Mở đầu
1. Lý do lựa chọn đề tài
Bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đờng biển quốc tế có vai trò hết
sức quan trọng trong hoạt động ngoại thơng của các quốc gia, đặc biệt là
những nớc mà vận tải biển là phơng thức vận tải chủ yếu trong thơng mại quốc
tế nh ở Việt Nam.
Bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đờng biển quốc tế chịu sự điều
chỉnh của một hệ thống quy phạm pháp luật hết sức phức tạp. Tính chất quốc
tế của việc vận chuyển hàng hóa bằng đờng biển đòi hỏi một sự tơng thích
nhất định giữa luật bảo hiểm hàng hải của mỗi quốc gia với các chuẩn mực
tiên tiến về bảo hiểm hàng hải quốc tế.
Cũng nh nhiều nớc trên thế giới, bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng
đờng biển ở Việt Nam là một nghiệp vụ bảo hiểm hàng hải, do đó nó đợc điều
chỉnh trớc tiên bởi Bộ luật hàng hải Việt Nam. Bộ luật hàng hải Việt Nam đầu
tiên đợc ban hành từ năm 1990, sau hơn 10 năm áp dụng đã nhờng chỗ cho Bộ
luật hàng hải Việt Nam năm 2005. Việc ban hành Bộ luật hàng hải Việt Nam
2005 trong bối cảnh nớc ta đang trong giai đoạn chuẩn bị cho việc gia nhập tổ
chức thơng mại thế giới có một ý nghĩa to lớn. So với Bộ luật hàng hải năm
1990, Bộ luật hàng hải năm 2005 có nhiều điểm tiến bộ vợt trội. Tuy nhiên,
bên cạnh những điểm tiến bộ, bản thân Bộ luật này vẫn còn có những hạn chế,
khiếm khuyết. Bên cạnh đó, hiện trạng thực thi pháp luật về bảo hiểm hàng
hóa vận chuyển trong lĩnh vực hàng hải ở nớc ta cũng đặt ra những vấn đề
pháp lý cần phải giải quyết. Từ thực tiễn trên cho thấy, việc nghiên cứu một
cách toàn diện những vấn đề pháp lý về hợp đồng bảo hiểm hàng hóa vận
chuyển bằng đờng biển quốc tế nhằm tìm ra những giải pháp và kiến nghị hữu
dụng cho việc hoàn thiện pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực này trở nên có ý
nghĩa quan trọng.
1
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả luận văn đã lựa chọn nghiên cứu
đề tài "Hợp đồng bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đờng biển quốc tế".
2. ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Các phơng pháp đợc sử dụng trong nghiên cứu của luận văn là:
- Phơng pháp duy vật biện chứng, các vấn đề nghiên cứu đợc giải
quyết từ lý luận đến thực tiễn với việc kết hợp ba quan điểm: quan điểm toàn
diện, quan điểm phát triển và quan điểm lịch sử cụ thể.
- Phơng pháp tổng hợp, phân tích, đối chiếu và so sánh trong các
nghiên cứu từ thực tiễn đến việc xây dựng giải pháp, kiến nghị.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
nội dung của luận văn bao gồm 3 chơng:
Chơng 1: Những vấn đề chung về bảo hiểm và bảo hiểm hàng hóa vận
chuyển bằng đờng biển quốc tế.
Chơng 2: Những điểm cơ bản của hợp đồng bảo hiểm hàng hóa vận
chuyển bằng đờng biển quốc tế.
Chơng 3: Hiện trạng thực thi và một số giải pháp hoàn thiện pháp
luật Việt Nam về bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đờng biển quốc tế.
3
Chơng 1
Những vấn đề chung về bảo hiểm và bảo hiểm
hàng hóa vận chuyển bằng đờng biển quốc tế
1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. Khái niệm bảo hiểm
ý tởng tìm cách chống đỡ thiên tai, tai họa đã xuất hiện ngay từ thời
kỳ cổ xa của nền văn minh nhân loại. Việc dự trữ thức ăn có đợc từ săn bắn,
hái lợm thời nguyên thủy có thể coi là những hành động có ý thức đầu tiên của
con ngời nhằm bảo vệ mình trớc những rủi ro, bất trắc. Hành động dự trữ thức
ăn của từng cá nhân hoặc từng nhóm ngời thời cổ xa xuất phát từ nhu cầu sinh
tồn trong những mùa khan hiếm hoặc những ngày tháng ma gió, rét mớt
không đi kiếm ăn đợc. Tuy nhiên, thực tiễn cuốc sống đã dạy cho con ngời ý
thức đợc rằng nguy cơ đe dọa cuộc sống của họ không chỉ là thức ăn khan
hiếm hay thời tiết khắc nghiệt. Cùng với sự phát triển của xã hội, bên cạnh
nhận rủi ro của ngời đợc bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm
chấp nhận đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo
hiểm cho ngời đợc bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm [4].
