Giải pháp cho xây dựng cơ cấu kinh tế hiện đại và hợp lý ở Việt Nam hiện nay ( giới hạn trong cơ cấu ngành) - Pdf 33

LỜI MỞ ĐẦU
Kinh tế chính trị Mác-Lênin có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội. Trong công
cuộc đổi mới hiện nay yêu cầu học tập nghiên cứu kinh tế chính trị Mác-Lênin càng được
đặt ra một cách bức thiết, nhằm khắc phục sự lạc hậu về lý luận kinh tế, sự giáo điều, tách
rời lý luận cuộc sống, góp phần hình thành tư duy kinh tế mới. Nước ta đang trên đà phát
triển kinh tế và xã hội, trong kho tàng nhận thức của nhân loại có rất nhiều lý luận kinh tế
với những quan diểm khác nhau, chính vì vậy kinh tế chính trị càng đóng vai trò quan
trọng hơn trong việc định hướng đường lối lý luận đúng đắn với quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước.
Một trong những nội dung quan trọng của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước là xây dựng cơ cấu kinh tế hiện đại và hợp lý. Cơ cấu kinh tế hợp lý là điều
kiện để nền kinh tế tăng trưởng, phát triển. Vì vậy, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đòi hỏi phải xây dựng cơ cấu hiện đại, hợp lý.Trong cơ cấu của nền kinh tế, cơ cấu
các ngành kinh tế là quan trọng nhất, quyết định các hình thức cơ cấu kinh tế khác.
Việt Nam đang ở một giai đoạn quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước, có thể nói đây là giai đoạn đạt được sự phát triển đỉnh điểm với sự tăng
trưởng và tiến bộ không ngừng. Chúng ta là những sinh viên của thế kỉ XXI, là chủ nhân
tương lai của đát nước. Vì vậy, việc sử dụng lý luận kinh tế chính trị làm nền tảng để
phân tích và đánh giá những vấn đề còn đang tồn tại của quá trình xây dựng cơ cấu kinh
tế và đưa ra những giải pháp chủ yếu cho những vấn đề còn tồn đọng là hết sức cần thiết.
Đó là lí do em lựa chọn phân tích đề tài : “ Giải pháp cho xây dựng cơ cấu kinh tế hiện
đại và hợp lý ở Việt Nam hiện nay ( giới hạn trong cơ cấu ngành)”.


NỘI DUNG
I.

Khái niệm cơ cấu kinh tế và cơ cấu kinh tế hiện đại, hợp lý

1.


thuật trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa mà còn làm cho cơ cấu kinh tế
thay đổi tiến bộ.
Cơ cấu kinh tế hợp lý trong một nền kinh tế thị trường hiện đại đòi hỏi công –
nông nghiệp – dịch vụ phát triển mạnh mẽ, hợp lý, đồng bộ và khai thác được tiềm
năng, thế mạnh của các ngành, các vùng kinh tế. Mạng lưới dịch vụ với tư cách là một
ngành kinh tế phát triển mới có thể phục vụ tốt cho sự phát triển mạnh mẽ các ngành
công nghiệp và nông nghiệp.
Xây dựng cơ cấu kinh tế là yêu cầu khách quan của mỗi nươc trong thời kì công
nghiệp hóa. Vấn đề quan trọng là tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lý. Ở nước ta, một cơ
cấu kinh tế được coi là hợp lý khi nó đáp ứng được các yêu cầu sau đây:
- Nông nghiệp phải giảm dần về tỷ trọng; công nghiệp, xây dựng và dịch vụ phải
tăng dần về tỷ trọng.
- Trình độ kỹ thuật của nền kinh tế không ngừng tiến bộ, phù hợp với xu hướng
của sự tiến bộ khoa học và công nghệ đã và đang diễn ra như vũ bão trên thế giới.
- Cho phép khai thác tối đa mọi tiềm năng của đất nước, của các ngành, các địa
phương, các thành phần kinh tế.
-

