QUY TẮC CHUNG VỀ BẢO HIỂM HÀNG HÓA VẬN CHUYỂN BẰNG
ĐƯỜNG BIỂN CỦA BỘ TÀI CHÍNH BAN HÀNH 1990
I. Tổng quan về QTC-1990:
1. Lịch sử hình thành:
a. Trên thế giới:
Bảo hiểm hàng hải đã có lịch sử rất lâu đời. Nó ra đời và phát triển cùng với sự phát
triển của hàng hoá và ngoại thương. Khoảng thế kỷ V trước công nguyên, vận chuyển
hàng hoá bằng đường biển đã ra đời và phát triển người ta biết tránh tổn thất toàn bộ
một lô hàng bằng cách chia nhỏ, phân tán chuyên chở trên nhiều thuyền khác nhau. Đây
có thể nói là hình thức sơ khai của bảo hiểm hàng hoá. Đến thế kỷ thứ XII thương mại
và giao lưu hàng hoá bằng đường biển giữa các nước phát triển. Nhiều tổn thất lớn xảy
ra trên biển vì khối lượng và giá trị của hàng hoá ngày càng tăng, do thiên tai, tai nạn bất
ngờ, cướp biển... gây ra làm cho giới thương nhân lo lắng nhằm đối phó với các tổn thất
nặng nề có khả năng dẫn tới phá sản họ đã đi vay vốn để buôn bán kinh doanh. Nếu
hành trình gặp phải rủi ro gây ra tổn thất toàn bộ thì các thương nhân được xoá nợ, nếu
hành trình may mắn thành công thì ngoài vốn vay họ còn phải trả chủ nợ một khoản tiền
lãi với lãi suất rất cao. Lãi suất cao và nặng nề này có thể coi là hình thức ban đầu của
phí bảo hiểm.
Năm 1182 ở Lomborde - Bắc Ý, hợp đồng bảo hiểm hàng hoá đã ra đời, trong đó người
bán đơn này cam kết với khách hàng sẽ thực hiện nội dung đã ghi trong đơn. Từ đó hợp
đồng bảo hiểm, người bảo hiểm đã ra đời với tư cách như là một nghề riêng độc lập.
Năm 1468 tại Venise nước Ý đạo luật đầu tiên về bảo hiểm hàng hải đã ra đời. Sự phát
triển của thương mại hàng hải đã dẫn đến sự ra đời và phát triển mạnh mẽ của bảo hiểm
hàng hải và hàng loạt các thể lệ, công ước, hiệp ước quốc tế liên quan đến thương mại
và hàng hải như: Mẫu hợp đồng bảo hiểm của Lloyd's 1776 và Luật bảo hiểm của Anh
năm 1906 (MiA - Marine insurance Act 1906), công ước Brucxen năm 1924, Hague
Visby 1986, Hămbua năm 1978, Incoterms 1953,1980,1990,2000 ... Các điều khoản về
bảo hiểm hàng hải cũng ra đời và ngày càng hoàn thiện .
Nói về bảo hiểm hàng hải không thể không nói tới nước Anh và Lloyd's. Nước Anh là
một trong những nước có sự phát triển hiện đại về thương mại và hàng hải lớn nhất trên
thế giới. Có thể nói lịch sử phát triển của ngành hàng hải và thương mại thế giới gắn liền
Bảo hiểm nhân dân Trung Quốc trong trường hợp mua theo giá FOB, CIF và bán theo
giá CIF với mục đích là học hỏi kinh nghiệm.
Từ năm 1965 – 1975, Bảo Việt mới triển khai ba nghiệp vụ bảo hiểm đối ngoại trong đó
có bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu. Từ sau 1970 Bảo Việt có quan hệ tái bảo hiểm
với Liên Xô (cũ), Ba Lan, Triều Tiên. Trước đó Bảo Việt chỉ có quan hệ tái bảo hiểm
với Trung Quốc.
Từ năm 1975 - 1992 Bảo Việt đã triển khai thêm nhiều nghiệp vụ và mở rộng phạm vi
hoạt động. Từ chỗ chỉ có quan hệ tái bảo hiểm với một số nước xã hội chủ nghĩa cũ thì
trong thời kỳ này Bảo Việt đã có quan hệ đại lý, giám định, tái bảo hiểm với hơn 40
nước trên thế giới. Năm 1965 khi Bảo Việt đi vào hoạt động, Bộ Tài chính đã ban hành
quy tắc chung về Bảo hiểm hàng hoá vận chuyển bằng đường biển. Gần đây, để phù hợp
với sự phát triển thương mại và ngành hàng hải của đất nước, Bộ Tài chính đã ban hành
quy tắc chung mới - Quy tắc chung 1990 (QTC-1990) cùng với Luật Hàng hải Việt
Nam. Quy tắc chung này là cơ sở pháp lý chủ yếu điều chỉnh các vấn đề về bảo hiểm
hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển.
