Tham vấn tâm lý với giáo viên mầm non - Pdf 33

MỤC LỤC
Trang
PHẦN 1. MỞ ĐẦU……………………………………………………..………….……..2
PHẦN 2. NỘI DUNG…………………………………………………..………………...3
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THAM VẤN VỚI GIÁO VIÊN MẦM
NON………………………………………………………………………………………3
1.1. Những vấn đề chung về tham vấn tâm lý……………………………...……………..3
1.1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về tham vấn tâm lý giáo viên…………………….3
1.1.2. Khái niệm và bản chất tham vấn tâm lý………………………..………...……..…..5
1.2. Những vấn đề chung về giáo viên mầm non……………………...……………..…...6
1.2.1 Khái niệm về giáo viên và giáo viên mầm non…………………..……………..…...6
1.2.2. Đặc điểm lao động sư phạm của người giáo viên mầm non……..…………..……..7
CHƯƠNG 2. CHÂN DUNG THÂN CHỦ VÀ CHÂN DUNG NHÀ THAM
VẤN…………………………………………………………….………………..………..7
2. 1. Đặc điểm giáo viên mầm non (chân dung thân chủ)……………… ………..…...….7
2.1.1. Cấu trúc nhân cách của người giáo viên mầm non…………..…………..………....7
2.1.2. Phẩm chất và năng lực của người giáo viên mầm non……...…………..………….8
2.1.3 Thân chủ, nan đề và các cơ chế phòng vệ của thân chủ là giáo viên mầm
non…………..…………..………..………..…………..…..……..………..……….……..9
2.2. Kiến thức và kỹ năng của nhà tham vấn phù hợp với đối tượng tham vấn là giáo viên
mầm non (chân dung nhà tham vấn)……...………………………………………..…… 12
2.2.1. Kiến thức cơ bản của nhà tham vấn tâm lý…………………………………......…12
2.2.2. Các kỹ năng cơ bản của nhà tham vấn tâm lý……………………………..………12
CHƯƠNG 3. MÔ HÌNH, HÌNH THỨC VÀ QUY TRÌNH THAM VẤN CHO
THÂN CHỦ………………..…………………………………………………………....16
3.1. Mô hình tham vấn cho thân chủ................…...…………………………………..….16
3.2. Hình thức tham vấn với thân chủ………………...……………………………...…..16
3.3. Quy trình tham vấn với thân chủ………………...…………………………….……16
3. Lập hồ sơ đánh giá ban đầu cho đối tượng tham vấn …………………...…...……….24
3.1. Thông tin về thân chủ………...…………………………….…………….…………24
3.2. Ấn tượng của nhà tham vấn ……………………...………………………………....25

- Tham vấn tâm lý giáo viên có tác dụng nâng cao năng lực xử lý vấn đề tâm lý học sinh.
- Tham vấn tâm lý giáo viên có tác dụng bổ dụng tích cực công tác của giáo viên, thúc
đẩy sự trưởng thành và thích ứng ở giáo viên. (Kiến Văn, Lý Chú Hưng 2007, tr. 222233)
Như chúng ta đã biết, lao động nghề nghiệp của giáo viên mầm non có đối tượng lao
động trực tiếp là trẻ em trong độ tuổi 3 tháng tới 6 tuổi. Các em học sinh có quy luật phát
triển tâm lý riêng. Đây là lứa tuổi nhân cách của trẻ bắt đầu hình thành và đang tiềm ẩn
những khả năng phát triển rất lớn. Do đó, người giáo viên phải có tình yêu thương, lòng
tin và sự tôn trọng đối với các em, đối xử công bằng, dân chủ và tế nhị trong cách ứng
xử, mềm dẻo, nhưng phải cương quyết.
Với giáo viên các lớp mẫu giáo lớn có nhiệm vụ quan trọng là cùng với phụ huynh
chuẩn bị về mặt tâm lý trẻ vào lớp một trường phổ thông là chuẩn bị một cách toàn diện
những phẩm chất tâm lý cần thiết làm tiền đề cho hoạt động học tập. Việc chuẩn bị này
cần thực hiện trong cả quá trình giáo dục mẫu giáo, trọng tâm là lớp mẫu giáo lớn thông
qua các hoạt động, nhất là hoạt động vui chơi. Việc chuẩn bị cho trẻ vào lớp một không
phải là việc cho trẻ làm quen trước với chương trình lớp một hoặc dạy trẻ viết chữ và làm
toán thật nhiều.
Tuy nhiên có một thực tế đáng báo động là tình trạng gia đình và nhà trường mầm
non dạy trẻ viết chữ và làm toán trước khi vào lớp một diễn ra phổ biến trong hệ thống
các trường mầm non từ công lập tới dân lập như hiện nay. Thực trạng ấy đã ảnh hưởng
không nhỏ tới chất lượng giảng dạy và tâm lý các giáo viên mầm non. Việc tham vấn tâm
lý cho giáo viên là vô cùng quan trọng bởi nó không chỉ ảnh hưởng trực tiếp tới phẩm
chất, năng lực đối tượng được tham vấn là người giáo viên mầm non mà qua đó gián tiếp
ảnh hưởng tới nhân cách học sinh.
Chính từ những lý do đó, tôi đã chọn chủ đề: “Tham vấn tâm lý với giáo viên
mầm non” làm đề tài cho bài tiểu luận cuối kì của mình. Với tình huống khó khăn mà
thân chủ gặp phải, dẫn tơi áp lực tâm lý đè nặng là: “Tình trạng phụ huynh nài ép cô
giáo dạy trẻ viết chữ và làm toán dẫn tới những bất đồng với phụ huynh, cô giáo nhiều
lần bị hiệu trưởng gọi lên phòng hội đồng khiển trách khi không thực hiện đúng yêu cầu
của phụ huynh. Sau đó, cô tìm đến nhà tham vấn chuyên nghiệp nhờ trợ giúp.”


địa phương và các tiểu ban nhận được những sự hỗ trợ chính thức từ chính phủ (sự điều
hành, tài chính và nguồn nhân lực…)
Đạo luật NDEA ra đời năm 1958 tập trung vào hai vấn đề:
1). Cung cấp những nguồn lực để các bang thiết lập và duy trì các hoạt động tham
vấn, trắc nghiệm và khải đạo trong trường học;
2). Ủy quyền và cho phép các trường cao đẳng và đại học thiết kế các chương trình
đào tạo tham vấn học đường
Năm 1962, cuốn sách của Wrenn, Nhà tham vấn trong một thế giới thay đổi (The
Counselor in a Changing World) đã định chế hóa các mục tiêu của tham vấn học đường.
Năm 1964, ASCA phát triển các vai trò và chức năng dành cho các nhà tham vấn học
đường.
Năm 1965, đạo luật Giáo dục Tiểu học và Trung học (Elementary and Secondary
Education Act) ra đời và cung cấp nguồn quỹ để phát triển những cơ hội giáo dục cho
những gia đình nghèo. Đến những năm 80 và 90, nhu cầu về việc làm rõ những đặc tính
và vai trò của nhà tham vấn học đường được xuất hiện với sự “chín muồi” của những vấn
đề pháp lý liên quan.
Năm 1997, Tiêu chuẩn quốc gia dành cho các chương trình tham vấn học đường
(National Standards for School Counseling Programs) ra đời và kể từ đó, ngành tham vấn
học đường được xem là đã hoàn thiện.
Tại Việt Nam, Trước năm 1975 tại miền Nam Việt Nam, chương trình khải đạo học
đường đã được triển khai trong các trường học. Sau ngày thống nhất đất nước, với sự
thay đổi gần như hoàn toàn cách thức tiếp cận của giáo dục, chương trình khải đạo đã
không còn tồn tại trong các trường học với đúng nghĩa của nó.