Sự khác nhau trong các quan niệm về bảo hiểm xuất phát từ việc nhìn
nhận bảo hiểm ở các góc độ khác nhau và cách thức tiếp cận khác nhau. Bảo
hiểm là một lĩnh vực rộng lớn và phức tạp hàm chứa yếu tố kinh doanh, pháp
lý, kỹ thuật nghiệp vụ đặc trng nên khó có thể tìm đợc một định nghĩa hoàn
hảo thể hiện đợc tất cả các khía cạnh đó.
Từ những nhận định trên, có thể hiểu: Bảo hiểm là sự cam kết bồi thờng
của ngời bảo hiểm đối với ngời đợc bảo hiểm đợc thực hiện qua hợp đồng bảo
hiểm, theo đó ngời mua bảo hiểm chấp nhận trả phí bảo hiểm và ngời bảo
hiểm bồi thờng hoặc trả tiền bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.
5
Khái niệm trên đã hàm chứa những điểm cốt lõi nhất về bảo hiểm kinh
doanh, đó là:
- Đặc thù pháp lý của việc chuyển giao rủi ro bằng bảo hiểm là thực
hiện qua hợp đồng bảo hiểm.
- Hai chủ thể đặc trng của hợp đồng bảo hiểm là ngời mua bảo hiểm và
ngời bảo hiểm (doanh nghiệp bảo hiểm);
- Qua bảo hiểm, hậu quả của rủi ro có thể xảy ra đợc chuyển giao từ
bên mua bảo hiểm sang bên bảo hiểm theo một cơ chế đặc biệt, bên mua bảo
hiểm trả phí bảo hiểm để đổi lấy "lời hứa" (cam kết) bồi thờng hoặc trả tiền
bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm.
- Điều kiện để doanh nghiệp thực hiện cam kết của mình là xảy ra sự
kiện bảo hiểm.
Sự kiện bảo hiểm là sự kiện khách quan do các bên thỏa thuận hoặc do
pháp luật quy định mà khi sự kiện đó xảy ra thì doanh nghiệp bảo hiểm phải
trả tiền bảo hiểm cho ngời thụ hởng hoặc bồi thờng cho ngời đợc bảo hiểm [4,
tr. 10].
1.1.2. Phân loại bảo hiểm
Theo cách phân loại trên, bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đờng
biển quốc tế là một trong các loại hình bảo hiểm tài sản.
1.1.2.2. Phân loại bảo hiểm theo nghiệp vụ bảo hiểm
Theo nghiệp vụ bảo hiểm, Luật kinh doanh bảo hiểm Việt Nam chia
hoạt động kinh doanh bảo hiểm thành hai loại bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm
phi nhân thọ. Tại Điều 7 Luật kinh doanh bảo hiểm quy định bảo hiểm nhân
thọ bao gồm 6 nhóm nghiệp vụ và bảo hiểm phi nhân thọ bao gồm 12 nhóm
nghiệp vụ bảo hiểm sau:
7
1. Bảo hiểm nhân thọ bao gồm:
a) Bảo hiểm trọn đời;
b) Bảo hiểm sinh kỳ;
c) Bảo hiểm tử kỳ;
d) Bảo hiểm hỗn hợp;
đ) Bảo hiểm trả tiền định kỳ;
e) Các nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ khác do Chính phủ quy định.
