Pháp luật về phòng, chổng bạo lực gia đình - Thực trạng và giải pháp
DANHLỜI
MUCCÁM
TỪ VIẾT
ƠN TẮT
«
1. BLGĐ
Bạo lực gia đình;
Qua một thời gian dài tự tìm hiểu, nghiên cứu cùng với sự hướng dẫn tận tình của
Phòng,
chổng
lực gia
2. khoa
PCBLGĐ
quý thầy cô trong
Luật, em đã hoàn thành
tốt đề
tài: bạo
“Pháp
luậtđình;
về phòng,
Vỉ
phạm
hành
chính;
chổng bạo lực gia đình - Thực trạng và giải pháp”.
ủy ban nhân dân;
Em tên là: Nguyễn Phỉ Hùng
MSSV: 5062325
Thuộc đơn vị lóp: Thương Mại 1 - K32
Đằ tài Luân văn của em là:
“PHÁP LUẬT VÈ PHÒNG, CHỔNG BẠO Lực GIA ĐÌNH
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP”
Do Thầy nguyễn Hữu Lạc hướng dẫn.
Sau đây em xin bắt đầu bài báo cáo:
Gia đình là tế bào của xã hội, nơi duy trì nòi giống, là môi trường quan trọng hình
thành, nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách con người, bảo tồn và phát huy văn hoá truyền thống
tốt đẹp, chống lại các tệ nạn xã hội, tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc.
Tuy nhiên, vấn đề hiện nay tiềm ẩn trong mọi gia đình là vấn nạn bạo lực gia đình
(BLGĐ). Có thể thấy BLGĐ hiện nay đã và đang là vấn đề mang tính toàn cầu, gây nhức nhối
cho nhân loại, để lại nhiều hậu quả nghiêm ừọng cho con người.
BLGĐ đã tác động đến quyền con người trên mọi khía cạnh của cuộc sống, ảnh hưởng
nghiêm trọng tới sức khỏe và tinh thần của con người. Trên thực tế, BLGĐ không chỉ gây ra
những đau đớn về thể xác và tinh thần mà còn cướp đi sinh mạng của bao nhiêu người, vi
phạm nghiêm trọng quyền được sống - quyền cơ bản và quan trọng nhất của một con người.
Theo số liệu thống kê từ Bộ Công An, trên toàn quốc cứ khoảng 2 đến 3 ngày lại có một
người bị giết có liên quan đến BLGĐ. Hàng năm, 2,3% gia đình có hành vi bạo lực về thể chất
(đánh đập), 25% gia đình co hành vi bạo lực tinh thần, 30% cặp vợ chồng có hiện tượng ép
buộc quan hệ tình dục. Trong năm 2005, có 14% số vụ giết người liên quan đến BLGĐ
- về các hành vi BLGĐ được liệt kê tại điều 2, gồm 9 loại hành vi cụ thể thuộc 4 nhóm là: Bạo
lực thể chất, tinh thần, tình dục và kinh tế.
Nhỏm 1, nhóm hành vi bạo lực về thể chất: Bao gồm hành vi về hành hạ, ngược đãi,
đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khỏe, tính mạng.
Nhỏm 2, nhóm hành vi bạo lực về tinh thần: Bao gồm các hành vi lăng mạ hoặc hành
vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm: cô lập hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý
gây hậu quả nghiêm trọng; ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình
giữa ông bà và cháu; giữa cha mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau; hành
vi trái Pháp luật buộc thành viên gia đình ra khỏi chổ ở; cưõng ép tảo hôn; cưỡng ép kết hôn,
ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ. {Bắt nạn nhân sắng trong bầu không khí sợ
hãi, khủng bố nạn nhân đến hoản loạn tâm thần như: nhục mạ trước công chúng, dùng lời
lẽ chỉ trích quá đáng, liên tục, truy hỏi, nói nặng lời đê hạ nhục nhân phàm).
