về kinh tế, đất công ích đóng một vai trò không kém trong
xã hội. Khi hình thành được quỹ đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích cho
địa phương, sẽ giúp cho nơi đó có đủ cơ sở, tư liệu sản xuất kinh tế phục vụ, cải tạo
đời sống cho người dân trên địa bàn xã, phường, thị trấn. Các công trình công cộng
như trường học, bệnh viện các khu vui chơi giải trí được xây dựng lên đáp ứng đầy đủ
tất cả các nhu cầu vui chơi lành mạnh, sức khỏe và văn minh cho địa bàn địa phương
đang quản lý quỹ đất công ích.
phạm vi không vượt hạn mức 5%, trong tổng diện tích đất nông nghiệp của xã,
phường, thị trấn có thể coi là giải pháp góp một phần nhỏ vào tạo dựng thế cân đối của
xã hội.
1.1.33. Ý nghĩa về mặt chính trị của đất công ích
Ngoài tác dụng mang đặc tính chung của đất, trong vai trò là tư liệu sản xuất
quan trọng, đất đai còn là cơ sở vật chất hữu hiệu trong việc vạch định ranh giới lãnh
thổ, khẳng định chủ quyền quốc gia. Đất còn có ý nghĩa riêng trong từng lĩnh vực,
kinh tế, xã hội như đã được phân tích trên, là đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích
công ích của địa phương, đất công ích cũng vậy, thể hiện đầy đủ vai trò của đất.
Một đất nước phát triển, thì điều đầu tiên là phải có được một chế độ chính trị
vững mạnh, đường lối chính sách phát triển rõ ràng, và để đạt được như vậy thì cần
nhất là một nền kinh tế ổn định, xã hội cân bằng, văn minh. Từ đó cho thấy, đất công
ích đủ điều kiện để góp phần đưa đất nước tiến nhanh trên con đường phát triển.
Đất công ích là loại đất đặc biệt ở nước ta, nó như là một chế định riêng, nhằm
nói lên đường lối, chính sách của một nước đang phát triển và khẳng định sở hữu toàn
dân về đất đai của Việt Nam, thể hiện sự chăm lo của Nhà nước đối với đời sống cho
từng người dân, từng địa phương, khi chính quyền cấp xã có quyền tự quyết trên diện
GVHD: Ths. Nguyễn Thị Thanh Xuân
6
SVTH: Đoàn Thị Kiều Ngân
7
Nguyễn Đức Khả: Lịch sử quản lý đất đai, Nxb. Đại học quốc gia, Hà Nội, 2003, tr. 156.
Pháp luật về quản lý, sử dụng đất công ích
ít đến diện tích đất công mà còn được gọi là công điền, công thổ.
Năm 1959, với bản điều lệ tóm tắt của hợp tác xã sản xuất nông nghiệp bậc
thấp, thuật ngữ đất 5% bắt đầu xuất hiện, tuy không hoàn toàn giống với đất công ích
5% như hiện nay nhưng có thể ghi nhận đó như là một quy định tương tự, làm nền cho
các định chế sau này về đất công ích.
GVHD: Ths. Nguyễn Thị Thanh Xuân
1
SVTH: Đoàn Thị Kiều Ngân
Pháp luật về quản lý, sử dụng đất công ích
Bắt đầu từ năm 1980, Nhà nước ta chính thức xác lập chế độ sở hữu toàn dân
đối với đất đai trong bản Hiến pháp năm 1980, ở giai đoạn này lại không tìm thấy có
quy định cụ thể nào hình thành nên đất công ích, mặc dù có sự tồn tại của loại đất này
và nó hiện diện dưới dạng đất công thuộc về nhân dân.
Như vậy, đất công ích trong giai đoạn trước khi có sự ra đời của Luật Đất đai là
một quy định không rõ ràng, tồn tại dưới dạng trộn lẫn với tổng thể đất đai rộng lớn
của cả nước, không có sự phân chia, nên nó được định hình một cách mờ nhạt ở thời
điểm trước, rồi lại không xuất hiện ở thời gian này dù vẫn có sự hiện hữu của đất công
ích với tên gọi khác trong đời sống người dân.
1.2.2. Đất công ích trong tiến trình hình thành và phát triển của Luật Đất đài
Sau quyết định công nhận chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai, năm 1987
Luật Đất đai đầu tiên ra đời, trở thành một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật
Việt Nam, được coi như là bước luật hóa các chính sách về chế độ ruộng đất, văn bản
luật này đã đặt nền móng đầu, bền vững cho hệ thống địa chính nước ta. Tuy vậy,
những quy định của luật trong giai đoạn này vẫn còn ở mức sơ khai, cho nên đất đai
tiếp tục vận hành theo cơ chế Nhà nước bao cấp về đất, do đó đất không có giá và càng
Điều 14, 15 Bản quy định về việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào
mục đích sản xuất nông nghiệp, ban hành
Pháp luật về quản lý, sử dụng đất công ích kèm theo Nghị định số 64/1993/NĐ-CP của chính phủ
ngày
27/9/1993.