3


Trong khoảng 10 năm trở lại đây, với sự xuất hiện hàng loạt những vấn đề liên quan
đến đạo đức, kỷ luật trường học, học sinh tự tử, áp lực thi cử, những rối loạn tâm lý, quan
hệ thầy trò… của các trường học Việt Nam, những nhà giáo dục, tâm lý và cùng những tổ

gia của các nhà tâm lý, giáo dục, nhà trường và phụ huynh học sinh
Trong khoảng thời gian này, một văn bản của Bộ Giáo dục đã được ban hành nhằm
chỉ đạo và hướng dẫn các Sở và trường học cùng những tổ chức liên quan trong việc triển
khai thực hiện chương trình tham vấn học đường.
Ngoài ra, chuyên mục tham vấn học đường do báo Phụ nữ Tp. HCM khởi xướng
(ThS. Nguyễn Thị Oanh phụ trách) cũng nhận được sự hưởng ứng rất nhiệt tình của đông
đảo học sinh, phụ huynh và các trường học. Tháng 06 năm 2006, cuốn sách “Tư vấn tâm
lý học đường” của tác giả Nguyễn Thị Oanh đã được nhà xuất bản Trẻ phát hành trên
toàn quốc.
Đến nay, vấn đề tham vấn học đường tại Việt Nam đã trở thành một đề tài nóng
bỏng và nhận được nhiều sự ủng hộ từ các em học sinh, phụ huynh, nhà trường, các nhà
tâm lý – giáo dục và các tổ chức thuộc chính phủ cũng như các tổ chức phi chính phủ.
Tuy nhiên, diện mạo của một ngành nghề chuyên nghiệp vẫn chưa thật sự được định
hình.
4


Như vậy, nghiên cứu tâm lý giáo viên cũng như nghiên cứu tâm lý những chủ thể
khác trong tham vấn học đường trên thế giới xuất hiện rất sớm từ những năm đầu của thế
kỉ 20 trong khi tại Việt Nam sự tiếp nhận các công trình nghiên cứu này bắt đầu vào năm
1975. Tuy nhiên việc nghiên cứu các vấn đề tâm lý học đường mới thực sự nở rộ tại nước
ta 10 năm trở lại đây với những vấn đề không cũ như công tác hướng nghiệp, đặc biệt
nóng bỏng và gây nhức nhối dư luận là tình trạng bạo lực học đường gia tăng và quan hệ
thầy trò xuống cấp…
Việc nghiên cứu tâm lý giáo viên không nằm ngoài ý nghĩa giải quyết những vấn đề
học tập và những hành vi của học sinh, bảo vệ sức khỏe tâm lý người giáo viên, bổ túc
tích cực công tác của giáo viên thúc đẩy sự trưởng thành và thích ứng ở họ. Đặc biêt tác
dụng nâng cao năng lực xử lý vấn đề tâm lý học sinh được lưu ý đặc biệt với kì vọng đảm
bảo mục đich giáo dục là hình thành ý thức tích cực học tập, tính tự giác cho người học
trong lĩnh hội, khám phá tri thức, kĩ năng, kĩ xảo mới ở các em qua đó phát triển nhân

dành thời gian nhất định và sử dụng các kỹ năng một cách thuần thục để giúp đỡ đối
tượng thân chủ tìm hiểu, xác đinh vấn đề và triển khai các giải pháp trong điều kiện cho
phép. Tham vấn lả một khoa học thực hành nhằm giúp con người vượt qua được những
khó khăn của mình, giúp họ có khả năng hoạt động độc lập trong xã hội bằng chính kỹ
năng sống và năng lực của mình.
5


Theo PGS. TS. Trần Thị Minh Đức: Tham vấn là một quá trình tương tác giữa nhà
tham vấn (người có chuyên môn và kỹ năng tham vấn, có các phẩm chất đạo đức của
nghề tham vấn và được pháp luật thừa nhận) với thân chủ (còn gọi là khách hàng người đang có vấn đề khó khăn về tâm lý muốn được giúp đỡ). Thông qua các kỹ năng
trao đổi vả chia sẻ tâm tình (dựa trên các nguyên tắc đạo đức và mối quan hệ mang tính
nghề nghiệp), thân chủ hiểu và chấp nhận thực tế của mình tự tìm lấy tiềm năng bản thân
để giải quyết vấn đề của chính mình. Thuật ngữ tham vấn mô tả chính xác bản chất của
nghề trợ giúp là giúp người khác đang có khó khăn tâm lý mà ko hướng họ theo ý mình.
Richard Nelsson (1997) cũng cho rằng mục tiêu của tham vấn là hướng tới thay đổi
cách thức cảm nhận, suy nghĩ và hành động của con người để giúp họ tạo nên một cuộc
sống tốt đẹp hơn. Do vậy, theo ông, tham vấn là một quá trình can thiệp giải quyết vấn
đề với một mối quan hệ, một quá trình tương tác đặc biệt giữa người làm tham vấn vả
thân chủ. Ông cho rằng, tham vấn có thể được sử dụng ở những cấp độ khác nhau. Nó có
thể là dạng hoạt động mang tính chuyên sâu của các nhà tâm lí học, cán sự xã hội, nhưng
nó cũng có thể là một phần công việc của giáo viên, y tá, hay điều dưỡng, các nhà tình
nguyện viên.
Có thể nói hoạt động tham vấn phản ánh nhu cầu của những người tìm kiếm sự giúp
đỡ tâm lý. Tham vấn trở thành một nghề chuyên nghiệp xuất phát từ chính nhu cầu này
của xã hội nhằm tập trung vào giúp đỡ người khác giải quyết các khó khăn tâm lí của họ.
Với cách hiểu này, khái niệm "Tham vấn tâm lí" thường được gọi ngắn gọn là "Tham vấn".
Bản chất của tham vấn là hoạt động hay phương pháp trợ giúp người có vấn đề tự
giải quyết vân đề của chính mình chứ không phải là hoạt động đưa ra lời khuyên mà
chúng ta thường hiểu. Sự trợ giúp ở đây được thể hiện qua việc giúp người có vấn đề,