Nhỏm 3, nhóm hành vi bạo lực về kinh tế: Bao gồm chiếm đoạt, hủy hoại, đập phá
hoặc có hành vi khác cố ý làm hư hỏng tài sản riêng của thành viên khác trong gia đình hoặc
tài sản chung của các thành viên trong gia đình; cưỡng ép thành viên trong gia đình lao động
quá sức, đóng góp tài chính quá khả năng của họ; kiểm soát thu nhập của thành viên gia đình
nhằm tạo ra tình trạng phụ thuộc về tải chính.
Nhỏm 4, nhóm hành vi bạo lực về tình dục: gồm các hành vi cưỡng ép quan hệ tình
dục. (Ép bạn đời làm tình và xem hình ảnh khiêu dâm; ép “chăn gối” sau khi đánh đập;
cưỡng hiếp khi bạn dời ngủ, dau ốm).
CHƯƠNG 3: THựC TRẠNG HOẠT ĐỘNG PHÒNG, CHÓNG BẠO Lực GIA
ĐÌNH Ở MỘT SÓ ĐỊA PHƯƠNG VÀ CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN
góp phàn xây dựng xã hội an toàn và không còn BLGĐ.
Do đây là lần đầu tiên làm Luận vãn, kiến thức và thòi gian còn hạn chế nên những vấn
đề tìm hiểu phân tích ừong đề tài khó tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong quý Hội đồng
đóng góp ý kiến để người viết sửa chữa và được hiểu sâu hơn về đề tài này.
nguyên phỉ hùng
Pháp luật về phòng chổng bạo lực gia đình - Thực trạng và giải pháp
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Cần Thơ, ngày........tháng..........năm 2010.
GVHD: Nguyên Hữu Lạc
SVTH: Nguyễn Phi Hùng
Pháp luật về phòng chổng bạo lực gia đình - Thực trạng và giải pháp
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN
Cần Thơ, ngày........tháng..........năm 2010.
GVHD: Nguyễn Hữu Lạc
SVTH: Nguyễn Phi Hùng
Pháp luật về phòng chổng bạo lực gia đình - Thực trạng và giải pháp
1.2. Nguồn gổc và đặc điểm của bạo lực gia đình ................................................ 18
1.2.1. Nguồn gốc của bạo lực gia đình............................................................................ 18
1.2.2.................................................................................................................................. Đặc
điểm của bạo lực gia đình ................................................................................................21
1.3................................................................................................................................ Phâ
n loại hành vi bạo lực gia đình.................................................................................. 24
1.4................................................................................................................................ Tác
động của bạo lực gia đình đến đời sống xã hội........................................................ 25
1.5................................................................................................................................ Ngu
yên nhân của bạo lực gia đình và hậu quả của nó .................................................. 29
1.5.1. Nguyên nhân của bạo lực gia đình........................................................................29
1.5.2. Hậu quả của bạo lực gia đình ...............................................................................32
1.6. Sự cần thiết phải ban hành Luật phòng, chổng bạo lực gia đình ................34
1.6.1. Bạo lực gia đình diễn ra ở nhiều nơi, mọi đối tượng ............................................34
GVHD: Nguyễn Hữu Lạc
SVTH: Nguyễn Phi Hùng
Pháp luật về phòng chổng bạo lực gia đình - Thực trạng và giải pháp
1.6.2.................................................................................................................................
Sự
cần thiết phải ban hành Luật phòng, chống bạo lực gia đình...........................................36
1.6.3.................................................................................................................................
Ý
nghĩa của việc ban hành Luật phòng, chống bạo lực gia đình..........................................37
đình ......... .................................................................................................................38
..........................................................................................................................................78
3.1.3.1............................................................................................................................... Nhữ
ng thuận lợi trong việc phòng, chống bạo lực gia đình ....................................................78
3.1.3.2............................................................................................................................... Nhữ
ng khó khăn trong việc phòng, chống bạo lực gia đình.................................................... 79
3.2.