2. Bảo hiểm phi nhân thọ bao gồm:
a) Bảo hiểm sức khỏe và bảo hiểm tai nạn con ngời;
b) Bảo hiểm tài sản và bảo hiểm thiệt hại;
c) Bảo hiểm hàng hóa vận chuyển đờng bộ, đờng biển, đờng
sông, đờng sắt và đờng không;
d) Bảo hiểm hàng không;
đ) Bảo hiểm xe cơ giới;
e) Bảo hiểm cháy, nổ;
g) Bảo hiểm thân tàu và trách nhiệm dân sự của chủ tàu;
h) Bảo hiểm trách nhiệm chung;
i) Bảo hiểm tín dụng và rủi ro tài chính;
k) Bảo hiểm thiệt hại kinh doanh;
l) Bảo hiểm nông nghiệp;
m) Các loại nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ khác do Chính
nh ngày nay.
Trong bảo hiểm hàng hải, ngời bảo hiểm không chỉ nhận bảo hiểm
cho tàu biển mà còn bảo hiểm cho các hoạt động hàng hải. Hoạt động hàng
9
hải là hoạt động có liên quan đến việc sử dụng tàu biển vào các mục đích
kinh tế, nghiên cứu khoa học - kỹ thuật, và các mục đích khác. Bảo hiểm
hàng hải ra đời trớc tiên và chủ yếu là phục vụ cho đội tàu buôn, đó là các
tàu biển đợc sử dụng vào các mục đích kinh tế nh vận chuyển hàng hóa, hành
khách, thăm dò, khai thác tài nguyên biển, trục vớt, cứu hộ và các mục đích
kinh tế khác.
Bảo hiểm hàng hải bao gồm ba loại bảo hiểm chủ yếu đó là: bảo hiểm
thân tàu biển; bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đờng biển và bảo hiểm
trách nhiệm dân sự của chủ tàu biển (bảo hiểm P and I).
Bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đờng biển bao gồm cả bảo hiểm
hàng hóa vận chuyển bằng đờng biển quốc tế và bảo hiểm hàng hóa vận
chuyển giữa các cảng biển Việt Nam (trong phạm vi nội thủy và lãnh hải Việt
Nam). Bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đờng biển quốc tế thực chất là bảo
hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đờng biển.
1.1.4 Các bên liên quan trong hợp đồng bảo hiểm hàng hóa vận
chuyển bằng đờng biển quốc tế
Nh đã đề cập, bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đờng biển quốc tế
thực chất là bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đờng biển.
Hợp đồng bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đờng biển có
mối quan hệ mật thiết với hợp đồng mua bán ngoại thơng và hợp đồng vận
chuyển. Vì vậy, ngoài hai chủ thể chủ yếu là doanh nghiệp bảo hiểm và bên
mua bảo hiểm, hợp đồng bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyển bằng
đờng biển còn liên quan đến nhiều bên khác nh ngời vận chuyển, ngời nhận
ủy thác hàng hóa, ngời giao nhận kho vận, , trong đó chủ yếu và quan trọng
nhất là ngời vận chuyển.
Để tạo cơ sở cho các nghiên cứu ở các chơng sau, trong phần này, đề
ngời đợc nhận tiền bồi thờng của ngời bảo hiểm khi có sự kiện bảo hiểm xảy
ra. Ngời đợc bảo hiểm thờng là ngời nhập khẩu.
11
Khác với các nghiệp vụ bảo hiểm khác, ngời đợc bảo hiểm không nhất
thiết phải có quyền lợi bảo hiểm khi tiến hành bảo hiểm, tuy nhiên, họ phải có
dự tính hợp lý về việc tiếp nhận quyền lợi ấy.
Trờng hợp ngời xuất khẩu là ngời tham gia bảo hiểm, cùng với việc gửi
hàng, họ phải chuyển nhợng quyền lợi của hợp đồng bảo hiểm cho ngời nhập
khẩu thông qua việc ký hậu vào đơn bảo hiểm gửi cho ngời nhập khẩu.
Tại khoản 3 Điều 226 Bộ luật hàng hải Việt Nam 2005 quy định:
3. Ngời đợc bảo hiểm phải có quyền lợi trong đối tợng bảo
hiểm tại thời điểm xảy ra tổn thất và có thể không có quyền lợi
trong đối tợng bảo hiểm tại thời điểm tham gia bảo hiểm. Khi đối t-
ợng bảo hiểm đợc bảo hiểm theo điều kiện có tổn thất hoặc không
có tổn thất thì ngời đợc bảo hiểm vẫn có thể đợc bồi thờng mặc dù
sau khi tổn thất xảy ra mới có quyền lợi bảo hiểm, trừ trờng hợp ng-
ời đợc bảo hiểm biết tổn thất đã xảy ra, còn ngời bảo hiểm không
biết việc đó [2, tr. 163].