đề, chấm điểm thi cho học sinh để đánh gia chất lượng từng học trò. Giáo viên nam
thường được gọi là thầy giáo còn giáo viên nữ thường được gọi là cô giáo.
Giáo viên mầm non là giáo viên giảng dạy ở bậc học mầm non với đối tượng trẻ em
từ 3 tháng đến 6 tuổi.
1.2.2. Đặc điểm lao động sư phạm của người giáo viên mầm non
Hiểu được đặc trưng của lao động nghề nghiệp, một mặt chúng ta hiểu rõ yêu cầu
khách quan của xã hội đối với nghề mà ta đang làm, mặt khác chúng ta cũng tự ý thức về
yêu cầu đối với phẩm chất và năng lực (nhân cách) khi thực hiện nghề nghiệp đó. Để tìm
thấy đặc trưng của một loại hoạt động nghề nghiệp nào, ta có thể dựa vào các mặt, như
đối tượng của hoạt động, công cụ của hoạt động, tính chất của hoạt động...
Dựa trên cơ sở đó, ta có thể nêu lên đặc điểm lao động cơ bản của người giáo viên
mầm non như sau:
- Nghề mà đối tượng quan hệ trực tiếp là con người: Đòi hỏi những nét tính cách: sự
tôn trọng, lòng tin, tình thương, đối xử công bằng, thái độ ân cần, lịch sự, tế nhị…; Đối
tượng của nghề dạy học là con người đang trong thời kỳ chuẩn bị, phát triển xã hội tương
lai phụ thuộc vào nội dung và chất lượng của thời kỳ chuẩn bị này.
- Nghề mà công cụ chủ yếu là nhân cách của chính mình: Nghề dạy học là nghề lao
động nghiêm túc đúng như K. D. Usinxki đã nói: “Dùng nhân cách để giáo dục nhân
cách”.
- Nghề tái sản xuất mở rộng sức lao động xã hội: Đầu tư cho giáo dục là đầu tư có
lãi nhất, sáng suốt nhất; Đặc biệt trong xã hội hiện đại, khi mà con người lao động chủ
yếu bằng sức mạnh tinh thần, sức mạnh trí tuệ.
- Nghề đòi hỏi tính khoa học, tính nghệ thuật và tính sáng tạo cao: Trong từng tình
huống sư phạm cụ thể, thích ứng với từng cá nhân hành động.
- Nghề lao động trí óc chuyên nghiệp: Phải có thời kỳ khởi động (tư duy, chuẩn bị),
thời kỳ để cho lao động đi vào nền nếp, tạo ra hiệu quả; Có “quán tính” của trí tuệ thể
hiện ở khối lượng, chất lượng và tính sáng tạo của công việc.
Tóm lại, thông qua những đặc điểm lao động của người giáo viên mầm non, chúng
ta thấy đặt ra nhiều đòi hỏi trong phẩm chất và năng lực của người giáo viên mầm non,
càng minh chứng tính khách quan trọng yêu cầu đối với nhân cách nhà giáo dục. Nhưng

của người thầy.
+ Năng lực sư phạm: năng lực hiểu học sinh trong quá trình dạy học và giáo dục, tri
thức, tầm hiểu biết, năng lực chế biến tài liệu học tập, năng lực dạy học, ngôn ngữ, vạch
dự án phát triển nhân cách học sinh, giao tiếp sư phạm, “cảm hóa” học sinh, tổ chức hoạt
động sư phạm…
2.1.2. Phẩm chất và năng lực của người giáo viên mầm non
a.) Phẩm chất của người giáo viên mầm non:
- Thế giới quan khoa học: Là quan điểm của con người trước những quy luật về tự
nhiên, về xã hội. Nó vừa là hiểu biết, quan điểm, vừa là sự thể nghiệm, tình cảm sâu sắc.
+ Thế giới quan là yếu tố quan trọng trong cấu trúc nhân cách, quyết định niềm tin
chính trị, toàn bộ hành vi, cũng như ảnh hưởng của thầy giáo đối với trẻ.
+ Thế giới quan của giáo viên là thế giới quan Mác – Lênin, bao hàm những quan
điểm duy vật biện chứng về các quy luật tự nhiên, xã hội và tư duy.
- Lý tưởng đào tạo thế hệ trẻ: Là hạt nhân trong cấu trúc nhân cách người giáo viên,
có ảnh sâu sắc đến sự hình thành nhân cách học sinh. Được biểu hiện ra ngoài bằng niềm
say mê nghề nghiệp, lòng yêu trẻ, lương tâm nghề nghiệp, tận tụy hy sinh với công việc,
tác phong làm việc cần cù, trách nhiệm, lối sống giản dị và thân tình…Tạo nên sức mạnh
giúp người giáo viên vượt qua mọi khó khăn về tinh thần và vật chất, hoàn thành nhiệm
vụ đào tạo thế hệ trẻ…
- Lòng yêu trẻ: Lòng yêu người trước hết là yêu trẻ là một trong những phẩm chất
đạo đức cao quý của con người, là một phẩm chất đặc trưng trong nhân cách người giáo
viên. Lòng yêu trẻ của giáo viên thể hiện:
+ Cảm thấy vui sướng khi được tiếp xúc với trẻ, khi thâm nhập vào thế giới độc đáo
của trẻ.
+ Thái độ quan tâm đầy thiện chí và ân cần đối với trẻ, cả với những em học kém và
vô kỷ luật.
+ Tinh thần giúp đỡ trẻ bằng ý kiến hoặc hành động thực tế của mình một cách chân
thành và giản dị, không có thái độ phân biệt đối xử, dù có những em chưa ngoan hoặc
chậm hiểu.
- Lòng yêu nghề: Lòng yêu trẻ và yêu nghề gắn bó chặt chẽ với nhau, lồng vào

thành và phát triển nhân cách là cả một quá trình tu dưỡng văn hóa và rèn luyện tay nghề
trong thực tiễn sư phạm. Nhân cách hoàn thiện và có sức sáng tạo sẽ tạo uy tín chân
chính của người thầy giáo. Trường sư phạm có nhiệm vụ xây dựng nên những cơ sở
trọng yếu để hình thành nhân cách người thầy giáo tương lai. Thời gian học tập là tu
dưỡng của giáo sinh ở trường sư phạm là cực kỳ quan trọng để tạo ra những tiền đề cần
thiết kiến tạo nhân cách. (Lê Văn Hồng Lê Ngọc Lan, Nguyễn Văn Thàng 2007, Chương
6.Tâm lý học nhân cách người thầy giáo)
2.1.3 Thân chủ, nan đề và các cơ chế phòng vệ của thân chủ là giáo viên mầm non
a.) Thân chủ
Trong tình huống này thân chủ của nhà tham vấn là cô giáo mầm non. Cô ấy thực sự
trở thành thân chủ vì cô ấy:
- Biết là mình có nan đề và nhận biết được nan đề của mình.
- Biết rằng mình không tự giải quyết được nan đề đó.
- Chấp nhận sự giúp đỡ chuyên môn, chấp nhận nói ra vấn đề của mình một cách
khách quan nhất. Sẵn sàng đón nhận cách nhìn nhận mới và thay đổi hành vi, cách sống
mới nếu cần.
- Chấp nhận tốn kém thời gian, công sức và tiền bạc cho việc giải quyết nan đề của
mình.
b.) Nan đề của thân chủ
- Nan đề của thân chủ ở đây là “mâu thuẫn trong việc đáp ứng yêu cầu của phụ
huynh và việc thực hiện đúng chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm quanh mảng nội dung
chuẩn bị tâm lý cho trẻ vào lớp một”. Cụ thể, là việc dạy trẻ viết chữ và làm toán trước.
- Nguồn gốc gây ra nan đề được xác định như sau:
+ Về phía khách quan: Áp lực từ phía phụ huynh, căng thẳng từ môi trường làm
việc sự chỉ đạo gò ép từ phía hiệu trưởng, tâm lý đám đông (cam chịu, bàng quan) của
các đồng nghiệp, sự mệt mỏi căng thẳng từ phía trẻ nhỏ khi phải học chữ và làm tính…
9