Các biện pháp ngăn chặn........................................................................... 80
3.3. Đề xuất............................................................................................................... 81
PHẦN KÉT LUẬN
GVHD: Nguyễn Hữu Lạc
SVTH: Nguyễn Phi Hùng
Pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình - Thực trạng và giải pháp
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Nhiều gia đình cộng ỉại mới thành xã hội,
gm đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt. Hạt nhân của xã hội là gia
đình
Gia đình là tế bào của xã hội, nơi duy trì nòi giống, là môi trường quan trọng h ình
thành, nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách con người, bảo tồn và phát huy văn hoá truyền
thống tốt đẹp, chống lại các tệ nạn xã hội, tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp xây
lực về thể chất (đánh đập), 25% gia đình có hành vi bạo lực tinh thần, 30% cặp vợ chồng
có hiện tuợng ép buộc quan hệ tình dục. Trong năm 2005, có 14% số vụ giết nguời liên
quan đến BLGĐ (151/1113 vụ giết nguời thì trong đó có 39 vụ chồng giết vợ, 8 vụ vợ
giết chồng); Trong 6 tháng đầu năm 2006, tỉ lệ này là 30,5% (Trong tổng số 26/77 vụ).
Còn ở An Giang, theo báo cáo của Sở Y tế Tỉnh này thì các nạn nhân của BLGĐ
đã đuợc điều trị trong năm 2005 có 1.319 bệnh nhân, trong đó có 1.011 nguời tự tử với
30 nguời chết; Ở Gia Lai có 3.944 bệnh nhân, trong đó có 715 nguời tự tử với 27 nguời
chết; Ở Bắc Giang có 464 bệnh nhân, trong đó có 174 người tự tử với 3 người bị chết...
Tương tự như quyền sống, mặc dù quyền bất khả xâm phạm về thân thể, danh dự,
nhân phẩm chủ yếu được đề cập trong mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân. Song,
trcn thực tế, BLGĐ là một trong các nguyên nhân phổ biển nhất dẫn đến sự xâm phạm
quyền bất khả xâm phạm về thân thể, danh dự, nhân phẩm. Theo ước tính, mỗi năm, trên
thế giới có khoảng 120 đến 135 triệu phụ nữ bị cắt bỏ cơ quan sinh dục; khoảng 52% số
phụ nữ trên toàn cầu đã từng là nạn nhân của bạo lực về thể chất từ phía người chồng
hoặc bạn trai. BLGĐ để lại những vết thương và những đau đớn về thể xác, thậm chí có
trường họp dẫn đến tử vong. Thêm vào đó hậu quả tiêu cực còn ảnh hưởng lên con cái,
gia đình họ và cả thiệt hại về kinh tế nói chung.
Đối với những nạn nhân là những người chồng trong gia đình thì thường chịu bạo
lực về tinh thần. Các hình thức bạo lực của người vợ đối với người chồng cũng vô cùng
đa dạng, phong phú, không kém gì của người chồng đối với người vợ. Vũ khí mà những
người vợ dùng để gây bạo lực với chồng là "khủng bố" tinh thần. “Mặt nặng mày nhẹ”,
nhiếc móc khả năng kiếm tiền của chồng, nói xấu về khả năng làm trụ cột gia đình của
chồng, "cấm vận" tình dục, kiểm soát các cuộc điện thoại, các mối quan hệ, lục lọi ví
tiền, nói xấu và lôi kéo con cái chống lại chồng, coi thường chồng, ghen tuông vô lối... là
những hành vi bạo lực hay gặp.