Thực hiện sự phân công và hợp tác quốc tế theo xu thế toàn cầu hóa kinh tế,

do vậy cơ cấu kinh tế được tạp dựng phải là “cơ cấu mở”.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nước ta trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội
được thực hiện theo phương châm: kết hợp công nghệ nhiều trình độ, tranh thủ công
nghệ mũi nhọn - tiên tiến vừa tận dụng được nguồn lao động dồi dào, vừa cho phép
rút ngắn khoảng cách lạc hậu, vừa phù hợp với nguồn vốn có hạn ở trong nước; lấy
quy mô vừa và nhỏ là chủ yếu, có tính đến quy mô lớn nhưng phải là quy mô hợp lý
và có điều kiện; giữ được tốc độ tăng trưởng hợp lý, tạo ra sự cân đối giữa các ngành,
các lĩnh vực và các vùng trong nền kinh tế… Chuyển dịch cơ cấu của nước ta trong
những năm trước mắt cần phải thực hiện theo định hướng chung sau đây: chuyển dich
cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư dựa trên cơ sở phát huy các thế mạnh và các lợi thế so

tục tăng quy mô GDP của đất nước, tăng xuất khẩu, phát triển công nghiệp, trở thành
một nước có tốc độ tăng trưởng cao trong khu vực và trên thế giới.


Bảng 1: Cơ cấu GDP theo ngành kinh tế qua các năm( đơn vị: %)
Năm

1990

1995

1997

2000

2001

2002

2003 2004 2005 2006

Nông lâm thủy sản
Công
nghiệp
và xây
dựng
Dịch vụ

38,8


39,5

40,2

41,0

41,2

38,6

44,1

42,2

38,8

38,7

38,5

38,0

38,0

38,1

38,1

Nguồn: Tổng hợp số liệu của Tổng cục Thống kê
Xét trong từng ngành kinh tế, chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp có nhiều

ngành công nghiệp có công nghệ cao ngày càng được mở rộng và phát triển nhanh,
tạo ra những sản phẩm tiêu dùng có giá trị cao, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày một
nâng lên ở trong nước và tham gia xuất khẩu, như ô-tô, sản phẩm điện tử, tàu thủy...
Các ngành có trình độ công nghệ trung bình và thấp phát triển ở tốc độ trung bình và
thấp để sản xuất sản phẩm phù hợp với nhu cầu tiêu dùng chưa quá khắt khe của thị
trường trong nước, cũng như nhằm duy trì cung cấp những sản phẩm thông thường
thiết yếu cho nhân dân. Trong công nghiệp, trước Đổi mới, công nghiệp nặng được
chú trọng phát triển nhưng do thiếu nguồn lực nên kém hiệu quả. Trong thời kì đầu
Đổi mới, các ngành công nghiệp nhẹ và công nghiệp thực phẩm được chú trọng phát
triển để phục vụ ba chương trình kinh tế lớn : lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng
và hàng xuất khẩu. Hiện nay, trong cơ cấu ngành công nghiệp chiếm ưu thế là các
ngành sử dụng lợi thế tương đối về lao động (dệt, may, da giày, chế biến thực phẩm)
và tài nguyên (dầu khí, điện, xi măng…). Nhưng các ngành đòi hỏi hàm lượng kỹ
thuật cao (kỹ thuật điện và điện tử) sẽ được phát triển mạnh hơn trong thập kỷ tới.
Trong lĩnh vực dịch vụ, đã có bước phát triển nhảy vọt cả về chất và lượng, nhất
là từ thập niên 90 của thế kỷ XX trở lại đây. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng của lĩnh
vực này lại không đều qua các thời kỳ khác nhau, thể hiện nổi bật qua việc tăng nhanh
của ngành dịch vụ trong thời kỳ 1990 - 1995, sau đó liên tục bị giảm sút và chỉ có dấu
hiệu phục hồi nhẹ trong một vài năm gần đây. Điều đó khiến tỷ trọng của ngành dịch


vụ trong GDP, sau khi tăng tương đối mạnh trong thời kỳ 1990 - 1995 (năm 1995 đạt
44,06%) đã liên tục bị giảm: năm 1996 còn 42,51%; năm 1997 còn 42,15%; năm
1998 còn 41,73%; năm 1999 còn 40,08% và năm 2005 còn 38,1%. Điều đáng lo ngại
là tỷ trọng của một số ngành dịch vụ quan trọng trong cơ cấu của lĩnh vực dịch vụ và
trong cơ cấu GDP còn thấp như ngành tài chính - ngân hàng, khoa học - công nghệ,
vận tải, viễn thông, dịch vụ kinh doanh. Và mặc dù đã xuất hiện một số ngành dịch vụ
mới trong lĩnh vực dịch vụ, nhưng nhìn chung tỷ trọng của khu vực dịch vụ trong cơ
cấu nền kinh tế của nước ta vẫn còn thấp so với các nước trong khu vực, biểu hiện
một sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế chưa hiệu quả và theo hướng hiện đại.