+ Về phía chủ quan: Mâu thuẫn giữa chuyên môn được đào tạo với thực tiễn hay

Hành vi, ý
tưởng giả
nhằm làm
vơi đi cảm
xúc âm
tính

Sơ đồ 1: (Sự xuất hiện các cơ chế phòng vệ của thân chủ)
* Cơ chế dồn nén, kiềm chế - là sự cố tình gạt ra ngoài ý thức những ý nghĩ, cảm
xúc, kinh nghiệm không vui của cá nhân, mà nếu gợi lên thì khó chấp nhận, không thể
chịu được.
Các cảm xúc tiêu cực, lo âu thường bị chúng ta dồn nén, kiềm chế bằng cách tảng
lờ, tránh đề cập đến, hay cho rằng nó không tồn lại. Nhưng những sự kiện bị dồn nén này
thường vô tình thoát ra bằng sự lỡ lời, nói nhịu, lỡ tay, bằng những hành vi vô thức, hoặc
bằng một số chứng rối nhiễu khác.
Theo Jo. Godefroid, dồn nén là nén vào vô thức sự ham muốn hoặc tình huống xung
đột - một sự quên chủ động.
Trong tham vấn, đôi khi thân chủ nói “Tôi không nhớ” hay “Tôi đau đầu quá”. Có
thể lúc đó họ đã không nhớ hoặc đau đầu thật sự khi nhà tham vấn hỏi về một vấn đề, mà
vấn đề đỏ nếu nhớ lại sẽ làm cho thân chủ căng thẳng, lo lắng hay tức giận... Cơ chế dồn
nén, kiềm chế giúp thân chủ tránh được những chuyện không vui. Trong tình huống này,
nhà tham vấn cần từ từ giúp thân chủ đối mặt với những nguyên nhân gây ra cơ chế dồn
nén của mình, vì đây có thể là một trong những nguyên nhân khiến thân chủ không tự
đương đầu giải quyết được vấn đề của mình, nên đã phải nhờ đến các chuyên gia tham
vấn.
* Cơ chế phóng chiếu - là gán cho người khác những ý nghĩ, lỗi lầm do mình gây
ra; phóng lên, gán cho người khác những cảm xúc, ham muốn mà không thể chấp nhận
của chính bản thân; quy kết, đổ lỗi cho người khác khi chúng ta phạm lỗi; trách người
khác về hành động của chúng ta. Cơ chế phóng chiếu giúp chúng ta tránh được sự lo hãi
do mình gây ra, do không thừa nhận những ham muốn, lỗi lầm không thể nói ra hay

Ví dụ: Cô nói ở mấy trường mầm non công lập trẻ được học vẽ nhiều nên chúng vẽ
đẹp và sinh động hơn nhóm trẻ còn ở đây trẻ được chúng tôi dạy nhiều chữ, làm tính
nhiều đứa biết ghép chữ, đứa viết được cả tên mình, đứa biết làm tính.
* Cơ chế hợp lí hóa - Là tìm cách lý giải, biện minh cho hành vi vô lý bằng cách
gán cho nó những nguyên nhân có vẻ hợp lý, đưa ra những lý lẽ để biện minh một “cái
Tôi” méo mó của mình. Hay có thể nói là cá nhân viện ra lý lẽ không đúng sự thật nhưng
có vẻ logic, được xã hội chấp nhận để giải thích, thanh minh cho hành động hoặc cảm
xúc không hay của mình; Tìm lý do xác đáng để biện minh cho việc không thể tiến hành
được, hoặc ngược lại để giải thích cho một ứng xử không thể chấp nhận được.
Ví dụ: Cô nói, biết làm thế nào khi giờ đa phần các trường mầm non đều dạy như
vậy, mình không muốn nhưng phụ huynh họ cứ yêu cầu dạy con như vậy nên chúng tôi
đành chịu. Mình không dạy thì họ lại nói cô giáo thế này thế kia, rồi sau lên lớp một bé
không theo kịp bạn bè cũng tội.
* Cơ chế di chuyển – Là sự di chuyển cảm xúc hay phản ứng tiêu cực của mình từ
một đối tượng này sang đối tượng khác hoặc sang đồ vật. Chúng ta thay thế một hành
động không thể thực hiện được bằng một hành động có thể thực hiện được nhằm giải tòa
cảm xúc tiêu cực. Trong dân gian, hiện tượng này gọi là "Giận cá chém thớt".
Ví dụ: Khi một bé vẽ chân dung bé không vẽ được cô bực bội nói bé: Dạy miết rồi
mà không vẽ được vậy mà cứ đòi học chữ với làm toán mới khổ người ta chứ.
* Cơ chế hình thành phản ứng ngược – Là một cơ chế tự vệ thể hiện phản ứng
ngược lại ý muốn bị dồn nén (ý muốn một đằng nhưng thể hiện ra ngoài lại hoàn toàn
11


ngược với nó). Chủ thể có những biểu hiện đi ngược lại với cái mình mong muốn trong
đầu nhằm che giấu những tình cảm, suy nghĩ thực của mình một cách vô thức. Đó là cảm
xúc, suy nghĩ tiêu cực được thể hiện ra ngoài bằng cảm xúc, suy nghĩ hay hành động tích
cực.
Ví dụ: Cô thấy trường dân lập tồn tại nhiều vấn đề mà cô không ưng ý, bức xúc nói
muốn nghỉ cho khỏe nhưng vẫn gắn bó với nó nhiều năm nay.

mắt thân chủ làm cho thân chủ cảm nhận được nhà tham vấn đang chú ý lắng nghe việc
trình bày của thân chủ. ánh mắt nhà tham vấn ngang tầm thân chủ.
- Đối với trẻ nhỏ, có những lúc nhà tham vấn phải thay đổi tư thế để ánh mắt ngang
tầm (ngồi cạnh).
* Thông qua ngôn ngữ cử chỉ: Nhà tham vấn phải kiểm soát được ngôn ngữ cử chỉ
của bản thân mình. Cụ thể:
- Tư thế ngồi: Không nên có bàn ở giữa, có thể ngồi đối diện hoặc ngồi cạnh hơi
chếch một chút với thân chủ.
- Thân thể: Cách tốt nhất khi giao tiếp với thân chủ là nên để cơ thể hơi đổ về phía
thân chủ hướng về phía thân chủ, không rung đùi, không được chạm vào thân chủ ở vùng
ngực, lưng, đùi,… Ngôn ngữ cử chỉ đó thể hiện nhà tham vấn chăm chú lắng nghe và bị
lôi cuốn bởi câu chuyện của thân chủ, thể hiện sự cởi mở và cảm thông với thân chủ.
12