GVHD: Nguyễn Hữu Lạc
nữ và trẻ em là một bộ phận cấu thành không thể tước đoạt và không thể chia cắt khỏi
các quyền phổ cập của con người. Do đó, BLGĐ là sự sai lệch các giá trị và chuẩn mực
xã hội và là sự vi phạm thô bạo các quyền của con người. Sự vi phạm quyền này cần
phải được xóa bỏ. Chính vì vậy, “xóa bỏ mọi hình thức o ép và bóc lột tình dục, bóc lột
và bạo hành trong gia đình, xóa bỏ định kiến về giới trong thi hành tư pháp và loại bỏ
mọi mâu thuẫn giữa các quyển của các thành viên yếu thế trong gia đình và một sổ tập
tục truyền thong, định kiến văn hỏa và cực đoan tôn giáo có hại cho các quyền này” là
một trong những mục tiêu cấp bách, quan ừọng không chỉ của mỗi quốc gia mà của cả
GVHD: Nguyễn Hữu Lạc
3
SVTH: Nguyễn Phi Hùng
Pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình - Thực trạng và giải pháp
trạng BLGĐ sẽ được ngăn chặn và đẩy lùi. Nhưng trên hết, để hạn chế thấp nhất những
hậu quả đau lòng từ nạn bạo hành gia đình, điều cần làm trước hết vẫn là phát hiện, xử lý
kịp thời, nghiêm minh các hành vi BLGĐ. Đồng thời từng bước hoàn thiện hệ thống
pháp luật về bình đẳng giới và PCBLGĐ.
Với những vấn đề trên người viết đã chọn đề tài: * Pháp luật về phòng chống bạo
lực gia đình - Thực trạng và giải pháp” để làm đề tài nghiên cứu của mình.
2. Mục đích chọn đề tài và phạm vi nghiên cứu
*t* Mục đích chọn đề tài
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài luận vãn tốt nghiệp “Pháp luật về phòng
3. Phương pháp nghiên cứu
Nhằm hoàn thiện bài viết một cách tốt nhất, người viết đã vận dụng một vài
phương pháp nghiên cứu làm công cụ phục vụ cho việc nghiên cứu của mình như sau:
- Phương pháp phân tích Luật viết dùng để tìm hiểu các quy định của Pháp luật
về PCBLGĐ Việt Nam hiện hành.
- Phương pháp phân tích, đối chiếu, vận dụng các quy định của Pháp luật về
PCBLGĐ để đối chiếu với thực tiễn. Đồng thời, kế thừa các phương pháp nghiên cứu
truyền thống như duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác- Lênin được sử
dụng nhu một phương pháp luận để xây dựng toàn bộ các vấn đề của luận vãn.
- Phưorng pháp điều tra, thu thập số liệu, tổng họp, thống kê và sử dụng các
trang web để tìm kiếm tài liệu.
4. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn đi sâu phân tích tình hình BLGĐ ở mỗi gia đình Việt Nam, thực trạng
việc PCBLGĐ hiện nay và các biện pháp xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực
PCBLGĐ trong thời gian qua. Từ đó, đề ra các phương hướng có tính khả thi cao để thúc
đẩy quá trình phòng, chống được tốt hơn trong những năm tiếp theo.
5. Tác dụng của đề tài
GVHD: Nguyễn Hữu Lạc
5
SVTH: Nguyễn Phi Hùng
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG1
MỘT SỐ VẮN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT PHÒNG CHỐNG BẠO
Lực GIA ĐÌNH
The se hands connmit to be againãt dooìeslk TíiolẽnCe
Những bân tay này t&in kíl chống bạo lực gia dinh
1.1.Những kháỉ niệm chung
BLGĐ không phải là vấn đề xã hội của một quốc gỉa mà là vấn đề có tính toàn
cầu. Nạn nhân của BLƠĐ chủ yếu là phụ nữ. Trong phần lớn các trường hợp BLƠĐ là
những người vợ bị chồng đánh đập, hành hạ, ngược đãi. Ngoài ra, trong một số trường
hợp BLGĐ là những người mẹ, những người con gái, những người chị hoặc em bị những
người là con, là cha, là em đánh đập, hành hạ, ngược đãi. Đê hiểu thêm về vấn đề này,
ngưòỉ viết đã tìm hiểu những khái niệm sau:
1.1.1. Gỉa đình là gì?
Gia đình là điều kỉện cần thiết không thể thỉếu để con người được sinh ra và lớn
lên cách lành mạnh. Tuy nhiên gia đình không cố nghĩa chỉ là chỗ cho cha mẹ, con cái về
ngủ đêm, nhưng phải là noi chứa đầy tình yêu. Phải có tình yêu, bản tay, thân thể của
người mẹ động chạm vào con trè mới có sức nối kết hai mẹ con với nhau từ lúc con chào
đời. Phải có tinh yêu người cha, người mẹ mới mong sao chóng hết giờ làm việc để về
nhà ôm con vào lòng, nhìn con tập tễnh đi những bước đầu tiên, nghe tiếng con cười
vang trong trẻo như tiếng pha lê... Không phải chỉ người con được lớn lên trong tình yêu,
mà chính người cha người mẹ cũng được nuôi sống nhờ tình yêu của con cái. Khỉ con
GVHD; Nguyễn Hữu Lạc________________________________7________________________________SVTHỉ Nguyễn Phi Hùng________________
Bình đẳng: Biểu hiện các thành viên trong gia đình tôn trọng lẫn nhau và được
hưởng mọi quyền lợi về học tập, lao động, nghỉ ngơi, giải trí, chăm sóc sức khoẻ. Đặc
GVHD: Nguyễn Hữu Lạc
8
SVTH: Nguyễn Phi Hùng
1
Nguồn Tổng cục thống kê.
Xem: Lê Ngọc Hùng, nguyễn Thị Mỹ Lộc (đồng chủ biên), xã hội học về
gia Hà Nội, 2000, ừ 6-8).
3
Xem tài liệu của ủy ban Quốc gia về sự tiến bộ cùa phụ nữ Việt Nam, tr. 34.
4
Xem: Lê Ngọc
Lộc (đồngPháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình - Thực trạng và giải pháp
2
giới
và
phát
triển,
Nxb.
GVHD: Nguyễn Hữu Lạc
9
SVĨH: Nguyễn Phi Hùng
Đại
học
quốc
Hùng, Nguyễn Thị Mỹ
chủ biên), Sđd, tr.6.
5
Xem: Lê Ngọc Hùng, Nguyễn Thị Mỹ Lộc (đồng chủ biên), Sđd, tr.7.
Pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình - Thực trạng và giải pháp
Bảng 2 : Tỉ ỉệ nữ trong cán bộ lãnh đạo các cấp và trong các cơ quan quản lý Nhà
nước (%)1
lực mà
việc
phụxãnữhộitham
coi là
giathuộc
bình về
dânsựđuợc
phânquy
công
địnhvaingay
trò
6
Theo số liệutừ
củaHiến
họ. Thông
pháp đầu
thuờng,
tiên nam
của Việt
hay nữ
Nam
đều- phải
Hiến chịu
pháprất1946:
nhiều‘‘Đàn
áp lụcbàbuộc
ngang
phải
quyển
tuân với
thủ đàn
các trong báo cáo đánh
giá
việc
thực hiện và tác động
giớicầu
và
sâutấtxacảthìcác
bình
đẳng
giớilà lànhư
vấnnhau.
đề cơBình
bản đẳng
về quyền
connghĩa
nguờilàvànam
là yêu
và sự phân biệt đẳng cấp nghiêm ngặt của chế độ quân chủ chuyên chế thì sự bình đẳng,
nữ
đượctriển
côngbền
nhận
và được
thế ngang
về giới
sự phát
vững.
Có hưởng
thể nói,cácý vị
nghĩa
quan nhau
trong trong
nhất xã
củahội.
bình
đẳng phân
giới 2004.
8
Xem: Tài liệu
biệt
địatiêu
vị huớng
xã hội,tới.
dân tộc, giới điều đuợc Nhà nuớc thừa nhận về mặt pháp lý bình đẳng hướng dẫn lồng ghép
là mục
giới,
hướng tới bình đẳng giói
ở
Việttrên các phuơng diện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình.