9
Điều 8, Nghịích của địa phương mình, được ghi nhận ở Điều 45 Luật Đất đai năm 1993. Cụ thể hơn định số 85/1999/NĐ-CP
của Chính
phủ ngày 28/8/1999 sửa
về quản lý, sử dụng loại đất này với bản quy định về việc giao đất cho hộ gia đình, cá sung một số điều của
đổi,
bổ
bản
quynhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp, ban hành kèm theo
định về việcNghị định số 64/1993/NĐ-CP ngày 27/9/1993 8, sau đó lại được sửa đổi, bổ sung tronggiao đất nông nghiệp
cho hộ gia
đình, cá nhân sử dụng
Nghị định số 85/1999/NĐ-CP9.
ổn định lâu
dài vào mục đích sản
Luật Đất đai năm 2003, tiếp thu và hoàn thiện hơn về sự tồn tại của loại đất
xuất nông
nghiệp, vàcông ích tại Điều 72, được hướng dẫn thi hành tại Nghị định số 181/2004/NĐ-CP, do bổ sung việc giao đất
làm muốiChính phủ ban hành ngày 29/10/2004 10. Nhìn chung thì giai đoạn này đất công ích cho hộ gia đình và cá
nhân
sử
ổn định lâu dài.
được quy định không khác gì so với Luật Đất đai năm 1993. Cụ thể là nếu như ở Luật dụng
10
Điều 74, Nghị
9
SVTH: Đoàn Thị Kiều Ngân
11
Điều 4 Nghị định số
một số điều của Luật Đất đai.
04/2000/NĐ-CP
của
Chính
phủ
ngày
11/02/2000
về
việc
thi
hành
Có thể liệt kê các mục đích công cộng bao gồm: đất để xây dựng các công trình
chung sử dụng chung cho cả cộng đồng dân tộc, xây dựng đường giao thông, cầu
cống, vĩa hè, hệ thống cấp thoát nước, sông hồ, đê, đập, trường học, bệnh viện, công
viên, chợ, vườn hoa, khu vui chơi trẻ em, quảng trường, sân vận động, sân bay bến
cảng, đất xây dựng nhà máy điện, trạm biến thế điện, đường ống dẫn xăng dầu, đường
ống dẫn khí, đài khí tượng thủy văn, các trạm quan trắc phục vụ nghiên cứu và dịch vụ
công cộng, công trình thủy lợi, bến tàu, bến xe, bến phà, sân ga, vườn quốc gia, khu an
dưỡng, khu nuôi dưỡng trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, nghĩa trang, nghĩa địa,... 11
Theo Tờ trình Quốc hội về quy hoạch sử dụng đẩt đến năm 2010 và kế hoạch sử dụng
GVHD: Ths. Nguyễn Thị Thanh Xuân
10
SVTH: Đoàn Thị Kiều Ngân
đổi,
bổ
sung
12
Tờ trinh Quốc hội về quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 và kế hoạch sử dụng đất đến năm 2005 của cả
nước, Hà Nội, tháng 5 năm 2004, Sđd, tr.
Pháp luật về quản lý, sử dụng đất công ích 8 (tài liệu này được dẫn từ Giáo trình Luật Đất đai,
Trường
Đại
nhóm đất phi nông nghiệp thì khác, loại đất này vừa mang tính công ích lại vừa có bản
chất của hoạt động kinh doanh phi nông nghiệp.
Dựa vào những liệt kê ở trên về mục đích công cộng của đất phi nông nghiệp có
thể thấy trường hợp điển hình là loại đất xây dựng nghĩa trang, nghĩa địa. Đây là công
trình xuất hiện trên nhiều loại đất khác nhau, nó được xếp vào mục đích của đất công
GVHD: Ths. Nguyễn Thị Thanh Xuân
11
SVTH: Đoàn Thị Kiều Ngân
13
14
Nguyễn Đức Khả: Lịch sử quản lý đẩt đai, Nxb. Đại học quốc gia, Hà Nội, 2003, tr. 143.
Trường Đại học Luật Hà Nội: Giáo trình
Pháp luật về quản lý, sử dụng đất
tr. 56.
công ích
Luật đất đai, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2008,
ích và cùng nằm trong các loại đất thuộc nhóm đất phi nông nghiệp. Dù được hình
thành trên mảnh đất nào đi nữa thì nghĩa ữang, nghĩa địa cũng là nơi an nghỉ cuối cùng
của những người đã khuất, nhưng cần phân biệt, vì hiện nay xuất hiện mục đích kinh
doanh từ các khu nghĩa trang nghĩa địa này. Có thể dễ dàng nhận thấy rằng, các công
trình nhằm an táng những người đã mất mà thuộc khu đất công ích, thì sẽ chỉ là công
GVHD: Ths. Nguyễn Thị Thanh Xuân
12
SVTH: Đoàn Thị Kiều Ngân
Ths. Nguyễn Thị Thanh Xuân: Giáo trình Luật đất đai, truờng Đại học cần Thơ, 2009, tr. 14.
Điều 9 Chương 3, Thông tư số 449-TTg của
Pháp luật về quản lý, sử dụng đất công
hành
điều
lệ
mẫu Hợp tác xã sản xuất nông nghiệp bậc thấp.