- Ngời chuyên chở: Là những tổ chức, cá nhân sử dụng phơng tiện vận
tải là tàu biển, đảm nhận việc vận chuyển hàng hóa bằng tàu biển theo yêu cầu
của chủ hàng hoặc ngời đợc ủy thác.
Trong vận tải biển, ngời chuyên chở có thể là chủ tàu hoặc ngời thuê tàu.
1.1.5. Đối tợng bảo hiểm
Trong hợp đồng bảo hiểm tài sản nói chung, bao giờ cũng có một tài sản
hoặc một vật thể dễ bị đe dọa bởi các rủi ro, tài sản hay vật thể đó đợc gọi là đối
tợng bảo hiểm. Nói một cách khác đối tợng bảo hiểm là tài sản và những lợi ích
liên quan tới tài sản bị đe dọa trớc các rủi ro. Chính vì mục đích phục hồi, an toàn
và tái tạo lại đối tợng bảo hiểm mà hợp đồng bảo hiểm đợc giao kết.
Trong bảo hiểm hàng hải, đối tợng bảo hiểm đợc quy định tại Điều 225 Bộ
luật hàng hải Việt Nam, theo đó:
hết là các rủi ro hàng hải. Theo khoản 1 Điều 224 Bộ luật hàng hải Việt Nam:
Rủi ro hàng hải là những rủi ro xảy ra liên quan đến hành
trình đờng biển bao gồm các rủi ro của biển, cháy, nổ, chiến tranh,
cớp biển, trộm cắp, kê biên, quản thúc, giam giữ, ném hàng xuống
biển, trng thu, trng dụng, trng mua, hành vi bất hợp pháp và các rủi
ro tơng tự hoặc các rủi ro khác đợc thỏa thuận trong hợp đồng bảo
hiểm [2].
Cần lu ý rằng, các rủi ro hàng hải liệt kê trên đây không phải là các rủi
ro mặc nhiên đợc bảo hiểm trong các hợp đồng bảo hiểm hàng hải. Việc hợp
đồng bảo hiểm đảm bảo cho những rủi ro nào tùy thuộc vào thỏa thuận giữa
ngời mua bảo hiểm và ngời bảo hiểm. Thực tế, có nhiều hợp đồng bảo hiểm
hàng hải chỉ nhận bảo hiểm cho một số rủi ro trong những rủi ro có thể đợc
bảo hiểm kể trên.
Hoạt động hàng hải là hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro song rủi ro đ-
ợc bảo hiểm phải là những thiên tai, tai nạn bất ngờ của biển gây ra h hại hàng
hóa và phơng tiện chuyên chở chứ không phải mọi rủi ro trên biển. Trong các
đơn bảo hiểm hàng hải cổ xa nhất, ngời bảo hiểm chỉ nhận bảo hiểm cho 4 rủi
ro, hiểm họa lớn là: chìm đắm; mắc cạn; cháy nổ; đâm va. Sau này, do hoạt
động thơng mại quốc tế ngày càng phát triển, nhu cầu về bảo hiểm của các th-
ơng nhân ngày một cao vì vậy, để thu hút khách hàng các công ty bảo hiểm
ngày càng mở rộng phạm vi bảo hiểm của mình.
Các rủi ro trong quá trình vận chuyển hàng hóa bằng đờng biển thờng
đợc chia thành 4 loại là: rủi ro thông thờng; rủi ro phụ; rủi ro riêng và rủi ro
loại trừ.
* Rủi ro thông thờng: Là nguồn đe dọa chủ yếu và lớn nhất đối với
các hành trình hàng hải, nó bao gồm hai nhóm rủi ro: nhóm rủi ro chính và
nhóm rủi ro thông thờng khác.
14
- Nhóm rủi ro chính bao gồm các rủi ro sau:
+ Mắc cạn là hiện tợng đáy tàu chạm sát với đáy biển hoặc chớng ngại
hàng. Đây là hiện tợng nớc biển, sông, hồ xâm nhập vào hầm tàu, sà lan,
container, xe nâng hàng, nơi chứa hàng có mái che hay ngoài trời làm hang
hóa bị h hỏng.
Ngoài những rủi ro trên, nhóm rủi ro thông thờng khác còn bao gồm
các rủi ro sau:
+ Động đất, núi lửa phun, sét đánh.