Nam, tr.34.
1.1.4. Khái niệm phân biệt đổi xử về giới
Đến khi Luật Bình đẳng giới ra đời, quyền bình đẳng lại một làn nữa đuợc khẳng
định trong xã hội ta: Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được
tạo điểuPhân
kiệnbiệt
và cơ
huysởnăng
cho sự
củanghĩa
cộnglàđồng,
đối hội
xử phát
và quyết đoán hơn.
Tại sao lại có sự phân biệt đối xử trên cơ sở giới? Một nguyên lí rất phổ biến là
nếu muốn giải quyết triệt để vấn đề thì cần tác động tới nguyên nhân căn bản làm phát
sinh ra vấn đề đó. Vì vậy, chúng ta cần tìm hiểu nguồn gốc của sự phân biệt đối xử trên
cơ sở giới mà cốt lỗi là vấn đề định kiến giới, từ đó khắc phục tình trạng này.
Như đã nêu trên:
Phân biệt đối xử về giới là việc hạn chế, loại trừ, không công nhận hoặc không
coi trọng vai trò, vị trí của nam và nữ, gây bất bình đẳng giữa nam và nữ trong các
ữnh vực của đời sống xã hội và gia đình (Điều 5 Luật Bình đẳng giới). Theo đó, đối với
mỗi gia đình thì các hành vi thể hiện phân biệt đối xử về giới là việc:
Thứ nhất: Cản trở thành viên trong gia đình có đủ điều kiện theo quy định của
Pháp luật tham gia định đoạt tài sản thuộc sở hữu chung của hộ gia đình vì lý do giới
tính.
Thứ hai: Không cho phép hoặc cản trở thành viên trong gia đình tham gia ý kiến
vào việc sử dụng tài sản chung của gia đình, thực hiện các hoạt động tạo thu nhập hoặc
đáp ứng các nhu cầu khác của gia đình vì định kiến giới.
Thứ ba: Đối xử bất bình đẳng với các thành viên trong gia đình và hạn chế việc đi
học hoặc ép buộc thành viên trong gia đình bỏ học vì lý do giới tính.
GVHD: Nguyễn Hữu Lạc
13
SVTH: Nguyễn Phi Hùng
người yêu hoặc vì những lời đe dọa mà phải chấp nhận... đó là những hành động mang
tính chất bạo lực. Tùy từng dạng bạo lực ở từng mức độ khác nhau mà nó có thể gây ảnh
hưởng tới tâm lý, tình cảm, sức khoẻ của các vị thành niên.
GVHD: Nguyễn Hữu Lạc
14
SVTH: Nguyễn Phi Hùng
9
Xem: Viện ngôn ngữ học, từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nằng, 1998.
Pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình - Thực trạng và giải pháp
chúng ta không thể chấp nhận bất cứ một hành vi nào như vậy được và tất cả những hành
vi đó là các dạng của bạo lực. Dù bạo lực xảy ra dưới hình thức nào thì cũng càn phải lên
án.
Để hiểu thêm về vấn đề này chúng ta cần đi sâu nghiên cứu để hiểu rõ hơn về bạo
lực. Từ đó, có thể có những cách ứng xử linh hoạt để giải thoát bản thân mình khỏi mối
quan hệ bạo lực đó, cũng như cách vận dụng các kiến thức có được để tuyên truyền
phòng, chống BLGĐ.