17
Khoản 1 Điềuloại của Luật Đất đai năm 2003 thì nó thuộc về nhóm đất
1987.
15
16
ích Thủ
tướng Chính Phủ ngày 17/12/1959 về việc ban
chưa sử dụng. Nhóm đất 27
chưa sử dụng bao gồm các loại đất chưa xác định được mục đích sử dụng như15:
- Đất bằng chưa sử dụng;
- Đất đồi núi chưa sử dụng;
- Núi đá không có rừng cây.
13
SVTH: Đoàn Thị Kiều Ngân
Luật Đất đai năm
Pháp luật về quản lý, sử dụng đất công ích
5%, nhưng đất phần trăm mỗi xã viên được cho phép sử dụng chỉ để trồng rau và hoa
quả không có diện tích dành cho nuôi trồng thủy sản và cây lâu năm. Còn riêng hai
thuật ngữ đất 5% làm kinh tế phụ gia tình trong Luật Đất đai năm 1987 và đất công
ích đã thể hiện điểm khác nhau điển hình về mục đích sử dụng dù rằng nguồn gốc để
lại hai loại đất này đều được trích từ quỹ đất nông nghiệp ở cấp xã của từng địa
phương. Vì đất công ích đáp ứng nhiều nhu cầu hơn khi vừa được sử dụng làm các
công trình công ích của xã vừa phục vụ cho bà con nông dân trong xã đó canh tác, sản
xuất nông nghiệp, khác hơn, đất phần trăm có phạm vi sử dụng hẹp, chỉ duy nhất có
việc phụ giúp cho gia tình các hộ trong địa phương đó làm kinh tế, trong khi diện tích
giới hạn cho loại đất này được giử lại ở mỗi nơi lên đến 10%, rộng hơn gấp đôi so với
đất công ích 5%.
Qua đó có thể thấy rằng tuy ở các giai đoạn, thời gian khác nhau có những quy
định và chính sách khác nhau. Nhưng nhìn chung lại, thì Nhà nước cũng có các giải
pháp, cũng như tiêu chí ngày càng hoàn thiện hơn, là hình thành nên một quỹ đất công
ích, tạo điều kiện khuyến khích đầu tư phát triển, giúp ổn định đời sống cho người dân
ở từng cấp, từng xã, phường, thị trấn.
Tóm lại, đất công ích không phải là một chế định hoàn toàn mới vì về thực chất
nó đã có mặt từ rất lâu gẳn với đời sổng nhân dân với nhiều hình thức khác nhau, sự
góp mặt của đất công ích cùng một chút khác biệt so với tổng thể đất đai ở Việt Nam
đem lại rất nhiều ý nghĩa và thuận lợi cho sự phát triển của đất nước. Vì vậy, vấn đề
đặt ra là phải quản lý và sử dụng quỹ đất này thật tốt và hiệu quả, phát huy hơn nữa
tạo lập được đất, đó là xin giao đất và thuê đất của Nhà nước.
Luật Đất đai quy định các loại đất dù là nông nghiệp, phi nông nghiệp hay bất
cứ đất nào, thì để tạo lập nên loại đất đó cũng dựa trên hai căn cứ chủ yếu 18: thứ nhất,
là dựa vào quy hoạch, kế hoạch tổng thể đã được cơ quan có thẩm quyền xét duyệt.
Thứ hai, là nhìn vào nhu cầu sử dụng đất cụ thể, được thể hiện trong dự án đầu tư đơn
xin giao đất, thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất. Đất công ích vì là diện tích được
trích từ đất sản xuất nông nghiệp nên không nằm ngoài quy định đó, quy hoạch, kế
hoạch sử dụng đất cũng được xem là căn cứ quan trọng nhất, trong việc tạo lập nên
quỹ đất này. Khi cần diện tích đất thực hiện mục đích công ích cho địa phương, các
cán bộ của ủy ban nhân dân cấp xã tiến hành tổ chức lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng
đất chi tiết của xã, phường, thị trấn, trình lên cơ quan cấp trên có thẩm quyền xét
duyệt, mà cụ thể ở đây là ủy ban nhân dân cấp huyện, nếu được chấp thuận và có
thêm quyết định tỷ lệ đất công ích cho phép để lại của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, thì
quỹ đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích của cấp xã đã được tạo lập, và
đương nhiên nguồn gốc của quỹ đất này, là xuất phát từ tổng diện tích đất nông nghiệp
của chính địa phương có nhu cầu để lại đất công ích.
Khi nhắc đến nguồn gốc hình thành nên diện tích đất công ích, thì ngoài diện
tích được Nhà nước giao, theo nhu cầu trong quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, thì quỹ
đất này còn được góp lại, từ đất không được Nhà nước trực tiếp chuyển giao. Mà nó
vận hành theo con đường ngược lại, tức là các diện tích đất do tổ chức, hộ gia đình cá
nhân tự động trả lại đất hoặc tặng cho quyền sử dụng đất, mà họ không sử dụng hay sử
GVHD: Ths. Nguyễn Thị Thanh Xuân 15
SVTH: Đoàn Thị Kiều Ngân