+ Mất cắp, giao thiếu hàng hoặc không giao hàng.
+ Hành vi phi pháp của thuyền trởng, thủy thủ.
+ Cớp biển.
* Rủi ro phụ: là những rủi ro không phải là rủi ro của biển hay rủi ro
trên biển và đợc bảo hiểm theo điều kiện bảo hiểm A hoặc điều kiện bảo hiểm
mọi rủi ro trong ICC 1963, bao gồm các rủi ro sau:
- Vỡ, cong, bẹp là hiện tợng hàng hóa bị h hại hoặc biến dạng do các
tác động cơ học trong quá trình vận chuyển và bốc dỡ.
- Rỉ là hiện tợng hàng kim loại bị ôxy hóa hoặc bị ăn mòn hóa học do
độ ẩm cao hoặc nhiễm a xít.
- Hấp hơi là hiện tợng không khí trong hầm hàng có độ ẩm cao ngng
đọng thành nớc làm hỏng hàng.
- Nóng là hiện tợng hàng hóa bị nóng do tính chất riêng của hàng, do
lây từ hàng khác sang, do máy lạnh của tàu bị hỏng hoặc xếp gần buồng máy.
- Lây hại là hiện tợng hàng hóa bị h hỏng do xếp gần hàng có hơng vị
trái ngợc hoặc do ký sinh trùng từ hàng này lây sang hàng kia.
16
- Lây bẩn là hiện tợng hàng hóa bị bẩn do sơn, phẩm màu, dầu mỡ
ngấm qua bao bì.
- Các rủi ro phụ khác: h hại do móc cẩu, chuột bọ côn trùng, nấm mốc,
xây xát, rơi vãi,
* Rủi ro riêng: là những rủi ro chỉ đợc bảo hiểm khi có thỏa thuận
giữa ngời đợc bảo hiểm và ngời bảo hiểm theo những điều kiện riêng, bao
gồm hai rủi ro sau:
với phí bảo hiểm, tiền cớc vận chuyển và có thể cả tiền lãi ớc tính". (khoản 2
Điều 232 Bộ luật hàng hải Việt Nam 2005). Nh vậy, theo quy định trên, giá trị
bảo hiểm của hàng hóa đợc xác định trên cơ sở giá trị hàng hóa tại cảng đến
cuối cùng trong hành trình vận chuyển hàng hóa.
- Số tiền bảo hiểm: Luật kinh doanh bảo hiểm quy định: "Số tiền
bảo hiểm là số tiền mà bên mua bảo hiểm yêu cầu bảo hiểm cho tài sản đó"
(Điều 41, Luật kinh doanh bảo hiểm).
Quy định tơng đơng có thể tìm thấy tại điều 233 Bộ luật hàng hải Việt
Nam 2005, theo đó: "1. Khi giao kết hợp đồng bảo hiểm, ngời đợc bảo hiểm
phải kê khai số tiền cần bảo hiểm cho đối tợng bảo hiểm (sau đây gọi là số
tiền bảo hiểm)" [2, tr. 169].
Cả hai khái niệm nêu trên đều tơng đồng về ngữ nghĩa bởi lẽ đều
khẳng định số tiền bảo hiểm là khoản tiền mà ngời mua bảo hiểm kê khai theo
nhu cầu bảo hiểm cho đối tợng bảo hiểm của họ. Tuy nhiên, trong thực tế
không phải mọi nhu cầu về số tiền cần bảo hiểm của bên mua bảo hiểm đều đ-
ợc ngời bảo hiểm chấp nhận. Chẳng hạn trong bảo hiểm mất cắp xe ô tô, ngời
mua bảo hiểm muốn bảo hiểm với số tiền bảo hiểm bằng giá trị của xe song
18
ngời bảo hiểm chỉ nhận bảo hiểm với một số tiền bảo hiểm thấp hơn giá trị xe
nhằm gắn trách nhiệm của ngời đợc bảo hiểm trong việc bảo quản xe của
mình.
Về nguyên tắc ngời bảo hiểm chỉ chấp nhận một bản hợp đồng bảo
hiểm có số tiền bảo hiểm tối đa bằng giá trị bảo hiểm, nhằm tránh các hiện t-
ợng gian lận, trục lợi trong quan hệ bảo hiểm.