2. Mục tiêu:
Hàng hoá vận chuyển bằng đường biển thường gặp nhiều rủi ro.
- Trách nhiệm của người chuyên chở rất hạn chế và việc khiếu nại đòi bồi thường rất
khó khăn
- Mua bảo hiểm bảo vệ được lợi ích của doanh nghiệp khi có tổn thất và tạo ra tâm lý an
tâm trong kinh doanh
- Mua bảo hiểm cho hàng hoá XNK là một tập quán thương mại quốc tế
II. Tổng quan về hợp đồng bảo hiểm:
1. Khái niệm về hợp đồng bảo hiểm:
Hợp đồng bảo hiểm là một văn bản trong đó người bảo hiểm cam kết sẽ bồi thường cho
người được bảo hiểm khi đối tượng bảo hiểm bị tổn thất do những rủi ro đã thoả thuận
gây nên, còn người được bảo hiểm cam kết nộp phí bảo hiểm
Tính chất
- Là một văn bản bồi thường (contract of indemnity)
- Là một hợp đồng tín nhiệm (contract of goodfaith)
ta không ghi rõ số tiền bảo hiểm hay giá trị bảo hiểm mà chỉ nêu ra nguyên tắc để tính số
tiền hay giá trị bảo hiểm: căn cứ vào giá trị hàng hoá ở bến đến vào ngày tàu đến hoặc
ngày tàu đăng ký phải đến hoặc trị giá hàng hoá lúc xảy ra tổn thất, lúc bồi thường hoặc
lúc chấp nhận bồi thường
• Việt Nam: không sử dụng hợp đồng bảo hiểm không định giá
2. Những thuật ngữ sử dụng trong hợp đồng bảo hiểm:
Bảo hiểm là một sự cam kết bồi thường của người bảo hiểm đối với người được bảo
hiểm về những thiệt hại mất mát của đối tượng bảo hiểm do một rủi ro đã thỏa thuận gây
ra, với điều kiện người được bảo hiểm đã thuê bảo hiểm cho đối tượng bảo hiểm đó và
nộp khoản tiền gọi là phí bảo hiểm.
- Người bảo hiểm: (insurer, underwriter) là người nhận trách nhiệm về rủi ro, được
hưởng phí bảo hiểm và phải bồi thường khi có tổng thất xảy ra.
- Người được bảo hiểm (the insured): là người có lợi ích bảo hiểm (insurable interest), là
người bị thiệt hại khi rủi ro xảy ra và được người bảo hiểm bồi thường. Người được bảo
hiểm có tên trong hợp đồng bảo hiểm và là người nộp phí bảo hiểm.
- Đối tượng bảo hiểm (subject - matter insured) là tài sản (property)
- Rủi ro được bảo hiểm (risk insured againt) là rủi ro đã thỏa thuận trong hợp đồng,
người bảo hiểm chỉ bồi thường những thiệt hại do những rủi ro đã thỏa thuận gây ra mà
thôi. Rủi ro trong bảo hiểm hàng hóa bằng đường biển như tàu mắc cạn, đâm vào nhau,
hàng hư hỏng, thiếu hụt, mất trộm......
- Giá trị bảo hiểm: trong bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển là giá trị của
hàng hóa lúc bắt đầu bảo hiểm cộng với phí bảo hiểm và cước phí vận chuyển nơi đến.
Như vậy giá trị bảo hiểm có thể bằng giá CIF của hàng hóa.
Tuy nhiên, trong kinh doanh xuất nhập khẩu các thươgn nhân đều mong chờ ở một
khoản lãi nhất định, khoản lãi đó cũng là một lợi ích bảo hiểm hợp pháp, khoản lãi này
không vượt quá 10% giá trị bảo hiểm.
- Số tiền bảo hiểm của hàng hóa được bảo hiểm phải là giá trị do người được bảo hiểm
khai báo và được người bảo hiểm thừa nhận. Trách nhiệm của người bảo hiểm chỉ giới
hạn trong phạm vi số tiền bảo hiểm.
- Phí bảo hiểm (premium): là một khoản tiền nhỏ mà người được bảo hiểm phải nộp cho
• Điều kiện bảo hiểm,
• Tỷ lệ phí bảo hiểm
• Thời hạn bảo hiểm v.v
Ưu điểm của loại hợp đồng này là thủ tục đơn gian , phí bảo hiểm rẻ hơn và hàng sẽ
được tự động bảo hiểm cho dù người được bảo hiểm mua bảo hiểm muộn (sau khi tàu đã
rời bến) với điều kiện người được bảo hiểm phải thông báo cho người bảo hiểm biết càng
sớm càng tốt và thông báo này không được làm chậm quá sau khi tàu bắt đầu dỡ lô hàng
đầu tiên tại cảng đến cuối cùng ghi trên đơn bảo hiểm ( theo khoản 2 điều 17 - QTC
1990) .