* Giọng nói và tốc độ nói:
Trong tham vấn với giọng nói bình tĩnh, trầm và tốc độ nói chậm, thông qua giọng
nói thể hiện sự cởi mở, chân thành, bình tĩnh, tự tin, quan tâm đến thân chủ (tránh nói
ngọng).
* Về không gian:
Trong giao tiếp với thân chủ, nhà tham vấn nên cố gắng phá bỏ bất cứ vật cản nào
gây ra sự không thoải mái của thân chủ chẳng hạn như một chiếc bàn quá lớn giữa thân
chủ và nhà tham vấn, ánh sáng quá chói ...nhằm gạt bỏ những ảnh hưởng của môi trường
xung quanh đến mức độ thoải mái của thân chủ, đến khả năng chia sẻ suy nghĩ và cảm
xúc của thân chủ với nhà tham vấn.
Phòng không nên rọng quá, tạo không gian ấm cúng, yên tĩnh, khoảng cách giữa
nhà tham vấn – thân chủ khi đã tiếp cận 1 – 2 lần thì có thể ngồi gần hơn nhằm tạo điều
kiện cho thân chủ thoải mái hơn.
* Sự im lặng:
Sự im lặng giúp nhà tham vấn bình tĩnh đặt câu hỏi, tạo điều kiện khuyến khích thân chủ

Trong giao tiếp các câu hỏi mở rất quan trọng giúp nhà tham vấn bắt đầu cuộc tham
vấn. Với thân chủ những câu hỏi mở tạo điều kiện cho cuộc thảo luận thoải mái và thân
chủ có nhiều thời gian để nói. Các câu hỏi mở dùng trong tham vấn làm cho cuộc tham
13


vấn trở nên cụ thể và phong phú. Một câu hỏi mở về thân chủ đặt ra trước đó sẽ giúp ích
cho cuộc nói chuyện được tiếp tục.
Đồng thời các câu hỏi mở trong tham vấn giúp nhà tham vấn khai thác các dẫn
chứng cụ thể về thế giới của thân chủ. Hàng loạt những câu hỏi ai? Cái gì? khi nào? ở
đâu? như thế nào? và tại sao? Cung cấp cho nhà tham vấn một hệ thống thông tin nhằm
giúp thân chủ hiểu rõ, cụ thể hơn vấn đề của họ bất cứ lúc nào trong cuộc tham vấn.
+ Sử dụng câu hỏi đóng:
Các câu hỏi đóng nói chung là kém hiệu quả hơn, nhưng đôi khi nó cũng cần thiết
để giúp nhà tham vấn thu được những thông tin nhanh và cụ trẻ, đưa lại sự rõ ràng, mạch
lạc, giúp thân chủ tập trung vào chủ đề của cuộc nói chuyện hoặc kết thúc những cuộc
thảo luận dài dòng hoặc tản mạn. Mặt hạn chế của loại cấu hỏi này là chúng không cho
phép thân chủ giãi bày về tiến triển của sự việc và trách nhiệm tiếp tục cuộc nói chuyện
thuộc về nhà tham vấn.
Khi vận dụng kĩ năng đặt câu hỏi nhà tham vấn cần lưu ý :
- Câu hỏi phải đơn giản, dễ hiểu, liên quan đến vấn đề của thân chủ và mục đích
giúp đỡ.
- Sử dụng câu hỏi “mở” là chủ yếu, hạn chế dùng câu hỏi “đóng”.
- Không nên đặt câu hỏi dồn dập. Câu hỏi dồn dập sẽ tạo cho thân chủ sự lúng túng
và có cảm giác như người bị điều tra xét hỏi.
- Không nên đặt câu hỏi chung chung. Câu hỏi chung chung sẽ làm cho thân chủ
khó trả lời và không biết bắt đầu từ đâu. Điều này cũng khiến cho thân chủ có cảm giác
nghi ngờ nhà tham vấn, và có thể cho rằng nhà tham vấn không hiểu, không quan tâm
đến vấn đề của mình.
- Không nên đặt câu hỏi quá xa vấn đề của thân chủ. Đặt câu hỏi xa vấn đề của thân

người khác và là cách hiệu quả nhất để thể hiện sự thông cảm của nhà tham vấn và sẽ
khuyến khích thân chủ sẵn lòng chia sẻ. Phản ánh cảm xúc giúp thân chủ hiểu rằng các
cảm xúc và việc bàn về nó là được thừa nhận. Nhận biết và xử lý nó có thể làm giảm nhu
cầu thể hiện cảm xúc đó ra ngoài của thân chủ và có thể giúp họ nhận ra các tác động của
cảm xúc đó lên hành vi của họ.
* Kỹ năng tóm lược:
Một trong những công việc quan trọng nhất của nhà tham vấn là giúp thân chủ sắp
xếp và làm sáng tỏ những ý nghĩ, những cảm xúc. Thông qua việc sử dụng kỹ năng tóm
lược giúp nhà tham vấn cô đọng và sắp xếp những đểm chính trong lời thân chủ kể và để
kiểm tra lại những nhận thức của mình với những gì thân chủ kể xem nhà tham vấn nghe
có chính xác không.
Khi đến với nhà tham vấn thân chủ thường bối rối. Họ thường có quá nhiều diễn ra
trong cuộc sống và họ không biết bắt đầu từ đâu. họ có thể trải nghiệm qua những tình
cảm phức tạp. Những yếu tố phức quan trọng liên quan tới các quyết định có thể bỏ qua.
Thông thường việc tóm tắt những ý chính và các sự kiện mà thân chủ đã trình bày là rất
có hiệu quả trong việc giúp thân chủ sắp xếp các ý nghĩ và cảm xúc, và có thể hỗ trợ họ
trong việc đặt thứ tự ưu tiên cho các bước giải quyết vấn đề. Kỹ năng này thường được
sử dụng khi bắt đầu cuộc nói chuyện với các thân chủ mà các nhà tham vấn đã làm việc
trước đó, làm rõ những gì đang diễn ra, đặc biệt khi cuộc nói chuyện quá phức tạp, xâu
chuỗi các sự kiện qua một buổi tham vấn hay nhiều buổi tham vấn.
c.) Kỹ năng quan sát
* Mục đích của quan sát:
- Thu thập dữ kiện, sâu chuỗi, phán đoán thông qua biểu hiện bề ngoài, ngôn ngữ có lời
và không lời của thân chủ
- Hiểu về con người, hoàn cảnh và mối quan hệ của thân chủ
* Những yếu tố cần quan sát:
- Tổng quát bề ngoài của thân chủ
- Những đặc điểm nổi bật của thân chủ
- Những đặc điểm, các mối quan hệ của thân chủ với người khác
- Những biểu hiện qua nét mặt, những dấu hiệu của sự lo lắng bất an