Trong đó:
24,53%
* Nông nghiệp
30,88
32,71
23,04
16,69
-14,19
* Lâm nghiệp
5,01
2,98
1,24
19,81
1,10
-3,91
* Ngư nghiệp
2, 17
3,05
2,91
1,34
4,01
+1,84
- Công nghiệp – 28,88% 22,67% 28,76%
3,38
39,97% +11,09%
xây dựng
36,73
Trong đó:
%
* Công nghiệp

5,35
38,23
+5,17%
Trong đó:
%
* Thương mại
12,69
13,01
16,38 38,74%
+1,08
* Khách sạn, nhà
13,77
hàng
3,17
4,23
3,77
14,23
-0,05
* Vận tải, kho
3,12
bãi, viễn thông
1,67
3,45
3,98
3,25
+2,06
* Tài chính, tín
0,83
1,17
2,01

0,2735
0,3248
1955
0,329
0,211
0,460
1970
0,180
0,345
0,475
1970
0,265
0,289
0,446

Chuyển dịch
2003
0,2180
0,3997
0,3823
1973
0,141
0,438
0,421
1988
0,060
0,455
0,485
1988
0,105

có hiệu quả. Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam tăng nhanh cùng với quá trình
chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế: năm 2000 đạt 14,5 tỉ USD, năm 2001: 15 tỉ USD,
năm 2002: 16,7 tỉ USD, năm 2003: 20,1 tỉ USD, năm 2004: 26,5 tỉ USD, năm 2005:
32,4 tỉ USD.
Ngoài ra, nguồn vốn đầu tư của ngân sách nhà nước cho chuyển dịch cơ ngành
kinh tế đã có sự điều chỉnh phù hợp với các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội. Đặc
biệt, vốn đầu tư đã tập trung hơn cho việc xây dựng kết cấu hạ tầng, khoa học công
nghệ, giáo dục đào tạo và các vấn đề xã hội nhằm tạo nền tảng cho việc chuyển dịch


cơ cấu ngành kinh tế được thuận lợi. Hệ thống luật pháp, chính sách và cách thức chỉ
đạo của nhà nước đã có nhiều thay đổi theo hướng thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu ngành
kinh tế. Các luật thuế được sửa đổi, luật lao động, luật đất đai, các chính sách khuyến
khích xuất khẩu, chính sách hỗ trợ vốn luôn được quan tâm điều chỉnh phù hợp với
lợi ích của nhân dân.
Để đi theo chiến lược mở cửa kinh tế, hội nhập quốc tế có hiệu quả, vấn đề
chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở trong nước có ý nghĩa rất lớn. Bởi, sản xuất trong
nước cần phải được dịch chuyển sao cho vừa khai thác được những tiềm năng, lợi thế
của đất nước, vừa sản xuất được những sản phẩm phù hợp với nhu cầu thị trường thế
giới. Trong bối cảnh chung là phân công lao động quốc tế ngày một sâu sắc, sự cạnh
tranh giữa các nước xuất khẩu cũng vô cùng gay gắt, lại muốn phát triển được sản
xuất của đất nước theo một chiến lược chung, việc lựa chọn cơ cấu kinh tế hợp lý,
đem lại hiệu quả cao là điều rất cần thiết. Tuy nhiên, ngày nay việc thực hiện công
nghiệp hóa định hướng xuất khẩu đi sau không thể sử dụng nguyên mẫu của các mô
hình sẵn có bởi dưới tác động của những nhân tố mới, những lợi thế so sánh truyền
thống không còn được đánh giá cao như trước đây, nên việc chuyển dịch cơ cấu kinh
tế của các nước đi sau cũng cần phải được nhận thức lại nhằm tạo ra một cơ cấu kinh
tế hiện đại, cân đối, năng động và tăng trưởng nhanh một cách bền vững hơn.
b) Những hạn chế còn tồn tại trong chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở nước ta
Bên cạnh những thành tựu to lớn đã đạt được, quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành

nối và lan tỏa phát triển cần có giữa các doanh nghiệp, nhất là giữa doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nước. Thiếu khâu này, lợi
thế quan trọng lớn nhất, tác động lan tỏa phát triển mạnh nhất mà dòng đầu tư nước
ngoài và trong nước có thể mang lại cho nền kinh tế nước ta bị lãng phí; sức cạnh
tranh của cả doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài lẫn các doanh nghiệp trong nước
chậm được cải thiện, thậm chí có thể bị suy yếu đi.
Hai là chính sách chưa đồng bộ, thiếu nhất quán trong việc định hướng các lĩnh
vực ưu tiên phát triển, dẫn đến sự chuyển dịch chậm vừa không phát huy lợi thế của
từng ngành, vừa không gắn kết với nhu cầu của thị trường. Nguồn lực phát triển còn
hạn hẹp, chưa đủ sức cơ cấu lại nền kinh tế. Đó là vấn đề cần được nghiên cứu trong
chính sách và phân bổ nguồn lực phát triển để xây dựng cơ cấu kinh tế có hiệu quả và
hợp lý, nâng dần khả năng tích luỹ để công nghiệp hoá.
Ba là, cơ cấu kinh tế giữa ba nhóm ngành công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ
chuyển dịch chậm nhất là trong ngành công nghiệp. Năm 2000 tỷ trọng công nghiệp


trong GDP là 31,4%. Năm 2001 là 32,1%, năm 2002 là 32,6%, năm 2003 là33,4%,
năm 2004 là 34% và năm 2005 là 34,7%.
Bốn là, khả năng cạnh tranh của nhiều sản phẩm nông nghiệp, công nghiệp và
dịch vụ còn thấp nhiều sản phẩm khó tiêu thụ. Công nghệ lạc hậu từ 50 - 100 năm so
với các nước phát triển và 20 - 30 năm so với các nước đang phát triển. Về nhóm
ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản Việt Nam đứng thứ 4/10 trong khu vực Đông Nam
Á; đứng thứ 16/38 ở châu Á; đứng thứ 47/162 trên thế giới. Về nhóm ngành công
nghiệp -xây dựng, Việt Nam đứng thứ 4/10 trong khu vực Đông Nam Á, đứng thứ
10/38 ở châu Á, đứng thứ 70/162 trên thế giới. Về nhóm ngành dịch vụ, Việt Nam
đứng thứ 7/10 trong khu vực Đông Nam Á, đứng thứ 70/162 trên thế giới.
Năm là, nguồn vốn để chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn thiếu cơ cấu đầu tư chưa
hợp lý, phương thức đầu tư chậm thay đổi nên ảnh hướng đến chuyển dịch cơ cấu
kinh tế.
Sáu là, giải quyết vấn đề thị trường ra cho sản phẩm hàng hóa còn gặp nhiều khó

chưa gắn kết có hiệu quả với thị trường; việc đưa khoa học, công nghệ vào sản xuất
còn chậm; công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn còn lúng túng.
Trong công nghiệp, ít sản phẩm có hàm lượng công nghệ và chất xám cao; công
nghiệp công nghệ cao phát triển chậm; một số sản phẩm công nghiệp có sản lượng lớn
còn mang tính gia công, lắp ráp, giá trị nội địa tăng chậm; công nghiệp bổ trợ kém
phát triển; tốc độ đổi mới công nghệ còn chậm.
2. Giải pháp xây dựng cơ cấu ngành hiện đại hợp lý ở nước ta hiện nay
Đứng trước những khó khăn và hạn chế của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
hiện nay, chúng ta cần phải có những giải pháp tích cực để khắc phục, đưa nền kinh tế
Việt Nam trở thành nền kinh tế có cơ cấu hợp lý, hiệu quả và kinh tế.
Một là, tạo bước chuyển biến mạnh mẽ trong sản xuất nông nghiệp và kinh tế
nông thôn. Đưa nhanh khoa học, công nghệ vào sản xuất nông nghiệp; có chính sách
đủ mạnh để khuyến khích phát triển các doanh nghiệp và hoạt động dịch vụ ở nông
thôn; tiếp tục đầu tư phát triển đồng bộ kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội nông thôn và
xây dựng nông thôn mới. Bao gồm các biện pháp sau:


-

Phát triển nuôi trồng thủy sản theo hướng sản xuất hàng hóa lớn, phục vụ xuất

khẩu và thị trường nội địa, đi đôi với bảo vệ môi trường sinh thái.
-

Nâng cao sức cạnh tranh, bảo đảm tăng trưởng bền vững trong sản xuất và xuất

khẩu thủy sản.
-

Đẩy mạnh phát triển công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn.