- Bảo hiểm trùng: Nếu cùng một số hàng mà đem bảo hiểm với nhiều người bảo hiểm và
nếu tổng của những số tiền bảo hiểm vượt quá giá trị bảo hiểm thì trách nhiệm của tất cả
những người bảo hiểm cũng chỉ giới hạn ở giá trị bảo hiểm và trách nhiệm của mỗi người
bảo hiểm được tính theo tỷ lệ giữa số tiền bảo hiểm riêng và tổng của những số tiền bảo
hiểm. (theo khoản 1 - Điều 16 - QTC-1990)
Nếu trách nhiệm bảo hiểm chưa bắt đầu thì người được bảo hiểm có thể yêu cầu huỷ bỏ
hợp đồng bảo hiểm hoặc giảm bớt số tiền bảo hiểm và đòi hoàn lại phần phí bảo hiểm
tương ứng, với điều kiện trong trường hợp huỷ hợp đồng người bảo hiểm có quyền yêu
cầu người được bảo hiểm nộp thủ tục phí.
Là trường hợp một tài sản được mua bảo hiểm hai hoặc nhiều lần cho cùng một lợi ích
bảo hiểm và rủi ro. Thí dụ: một người mua nhận được điện của người bán báo hàng đã
được gửi đi, nhưng qua bức điện này, không thể biết được người bán đã mua bảo hiểm
cho mình hay chưa, vì vậy phải ký hợp đồng bảo hiểm. Đến khi chứng từ giao hàng đến
nơi, người mua mới biết người bán đã mua bảo hiểm cho mình. Trường hợp này gọi là
bảo hiểm trùng.
Cần lưu ý: có trường hợp mua nhiều lần bảo hiểm cho một món hàng, vẫn không phải là
bảo hiểm trùng, khi các lần bảo hiểm đó được mua cho những quyền lợi khác nhau. Thí
dụ: trong trường hợp bán hàng trả tiền sau, theo điều kiện FOB, người mua đương nhiên
mua bảo hiểm cho mình, còn người bán vì có thể lo không thu được tiền hàng, nên đã
mua riêng bảo hiểm vì lợi ích cho bản thân mình. Như vậy, hai hợp đồng bảo hiểm đó
bảo hiểm cho hai quyền lợi riêng biệt.
- Kho đi: là kho ở đó hàng hoá đã được đóng gói một cách hoàn chỉnh chờ xếp lên
phương tiện vận chuyển đường bộ, đường sông để mang ra cảng biển hoặc là kho được
ghi tên trên hợp đồng bảo hiểm
- Kho đến: là kho cuối cùng thuộc quyền sở hữu hoặc quản lý của người được bảo hiểm
hoặc là kho nằm ngoài hành trình vận chuyển bình thường của tàu hoặc là kho mà hàng
hoá được gửi nhầm đến hoặc là kho mà người được bảo hiểm dùng làm nơi lưu kho, lưu
bãi hay phân phối hàng hoá hay là kho được ghi tên trên hợp đồng bảo hiểm
III. Phạm vi Bảo hiểm :
- ICC 1982:
+ C: phạm vi bảo hiểm tương đương với FPA (Free from Particular Average): điều kiện
miễn tổn thất riêng
+ B: phạm vi bảo hiểm tương đương với WA (With Particular Average): điều kiện bảo hiểm
tổn thất riêng
+ A: phạm vi bảo hiểm tương đương với AR (All Risk): điều kiện bảo hiểm mọi rủi ro
+ WR (War Risk): điều kiện bảo hiểm các rủi ro chiến tranh
+ SRCC: điều kiện bảo hiểm rủi ro đình công
3.1 Các điều kiện bảo hiểm của Việt nam
- Sử dụng các quy tắc chung (QTC) do Bộ Tài chính ban hành, nội dung chủ yếu của các
QTC cũng dựa trên nội dung của các ICC:
+) QTC 1965: FPA, WA, AR tương tự như ICC 1963, chưa đề cập đến WR và SRCC
+) QTC 1990: C, B, A tương tự như ICC 1982
3.2 Trách nhiệm của người bảo hiểm theo các điều kiện bảo hiểm:
3.2.1 Những tổn thất và rủi ro được bảo hiểm theo từng điều kiện theo QTC 1990:
* Điều kiện C: bảo hiểm bồi thường trong 7 trường hợp:
a> Những mất mát, hư hỏng xảy ra cho hàng hoá được bảo hiểm có thể quy hợp lý
cho các nguyên nhân sau đây:
- Cháy hoặc nổ
- Tàu hay sà lan bị mắc cạn, đắm hoặc lật úp
- Tàu đâm va nhau hoặc tàu, sà lan hay phương tiện vận tải đâm va phải bất kỳ vật
thể gì bên ngoài không kể nước.