Mô hình tham vấn tiếp cận từ góc độ nhà tham vấn tôi sử dụng cho thân chủ dưới
đây được nhiều ngành trợ giúp trên thế giới sử dụng được tổng hợp từ các mô hình tham
vấn được trình bày khác nhau, bao gồm 6 giai đoạn:
Giai đoạn l: Xây dựng quan hệ và sự tin tưởng giữa nhà tham vấn và thân chủ
Giai đoạn 2: Thu thập thông tin và xác định vấn đề
Giai đoạn 3: Lựa chọn giải pháp và xây dựng kế hoạch thực hiện
Giai đoạn 4: Triển khai thực hiện giải quyết vấn đề
Giai đoạn 5: Lượng giá và kết thúc
Giai đoạn 6: Theo dõi sau khi kết thúc
3.2. Hình thức tham vấn với thân chủ
Các hình thức tham vấn có thể được phân loại dựa trên tính chất của hoạt động tham
vấn. Với cách nhìn này, có thể chia tham vấn theo hình thức trực tiếp và tham vấn gián
tiếp. Có hai hình thức tham vấn là tham vấn trực tiếp và tham vấn gián tiếp:
- Tham vấn trực tiếp: Là hình thức tương tác trực tiếp, mặt đối mặt giữa nhà tham
vấn và thân chủ. Đây là hình thức tham vấn phổ biến khi thân chủ và nhà tham vấn ngồi
đối diện với nhau. Do có thể được trực tiếp nghe và nhìn nhau (với điều kiện thân chủ
không bi khuyết tật về nhìn hoặc nghe) nên hiệu quả tham vấn thu được là khá cao,
không tốn thời gian và nó tạo cơ hội cho những phản hồi tức thì và hai bên nhận biết
được những biểu hiện phi ngôn ngữ của cơ thể.). Họ có thể gặp nhau thường một lần một
tuần và những tuần đầu thì có thể sắp xếp 2-3 lần trong tuần, trong một khoảng thời gian
cố định, thường là 45 phút cho đến một tiếng đồng hồ cho một cuộc gặp gỡ tại một địa
điểm được ấn định trước (tại trung tâm tham vấn hoặc có thể diễn ra tại gia đình thân
chủ).
Vấn đề của tham vấn có thể diễn ra từ một vài tuần tới một vài tháng: Bởi vì những
vấn đề của mỗi người hình thành và phát triển trong một khoảng thời gian, do đó cũng
cần có thời gian để giải quyết. Trong trường hợp này thời gian dự kiến là từ 6 tháng cho
đến 2 năm do vấn đề liên quan đến hành vi.
- Tham vấn gián tiếp: là một hoạt động tham vấn thông qua các phương tiện truyền
thông như :Tham vấn qua thư, tham vấn qua báo chí, tham vấn qua điện thoại…. Hoạt
động tham vấn gián tiếp chỉ có khả năng giúp thân chủ một số ý kiến và giải quyết một số

* Lý do dẫn thân chủ đến gặp nhà tâm lý: Thân chủ luôn không hài lòng và thấy
khó chịu vì sự nài ép của phụ huynh và hiệu trưởng trong việc dạy chữ viết và làm tính
cho trẻ mẫu giáo trước khi vào lớp một. Thân chủ thấy buồn chán, căng thẳng, áp lực,
những điều này lặp đi, lặp lại và ảnh hưởng đến hoạt động của thân chủ. Thân chủ thấy
mâu thuẫn và thất vọng trong thái độ và việc làm của mình, biết vậy là sau nhưng vẫn
phải thực hiện. Nhiều lúc muốn nghỉ việc để khỏi chịu áp lực.
Giai đoạn l: Xây dựng quan hệ và sự tin tưởng giữa nhà tham vấn và thân chủ - là
giai đoạn xây dựng mối liên hệ mật thiết và lòng tin tưởng.
- Buổi tham vấn đầu tiên tại văn phòng tham vấn: Thư kí mở cửa dẫn thân chủ tới
bàn tham vấn, nhà tham vấn chào thân chủ, đưa nước và khăn giấy cho thân chủ rồi im
lặng trong khoảng thời gian cần thiết cho thân chủ bình tĩnh, sẵn sàng tâm thế cho buổi
tham vấn (2 - 3 phút). Nhưng đã quá 3 phút thân chủ vẫn im lặng không biết nói gì.
- Sau đó, nhà tham vấn bằng kỹ năng giao tiếp không lời (Ví dụ: Mắt nhìn hướng
ngang mặt thân chủ, tạo sự an tâm bằng cái gật đầu, cười nhẹ…) và kỹ năng đặt câu hỏi
để bước đầu tìm hiểu và giao tiếp cùng thân chủ để bước đầu tạo mối quan hệ tham vấn
tốt đẹp:
Ví dụ: - Tôi có thể giúp gì cho chị (hoặc chị có điều gì cần chúng tôi giúp)?
- Cảm ơn chị đã đến dịch vụ trợ giúp của chúng tôi...
- Tên tôi là …, tốt nghiệp (học) về…, tôi thường tham vấn về vấn đề…
- Làm rõ tính chất hoạt động trợ giúp tâm lý cho thân chủ, nhà thâm vấn nói:
Ví dụ: “Trước khi chúng ta đắt đầu vào vấn đề của chị, tôi xin nói qua để chị rõ
hoạt động tham vấn mà chúng tôi thường tiến hành là gì? Tôi chỉ có thể giúp được chị
khi biết rõ về câu chuyện của chị. Vì vậy chị sẽ nói về vấn đề của mình, và tôi là người
lắng nghe. Trong khi chị nói có chỗ vào chưa rõ tôi sẽ hỏi lại. Sau khi tôi hiểu được vấn
đề của chị như chị hiểu vấn đề của mình, chúng ta cùng nhau thảo luận phương án giải
quyết. Tôi sẽ giúp chị làm sáng tỏ vấn đề và sẽ cùng chị cân nhắc các cách giải quyết sao
cho có hiệu quả nhất, còn chị sẽ thực hiện chúng. Có những vấn đề cần nhiều thời gian,
có những vấn đề chỉ cần một vài buổi. Hiệu quả của tham vấn phụ thuộc rất nhiều từ
17


Ví dụ: Nhà tham vấn nói: “Để giúp chị xác đinh rõ vấn đề của mình, có thột số
thông tin về điểm A..., B... tôi chưa rõ (tôi muốn làm sáng tỏ), chị nghĩ thế nào nếu tôi
gặp đồng nghiệp hay một người bạn nào thân thiết của chị đế làm rõ một số điểm?”
Hoặc: “Để giúp chị xác định rõ vấn đề của mình, tôi cần thêm một số thông lin liên quan
đến cô Y, chị X... chị nghĩ thế nào về chuyện này?”
Thân chủ đáp: “Vâng! Anh có thể gặp chị X là bạn thân và đồng nghiệp của tôi,
đây là số di động của chị ấy 09xxxxxxxx. Anh có thể gọi hẹn gặp chị ấy và thu thập
những thông tin về tôi mà anh cần ở trên.”
Nhà tham vấn: “Cảm ơn chị về sự hợp tác này. Đây là card visit của tôi chị vui
lòng gửi tới chị X, có gì tôi sẽ liên lạc với chị ấy trong thời gian sớm nhất. Trong buổi
19


tham vấn đầu tiên này chị đã phần nào chia sẻ được vấn đề của mình và tôi cũng nhận
được những thôn tin cơ bản từ vấn đề của chị. Chúng ta nên kết thúc buổi tham vấn này
ở đây chị nghĩ sao?”
Thân chủ đáp: “Vâng”…
- Sau khi thu thập được thông tin từ các nguồn khác nhau, nhà tham vấn cần đánh
giá các vấn đề của thân chủ theo nhận định ban đầu của mình. Sẽ có những vấn đề mà
thân chủ không nhận thức được đầy đủ. Đây là lúc nhà tham vấn giúp thân chủ cải thiện
suy nghĩ về bản thân và vấn đề của mình.
(* Thông tin về thân chủ thu thập được:
- Thân chủ tốt nghiệp ngành sư phạm tiểu học mầm non đại học sư phạm Đà Nẵng:
Với tấm bằng khá, theo sự gặp gỡ của nhà tham vấn với đồng nghiệp đồng thời là bạn
học của cô thì cô là người rất nguyên tắc, sống có trách nhiệm, hòa đồng với bạn bè, hay
suy nghĩ nên chịu áp lực từ những thiếu xót của bản thân dù với người bình thường dễ
cho qua.
- Sau khi ra trường: Cô gắn bó với trường mầm non B.M từ năm 2010 đến nay.
Theo lời nhận xét của đồng nghiệp cô là giáo viên trẻ, non về tuổi nghề nhưng vững về
chuyên môn, hòa đồng với đồng nghiệp, hết mực yêu thương trẻ, sống có nguyên tắc, gần