Với bản hợp đồng bảo hiểm có số tiền bảo hiểm bằng giá trị hàng hóa
đợc gọi là bảo hiểm đúng giá trị (full Insurance). Tuy nhiên, vì nhiều lý do khác
nhau nh: do nguyện vọng của ngời mua bảo hiểm chỉ muốn đảm bảo một phần
giá trị hàng hóa; do giá cả hàng hóa biến động trong thời hạn bảo hiểm hoặc do
việc định giá hàng hóa không chính xác, có thể dẫn đến các trờng hợp:
+ Số tiền bảo hiểm của hợp đồng thấp hơn giá trị hàng hóa đợc bảo
thất toàn bộ và tổn thất bộ phận. Nếu căn cứ vào tính chất liên quan và trách
nhiệm của các bên đối với tổn thất, tổn thất đợc chia thành tổn thất chung và
tổn thất riêng.
Bộ luật hàng hải Việt Nam 2005 chỉ định nghĩa về tổn thất toàn bộ mà
không có định nghĩa về các loại tổn thất khác. Tại Điều 254 Bộ luật này, tổn
thất toàn bộ trong bảo hiểm hàng hải đợc chia thành tổn thất toàn bộ ớc tính
và tổn thất toàn bộ thực tế, theo đó:
1. Tổn thất toàn bộ ớc tính là tổn thất do tàu biển, hàng hóa
bị h hỏng mà xét thấy không thể tránh khỏi tổn thất toàn bộ hoặc chi
phí sửa chữa, phục hồi vợt quá giá trị của tàu biển sau khi sửa chữa
hoặc vợt quá giá thị trờng của hàng hóa đó tại cảng trả hàng; trong
20
trờng hợp này, ngời đợc bảo hiểm phải gửi tuyên bố từ bỏ đối tợng
bảo hiểm đến ngời bảo hiểm trớc khi yêu cầu trả tiền bảo hiểm.
2. Tổn thất toàn bộ thực tế là tổn thất, do tàu biển, hàng hóa
bị phá hủy, h hỏng toàn bộ mà không phục hồi đợc hoặc tàu biển
mất tích cùng hàng hóa; trong trờng hợp này, ngời đợc bảo hiểm có
thể đòi ngời bảo hiểm bồi thờng toàn bộ số tiền bảo hiểm mà không
phải tuyên bố từ bỏ đối tợng bảo hiểm [2, tr. 181].
Thực tế, trong bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đờng biển các loại
tổn thất trên đợc hiểu nh sau:
- Tổn thất toàn bộ: Là sự mất mát, h hỏng hoàn toàn hàng hóa đợc bảo
hiểm. Tổn thất toàn bộ đối với hàng hóa cũng đợc chia thành hai loại: tổn thất
toàn bộ thực tế và tổn thất toàn bộ ớc tính.
+ Tổn thất toàn bộ thực tế là tổn thất trên thực tế hàng đã bị mất toàn
bộ giá trị và giá trị sử dụng nh: hàng bị phá hủy, hủy hoại hoàn toàn do cháy,
nổ, thối rữa; hàng không còn khả năng lấy lại đợc do bị chiếm giữ, tớc đoạt,
tịch thu; hàng chở trên tàu bị đắm không có khả năng trục vớt; hàng bị mất
hoàn toàn giá trị sử dụng nh xi măng ớt nớc bị đông cứng, gạo bị mốc đen, đ-
ờng bị chảy nớc; hàng chở trên tàu bị mất tích.
hiểm phải bồi thờng cho ngời đợc bảo hiểm theo tổn thất toàn bộ ớc tính và đ-
ợc tiếp nhận mọi quyền và nghĩa vụ liên quan đến lô hàng bị ngời đợc bảo
hiểm từ bỏ. Trờng hợp ngời bảo hiểm từ chối thông báo từ bỏ hàng hóa, ngời
đợc bảo hiểm vẫn có quyền đòi bồi thờng tổn thất của hàng hóa theo tổn thất
bộ phận (Điều 253 Bộ luật hàng hải Việt Nam năm 2005).
- Tổn thất bộ phận: Là sự mất mát, h hỏng, giảm giá trị một phần
hàng hóa đợc bảo hiểm, bao gồm các dạng sau:
+ H hỏng hoàn toàn một phần hàng hóa;
+ Hàng bị giảm về trọng lợng;
22
+ Hàng bị giảm về số lợng;
+ Hàng bị giảm về thể tích;
+ Hàng bị giảm về giá trị.