Tập trung nguồn lực phát triển các ngành công nghiệp có lợi thế cạnh tranh, tạo

ra sản phẩm xuất khẩu và thu hút nhiều lao động như: chế biến nông -lâm -thủy sản;
may mặc, giày dép, công nghiệp công nghệ thông tin, công nghiệp chế tạo thiết bị
đồng bộ…
-

Tăng cường hợp tác liên kết, đưa ngành công nghiệp và xây dựng nước ta hội

nhập vào khu vực và quốc tế, thông qua việc thu hút mạnh đầu tư và công nghệ nguồn
các công ty đa quốc gia tham gia phát triển công nghiệp và xây dựng ở Việt nam.
Ba là: Tạo bước phát triển vượt bậc trong khu vực dịch vụ. Bao gồm các biện
pháp sau:


-

Phát triển nhanh khu vực dịch vụ đáp ứng yêu cầu và phù hợp với tiềm năng còn

rất lớn ở nước ta và xu hướng phát triển chung của thế giới; tận dụng tốt thời cơ hội
nhập kinh tế tạo bước phát triển vượt bậc của khu vực dịch vụ, đưa tốc độ tăng trưởng
khu vực dịch vụ cao hơn tốc độ tăng GDP, phấn đấu đạt 7,7 – 8,2% / năm.
-

Ưu tiên phát triển các ngành dịch vụ có tiềm năng lớn và sức cạnh tranh cao. Mở

rộng và nâng cao chất lượng các ngành dịch vụ truyền thống như: vận tải, thương mại,
ngân hàng, bưu chính viễn thông. Phát triển mạnh các ngành dịch vụ phục vụ sản xuất
nông – lâm – ngư nghiệp, phục vụ đời sống ở nông thôn. Mở rộng các ngành dịch vụ
mới nhất là những ngành dịch vụ cao cấp, dịch vụ có hàm lượng trí tuệ cao, dịch vụ

ta. Qua gần 20 năm đổi mới, cơ cấu kinh tế của nước ta đã chuyển dịch đúng hướng và có
những bước thay đổi hiệu quả. Xu hướng đó là tích cực, nhưng để hướng đến một cơ cấu
kinh tế hiện đại, hợp lý và hiệu quả theo tiêu chí một nước công nghiệp thì phải có sự
chuyển dịch đồng bộ, cơ bản ở tất cả các lĩnh vực, các ngành của nền kinh tế. Để hoàn
thành quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa tiến lên chủ nghĩa xã hội, chuyển dịch cơ
cấu kinh tế ngành là một trong những bước đi quan trọng của nền kinh tế Việt Nam. Để
thực hiện mục tiêu:“Đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, đạt được bước chuyển biến
quan trọng về nâng cao hiệu quả và tính bền vững của sự phát triển, sớm đưa nước ta ra
khỏi tình trạng kém phát triển. Cải thiện rõ rệt đời sống vật chất, văn hóa và tinh thần


của nhân dân. Tạo được nền tảng để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát
triển kinh tế tri thức. Giữ vững ổn định chính trị và trật tự, an toàn xã hội. Bảo vệ vững
chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh quốc gia. Nâng cao vị thế của Việt
nam trên trường quốc tế” thì chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế luôn là một giải pháp để
tăng trưởng và phát triển kinh tế, đây cũng là điều kiện cơ bản để thực hiện các mục tiêu
mà đại hội X của Đảng đã đề ra. Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, cơ cấu kinh tế
ngành ở nước ta vẫn còn tồn tại nhiều khó khăn và hạn chế, làm chậm quá trình chuyển
dịch và ảnh hưởng đến sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế. Để khắc phục những
khó khăn và hạn chế đó, chúng ta cần đề ra những giải pháp cụ thể và tích cực thực hiện
để xây dựng một cơ cấu kinh tế hoàn thiện, hiện đại, hợp lý và hiệu quả cho nền kinh tế
Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đi lên chủ nghĩa xã hội.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Lê Xuân Bá, Nguyễn Thị Tuệ Anh : Tăng trưởng kinh tế trong 15 năm (19912005) – nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật - năm 2006.
2. Đặng Thị Loan, Lê Du Phong, Hoàng Văn Hoa : Kinh tế Việt Nam 20 năm đổi
mới (1986 – 2006) thành tựu và những vấn đề đặt ra – Đại học Kinh tế quốc dân –
năm 2006.
3. Trần Xuân Giá :Về chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2001-2010 và kế hoạch 5
năm 2001-2005 của nước ta - Tạp chí Cộng sản số 13 tháng 7/2001.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status