20


tôi quan tâm và tôi hiểu những gì chị đang nói”, thông qua đó mà thân chủ thấy mình
được tôn trọng và có thể tiếp tục bộc lộ vấn đề của mình.
- Nhà tham vấn chia sẻ với thân chủ những vấn đề mà nhà tham vấn khám phá được
và thân chủ bắt đầu nhìn nhận vấn đề này dựa trên việc thiết lập những mục tiêu.
Ví dụ: Nhà tham vấn: "Tôi đã nghe và tôi hiểu những gì chị đã trải qua trong thời
gian qua chúng gây cho chị không ít áp lực và sau buổi tham vấn đầu tiên dường như chị
đã gỡ bỏ phần nào được áp lực ấy. Tôi vẫn đang ở đây, lắng nghe chị chia sẻ và luôn là
như thế".
Thân chủ: Cảm ơn anh!
Nhà tham vấn: “Theo lời nhận xét của chị X thì chị là giáo viên trẻ, non về tuổi
nghề nhưng vững về chuyên môn, hòa đồng với đồng nghiệp, hết mực yêu thương trẻ,
sống có nguyên tắc, gần đây thấy chị ít nói và hay nói tới việc xin chuyển công tác. Chị
thấy thế nào về những nhận xét ấy?”
Thân chủ: Cô ấy nói đúng tôi rất yêu những đứa trẻ nơi này nhưng không ít lần tôi
nói muốn xin chuyển công tác.
Nhà tham vấn: Lý do chị muốn xin chuyển công tác là gì trong khi chị yêu những
đứa trẻ ở trường mầm non của mình như vậy?
Thân chủ: Lý do ấy không nằm ngoài áp lực công việc, phía phụ huynh họ ép buộc
tôi quá nên tôi bức xúc nói vậy.
Nhà tham vấn: “Ngoài những thông tin trên tôi có từ đồng nghiệp của chị tôi được
biết: Có đôi lần cô bị hiệu trưởng khiển trách vì không thực hiện theo yêu cầu của phụ
huynh về việc dạy dỗ con em họ như yêu cầu. Sự việc này có đúng không?”

Nhà tham vấn: “Với những gì tôi thu thập được và sự, xác nhận của chi thì tôi hiểu:
Mục đích chị đến đây không nằm ngoài việc chia sẻ gánh nặng tâm lý, áp lực công việc
đang đè nén lên chị, chị muốn cải thiện tình trạng ấy. Tôi muốn biết ngoài những mục
đích ấy chị thực sự mong muốn điều gì khác nữa với vấn đề của mình?”

đã chịu. Anh hãy tiến hành theo cách có lợi nhất cho tôi và các chị ấy”
Nhà tham vấn: “Vâng! Với cách thay đổi hình thức tham vấn này, tôi hy vọng khắc
phục được tạm thời vấn đề của chị và đồng nghiệp của mình. Các chị có thể thỏa mái
hơn khi được chia sẻ còn nguyên nhân gây ra căng thẳng, áp lực tâm lý lại không được
hạn chế. Tôi cần gặp hiệu trưởng và hội trưởng hội phụ huynh việc làm này có ảnh
hưởng tới chị, chị nghĩ sao?”
Thân chủ: Tôi sợ nếu như vậy rất có thể tôi bị trù úm, hoặc bị buộc thôi việc. Tốt
hơn hết anh nên gặp các đồng nghiệp của tôi trước thì hơn.
Nhà tham vấn: “Được rồi tôi sẽ thu xếp việc gặp gỡ các đồng nghiệp của chi vào
thời gian sớm nhất, và tôi cần chị trong việc thông tin về cuộc gặp ấy. Về địa điểm và
thời gian tôi sẽ thông báo cho chị trước vài ngày. Chị có thể tin vào tôi, tôi không dám
chắc tôi có thể giúp chị khắc phục triệt để những căng thẳng, áp lực và lo lắng nơi chị
nhưng tôi tin những tâm lý tiêu cực ấy sẽ dần được gỡ bỏ qua những buổi tham vấn tới
đây. Còn bây giờ chũng ta có thể kết thúc buổi tham vấn này ở đây chị thấy sao?”…
- Sau khi đã cùng thân chủ xem xét các giải pháp và lựa chọn được giải pháp tối ưu,
nhà tham vấn giúp thân chủ đưa ra kế hoạch hành động để thực hiện giải pháp được lựa
chọn; cùng thân chủ xây dựng mục đích, mục tiêu của kế hoạch hành động, như: “Nhằm
đạt đến cái gì? Thời gian bao lâu?”... Các mục tiêu đưa ra phải lượng giá được. Các hoạt
động phải khả thi, hợp với điều kiện và khả năng của thân chủ. Kế hoạch cần chỉ ra các
nhiệm vụ cụ thể gắn với trách nhiệm ai thực hiện? Thực hiện bằng cách nào? Thời gian
bao lâu?. Nhà tham vấn sử dụng kỹ năng đương đầu, kỹ năng thông đạt để giúp thân chủ
"dấn thân" vào kế hoạch của mình.
Giai đoạn 4: Triển khai thực hiện giải quyết vấn đề
Đây là giai đoạn thân chủ phải hành động để thay đổi thực trạng. Thân chủ bắt đầu
giải quyết những vấn đề đã được khám phá ở giai đoạn 3 mà cả thân chủ và nhà tham vấn
đều đã xác định. Thân chủ cần hiểu rõ trách nhiệm của mình là tích cực tham gia giải
quyết vấn đề của mình, bằng cách thực hiện kế hoạch đặt ra.
Với việc sử dụng những kỹ năng tham vấn, như kỹ năng đương đầu, thách thức để
giúp thân chủ khởi động dễ dàng, nhà tham vấn không làm hộ, không làm thay cho thân
chủ, mà chỉ kiểm tra tiến trình thực hiện nhiệm vụ của thân chủ. Nếu có nhiệm vụ mà