- Tổn thất riêng: Là tổn thất chỉ gây thiệt hại cho riêng quyền lợi của
một hoặc một số chủ hàng trên tàu và chỉ liên quan đến quyền lợi của những
chủ hàng, những ngời bảo hiểm cho các chủ hàng đó mà thôi. Tổn thất riêng
có thể là tổn thất bộ phận hoặc tổn thất toàn bộ của chủ hàng riêng biệt. Ngời
bảo hiểm không những bồi thờng giá trị thiệt hại vật chất của tổn thất riêng
mà còn chi trả cả những chi phí liên quan đến tổn thất riêng nhằm hạn chế tổn
thất gọi là chi phí tổn thất riêng. Chi phí tổn thất riêng bao gồm các chi phí
phân loại, đóng gói lại hàng hóa, chi phí thay lại bao bì, chi phí sấy khô hàng
hóa bị ớt
- Tổn thất chung: Tổn thất chung gây ra bởi hoặc do hậu quả của
hành động tổn thất chung, đó là sự hi sinh một số ít quyền lợi của chủ hàng,
chủ tàu nhằm cứu vãn an toàn cho tất cả các quyền lợi chung trên hành trình
khi có nguy cơ đe dọa. Hành động tổn thất chung là hành động hy sinh tự
nguyện, có chủ ý của con ngời nhằm đem lại an toàn chung cho toàn bộ hành
trình.
Tổn thất chung bao gồm hy sinh tổn thất chung và chi phí tổn thất
chung. Hy sinh tổn thất chung là những hy sinh tài sản trong hành động tổn
Khi xác định đợc có ngời thứ ba chịu trách nhiệm về một phần hoặc
toàn bộ tổn thất, sau khi bồi thờng cho ngời đợc bảo hiểm, ngời bảo hiểm sẽ
tiến hành các thủ tục thế quyền ngời đợc bảo hiểm để đòi ngời thứ ba phần
thiệt hại thuộc trách nhiệm của họ và trong giới hạn đã bồi thờng cho ngời đợc
bảo hiểm.
24
1.2. Lợc sử hình thành và phát triển của pháp luật về bảo
hiểm hàng hải
1.2.1. Khái quát về lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật
về bảo hiểm hàng hải
Hoạt động kinh doanh bảo hiểm hàm chứa các mối quan hệ bảo hiểm.
Đó là những mối quan hệ phức tạp giữa ngời đợc bảo hiểm và ngời bảo hiểm;
giữa các tổ chức bảo hiểm với nhau; giữa tổ chức bảo hiểm với các tổ chức
kinh tế, xã hội khác và Nhà nớc. Các mối quan hệ này không chỉ bó hẹp trong
phạm vi từng quốc gia mà rộng khắp trên phạm vi quốc tế. Những mối quan
hệ đó đợc điều chỉnh bằng luật pháp của các quốc gia và cả những nguồn luật
mang tính chất quốc tế và khu vực.
Pháp luật về kinh doanh bảo hiểm là tên gọi chung của các văn bản
pháp lý, án lệ, tiền lệ có đối tợng điều chỉnh là quan hệ bảo hiểm tạo thành
một hệ thống pháp luật hớng tới một chuẩn mực điều chỉnh các quan mối
quan hệ bảo hiểm.
Pháp luật về bảo hiểm hàng hải ra đời từ rất sớm. Vào khoảng ba, bốn
thế kỷ trớc công nguyên, luật buôn bán đờng biển Ru-tơ giữ một vai trò quan
trọng trong hoạt động buôn bán đờng biển ở Địa Trung Hải. Trong luật này có
quy định về "tổn thất chung trên biển". Sau thế kỷ 14, theo đà phát triển của
hoạt động buôn bán đờng biển cũng nh sự phồn vinh của hoạt động bảo hiểm
hàng hải ở châu Âu đã dần xuất hiện những luật lệ về hoạt động hàng hải,
trong đó gồm cả nội dung của luật pháp về bảo hiểm. Theo đà phát triển của
thơng mại quốc tế và sự tiến bộ về giao thông quốc tế các văn bản luật liên
quan đến buôn bán quốc tế liên tục ra đời và phát triển.