Trong tiếng Việt, bạo lực được hiểu là “sức mạnh dùng để cưỡng bức, tran áp
hoặc lật đổ” 9. Với nghĩa chung đó, bạo lực có thể được sử dụng cả với nghĩa tiêu cực
(bạo lực với trẻ em, bạo lực gia đình, bạo lực giới...) hoặc tích cực (bạo lực cách mạng,
lực rất đa dạng. Tuy chưa đủ căn cứ cần thiết để khẳng định (vì chưa có cơ quan chuyên
trách quản lý cụ thể và chưa có số liệu thống kê đầy đủ về vấn đề này), nhưng qua quá
trình tìm hiểu thực tế và thu thập tài liệu thì bạo lực đối với phụ nữ phàn lớn do nam giới
thực hiện và bạo lực đối với trẻ em thường do người lớn thực hiện. Sự đa dạng về chủ
thể thực hiện hành vi bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em dẫn đốn khó tìm ra những đặc
trưng riêng, làm cơ sở cho việc phòng ngừa. Điểm chung duy nhất có thể nhận thấy chủ
thể thực hiện hành vi bạo lực phần lớn là những người mà phụ nữ và trẻ em phải phụ
thuộc vào họ như chồng, con trai, ông chủ (người sử dụng lao động), cha mẹ hoặc người
nuôi dưỡng, người cho ở nhờ, thầy cô giáo, bảo mẫu, người quản lý...
về biểu hiện, hành vi bạo lực bao giờ cũng được thực hiện với lỗi cố ý, chủ yếu
bằng hành động nhưng cũng không loại trừ việc thực hiện bạo lực không bằng hành
động (bỏ mặc, không cho ăn, không chăm sóc, không tiếp xúc, không giao việc, không
trả lương...). Vì vậy, việc xác định có hay không có tình trạng bạo lực không phải bao
giờ cũng dễ dàng, phải đặt vào những hoàn cảnh và mối quan hệ cụ thể. Hành vi bạo lực
có thể gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại trên nhiều phương diện đối với phụ nữ
và trẻ em. Theo thông lệ Quốc tế, bạo lực giới có thể là “bất kỳ một hành động nào dẫn
đến hoặc có khả năng dẫn đến những tổn thất về thân thể, về tình dục hay tâm lý,
hoặc dau khổ cho phụ nữ, bao gồm cả sự đe dọa có những hành vi như vậy, sự cưỡng
bức hay tước đoạt một cách tụy tiện sự tự do, dù xảy ra ở nơi công cộng hay trong dời
sông riêng tư .
1.1.6. Khái niệm bạo lực gia đình
Tháng 12 năm 1993, Đại hội đồng Liên Họp Quốc đã đưa ra định nghĩa về BLGĐ
như sau: "Bất kỳ một hành động bạo lực dựa trên cơ sở giới nào dẫn đến hoặc có khả
năng dẫn đến, những tổn hại về thân thể, tình dục hay tâm lý hay những đau khổ của phụ
nữ, bao gồm cả sự đe dọa có những hành động như vậy, sự cưỡng bức hay tước đoạt một
cách tùy tiện sự tự do, dù nó xảy ra nơi công cộng hay trong cuộc sổng riêng tư”.
GVHD: Nguyễn Hữu Lạc
gia đình. BLGĐ đã vượt qua ranh giới về văn hóa, về mức thu nhập và về tuổi tác.
Không chỉ những phụ nữ nông thôn hay những phụ nữ có học vấn thấp mới là nạn nhân
của BLGĐ mà ngay cả đối với nhiều phụ nữ có trình độ cao cũng vẫn là nạn nhân của
những vụ bạo lực trong gia đình. Không chỉ những người phụ nữ không trực tiếp lao
động để có thu nhập mới là nạn nhân của BLGĐ mà ngay cả những người thảnh đạt, có
thu nhập cao cũng là nạn nhân của BLGĐ. Không chỉ những cô gái trẻ là nạn nhân của
BLGĐ mà ngay cả những phụ nữ đã lớn tuổi cũng là nạn nhân của BLGĐ từ phía người
chồng hoặc người con của mình. Như vậy, BLGĐ tồn tại ở cả những gia đình có học vấn
cao, những gia đình được coi là giàu có và những gia đình mà các thành viên đã ở độ
GVHD: Nguyễn Hữu Lạc
17
SVTH: Nguyễn Phi Hùng