- Rõ ràng trong những quyết định và có hợp đồng làm việc rõ. Bắt đầu từ những hợp
đồng công việc vừa tầm, từ nhỏ đến lớn; dễ đến khó, đơn giản đến phức tạp.
- Giao nhiệm vụ cụ thể cho thân chủ thực hiện khi ở nhà: làm gì, làm thế nào, nhằm
giúp thân chủ thay đổi, thoát ra khỏi hoàn cảnh thực tại. Nhiệm vụ ở nhà giúp thân chủ
biết quý thời gian, tôn trọng các buổi tham vân và biết chịu trách nhiệm về việc thay đổi.
- Giúp họ thấy được sự nghiêm túc trong tham vấn. Nhà tham vấn luôn có đòi hỏi để
thân chủ cố gắng thực hiện những cam kết ban đầu.
Giai đoạn 5: Lượng giá và kết thúc
Có hai loại lượng giá trong tham vấn: Lượng giá thường xuyên và lượng giá khi kết
thúc.
- Lượng giá thường xuyên được tiến hành trong suốt quá trình tham vấn nhằm xác
định kết quả đạt được sau mỗi giai đoạn. Lượng giá thường xuyên giúp cho thân chủ đi
đúng vào vấn đề, tránh lan man. Nhà tham vấn cần nắm được cốt lõi của vấn đề, kịp thời
điều chỉnh, thay đổi giúp thân chủ cảm nhận tốt hơn tinh huống của mình. Ngoài ra,
lượng giá còn giúp kiểm tra lại xem nhà tham vấn và thân chủ có hiểu ý nhau không. Tốt
nhất nên để thân chủ tự tóm lược, kiểm ý, xem họ có hiểu vấn đề đúng, có nghe và nhớ
những điều vừa thảo luận không.
- Lượng giá kết thúc khi quá trình tham vấn đến giai đoạn kết thúc. Nhà tham vấn
nên lưu ý đến những tiến bộ thân chủ đã đạt được để củng cố và tăng cường niềm tin nơi
thân chủ. Nhà tham vấn cần nói để thân chủ biết là họ luôn được hỗ trợ, giúp đỡ khi cần
thiết. Khi lượng giá cần thảo luận cùng thân chủ kết quả mà họ đã đạt được: Đã học được
gì? Nguồn lực nào giúp đạt được kết quả? Nếu thân chủ không hoàn thành được nhiệm
vụ nào thì cần tìm ra nguyên nhân, mà không nên trách móc, cần chỉ ra được nhiệm vụ
cần sửa chữa nếu cần thiết.
Giai đoạn 6. Theo dõi sau khi kết thúc
Nhà tham vấn có thể tạo dựng mối quan hệ xã hội với thân chủ sau khi chấm dứt
mối quan hệ tham vấn. Tuy nhiên các quy điều đạo đức cảnh báo rằng sau 2 năm chấm
dứt tham vấn nếu nhà tham vấn tạo dựng mối quan hệ với thân chủ, ngoài quan hệ tham
vấn (ví dụ: quan hệ tình cảm) thì phải có trách nhiệm kiểm tra một cách cẩn thận tình
trạng của thân chủ và cung cấp tư liệu chứng minh rằng những quan hệ như thế không có

kinh tế cộng
đồng

Nội dung
- Họ và tên: N.T.M
- Giới tính: Nữ
- Địa chỉ thường trú: Q.Liên Chiểu, Tp. Đà Nẵng
- Ngày tháng năm sinh: 31/12/1988
- Trình độ văn hóa: 12/12
- Là con thứ mấy: Lớn
- Nghề nghiệp: Giáo viên mầm non
- Dấu hiệu khởi đầu (không thỏa mãn trong công việc…)
- Các triệu chứng: Mệt mỏi, mất ngủ, buồn chán.
Thời gian xuất hiện triệu chứng: 2 tháng nay
Sự rối loạn: Cảm xúc: buồn, thất vọng, bất lực; Cơ thể: mệt mỏi, đau đầu.
- Khả năng thích nghi với thực tế: Trung bình
- Nơi trợ giúp và kết quả (nếu có): Có đi khám bác sĩ được kê uống thuốc an
thần.
- Tình hình hiện tại (biểu hiện ra bên ngoài): Mắt thâm, lo lắng.
- Thông tin về con người thân chủ trong quá khứ: Người rất nguyên tắc,
sống có trách nhiệm, hòa đồng với bạn bè, hay suy nghĩ phức tạp.
- Mối quan hệ của thân chủ với gia đình: Bình thường
- Tiểu sử thân chủ trong quá trình phát triển tâm sinh lý:
+ Tình trạng sức khỏe, bệnh tật của thân chủ: Hay đau đầu, đau dạ dày.
+ Thái độ của thân chủ đối với các thành viên trong gia đình: đúng mực.
+ Các sự kiện quan trọng xảy ra với thân chủ liên quan đến giao tiếp và
công việc: Có vài lần mâu thuẫn với phụ huynh và hiệu trưởng trước đó.
- Vị thế và hoàn cảnh kinh tế gia đình: Vị thế tốt, gia đình tương đối khá giả
- Thông tin về các thành viên trong gia đình liên quan: Đầy đủ
- Xu hướng dạy dỗ con cái của cha mẹ: Yêu thương, tôn trọng con cái.

Hạn chế của thân chủ: Còn e dè, suy nghĩ có xu hướng phức tạp hóa vấn đề, ít bộc
lộ cảm xúc thực.
b.) Kế hoạch giải quyết:
- Tác động tới thân chủ: Tới ba mặt nhận thưc - xúc cảm - hành vi.
- Phương pháp tác động: Là giải thích, động viên, khích lệ.
- Thời gian tác động: Trong vòng 2 – 4 tuần (1 lần / tuần).
c.) Đánh giá kết quả, những thay đổi, theo dõi:
- Đánh giá kết quả: Sau 2 tuần tiến hành tham vấn nhà tham vấn nhận thấy những
thay đổi đáng kể như đã ngủ được nhiều hơn, cười nhiều và bộc lộ cảm xúc rõ ràng hơn,
không còn e dè, chủ động hơn trong việc chia sẻ, đặt vấn đề với nhà tham vấn.
- Hoạt động tham vấn dẫn tới những thay đổi tích cực ở thân chủ: Sau thời gian
làm việc với nhà thân chủ, thân chủ đã nhìn nhận vấn đề của mình đang gặp phải một
cách rõ ràng hơn. Thân chủ đã có thể đưa ra cho mình một quyết định hướng tới việc giải
quyết vấn đề của mình, cùng nhà tham vấn lên kế hoạch cụ thể. Thân chủ thấy mình trở
nên lạc quan hơn về vấn đề mình vướng mắc, tự tin hơn về bản thân và quyết định của
mình. Cũng đã hiểu, chấp nhận con người mình, công việc của mình và những người
xung quanh một cách tốt hơn. Nhất là giúp cho thân chủ cảm thấy có khả năng đương đầu
tốt hơn với những vấn đề của cuộc sống một cách thích đáng và dễ chịu. Thân chủ thấy
cuộc sống của mình được cải thiện một cách rõ rệt sau thời gian được tham vấn tâm lý
một cách khoa học và chuyên nghiệp.
- Theo dõi: Hiệu quả tham vấn cần được theo dõi, giám sát tích cực nhờ việc sử
dụng các kĩ năng quan sát, lắng nghe và khái thác thông tin…không chỉ với thân chủ mà
còn từ các kênh thông tin hỗ trợ như đồng nghiêp, bạn bè và nhất là người thân.
d.) Bản tổng kết đánh giá toàn bộ quá trình tham vấn, những kiến nghị dự phòng;
thời gian gặp lại...
- Vấn đề thân chủ xác định: Thân chủ luôn không hài lòng và thấy khó chịu vì sự
nài ép của phụ huynh và hiệu trưởng trong việc dạy chữ viết và làm tính cho trẻ mẫu giáo
trước khi vào lớp một. Thân chủ thấy buồn chán, căng thẳng, áp lực, những điều này lặp
đi, lặp lại và ảnh hưởng đến hoạt động của thân chủ. Thân chủ thấy mâu thuẫn và thất
vọng trong thái độ và việc làm của mình, biết vậy là sau nhưng vẫn phải thực hiện. Nhiều


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status