ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA TÂM LÝ HỌC
------
BÁO CÁO THỰC TẬP
ĐỀ TÀI :
Giáo dục cải tạo trẻ em vị thành niên
phạm pháp
Hà Nội,
1
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài nghiên cứu này, chúng em xin bày tỏ lòng
biết ơn chân thành tơi cô giáo Hoàng Mộc Lan và các thầy cô trong Khoa
đã hướng dẫn chúng em tận tình, cùng với sự giúp đỡ của cơ quan Công
an thị xã, công an tỉnh Hưng Yên.
Trong quá trình chúng em thực hiện đề tài nghiên cứu này, chúng
em cũng xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo Khoa Tâm lý học
trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội
đã trang bị cho chúng em những kiến thức Tâm lý cũng như kỹ năng bài
và nghiên cứu Khoa học trong thời gian học tập và thực tập vừa qua.
2
PHẦN I : PHẦN MỞ ĐẦU
tuân thủ pháp luật (ý thức pháp luật, đạo đức, ý thức xã hội, những
chuẩn mực xã hội, nhân cách của người phạm tội là vị thành niên nói
riêng” và có ý nghĩa hết sức to lớn trong việc phát huy nhân tố con
người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
Lịch sử nghiên cứu vấn đề .
Ở Việt Nam những chương trình nghiên cứu về “giáo dục cải tạo
trẻ em vị thành niên” trong những năm qua là rất nhiều, có thể xếp đề tài
đó theo các thời kỳ như sau : Từ năm 1954 - 1974 công cuộc cải tạo và
xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc.
Từ 1975 đến nay là thời kỳ cả nước độc lập thống nhất xây dựng
chủ nghĩa xã hội, đưa dất nước phát triển. Mỗi một thời kỳ đều có một
đặc điểm riêng, do những đặc điểm có sự chi phối riêng song vấn đề giáo
dục cải tạo trẻ em vị thành niên có nhiều thay đổi, chuyển dịch.
- Từ năm 1954 đến năm 1975 mức độ phạm tội của trẻ em vị thành
niên là rất ít
- Từ năm 1975 đến 1995 mức độ phạm tội của trẻ em vị thành niên
có chiều hướng gia tăng.
- Từ năm 1977 đến nay trẻ em vị thành niên phạm tội tăng cao.
Ngành Tâm lý học Việt Nam phát triển là một khoa học có cách nhìn
nhận mới từ cách hiểu việc giáo dục, cải tạo trẻ em vị thành niên trên
phương diện lý thuyết thuần tuý đến cách hiểu việc giáo dục cải tạo trẻ
em vị thành niên trong thực tế sáng tạo với các chương trình có giá trị
lớn như : Tâm lý học pháp lý, Tâm lý học đại cương, tâm lý học gia
đình… đặc biệt trong Hiến pháp, các Bộ Luật hình sự (sửa đổi) đã mở ra
giải pháp phòng chống tội phạm nói chung và giải pháp giáo dục trẻ em
vị thành niên, giúp họ nhanh chóng tái hội nhập cộng đồng.
1.2. Đối tượng nghiên cứu của đề tài:
Nghiên cứu thực trạng về trẻ em vị thành niên phạm pháp ở Hưng
phạm tội. Việc giáo dục cải tạo ra sao? Phương pháp nào đúng, hữu hiệu
hơn - nắm và hiểu đầy đủ kiến thức pháp luật, tuyên truyền mọi người ý
thức tuân thủ pháp luật qua đó khẳng định chế độ nhà nước ta, Nhà nước
xã hội chủ nghĩa quản lý xã hội bằng pháp luật, có nhiều ngnàh có vai
trò quan trọng trong xây dựng và hoàn chỉnh hệ thống pháp luật.
5
1.4 Khách thể nghiên cứu.
Ngày nay vấn đề giáo dục cải tạo người phạm tội nói chung và trẻ
em vị thành niên phạm pháp nói riêng được nhiều nhà khoa học, nhiều
nhà Tâm lý học quan tâm nghiên cứu và đưa ra các phương pháp giáo
dục cải tạo thích hợp, đã có những đóng góp xây dựng con người mới
làm chủ và xây dựng đất nước. Vì vậy những người phạm tội, trẻ em vị
thành niên phạm pháp được giáo dục cải tạo đó là đòi hỏi cấp bách của
sự nghiệp xây dựng đất nước, xây dựng con người mới có đạo đức, trí
tuệ trong thời kỳ đất nước đổi mới hiện nay. Nhiều nhà khoa học, nhà
giáo dục học, tâm lý học đã có thành công trong chiến lược xây dựng con
người mới.
Qua nghiên cứu giáo dục trẻ em vị thành niên phạm pháp chúng ta
thấy được sự hình thành phát triển nhân cách con người phạm tội khi
được sự giáo dục cải tạo là một nhiêm vụ nặng nề và lâu dài, đòi hỏi ở
xã hội, gia đình và vai trò cá nhân vị thành niên vì mục tiêu chung vì sự
tiến bộ của trẻ em vị thành niên.
Trên cơ sở nghiên cứu trẻ em vị thành niên cho phép chúng ta rút
ra kết luận là các nhà khoa học, nhà giáo dục học, nhà tâm lý học tiếp
tục có nhiều đề tài đóng góp vào việc xây dựng chiến lược giáo dục con
người cho đất nước, có giải pháp khả thi trong việc giáo dục cải tạo trẻ
em vị thành niên.
Thực tế hàng năm có rất nhiều trẻ em vị thành niên phạm pháp đã
các vấn đề sau :
- Tuổi, trình độ phát triển về thể chất và tinh thần, mức độ nhận
thức về hành vi phạm tội của người chưa thành niên.
- Điều kiện sinh sống và giáo dục của gia đình, nhà trường.
- Có hay không có những người lớn tuổi xúi giục, dẫn dắt phạm
pháp.
- Nguyên nhân và điều kiện phạm pháp.
Với mức độ phạm pháp tuỳ theo mà giáo dục tại gia đình hoặc
giam giữ cải tạo ở trại, trường giáo dưỡng do pháp luật qui định, công
tác giáo dục tốt, tội phạm được tha giam giữ. Ban Giám thị phối hợp với
chính quyền, tổ chức xã hội và phường xã để giúp đỡ người đó trở về
sống bình thường trong xã hội.
Khái niệm trẻ em phạm pháp : Là trẻ em phạm tội theo tâm lý học
tội phạm đó là hành vi nguy hiểm cho xã hội; trái với pháp luật và chịu
hình phạt, hành động gây nguy hiểm, đe doạ sự ổn định an ninh cho xã
hội, gây hậu quả, vi phạm quyền được pháp luật bảo vệ.
Nói đầy đủ hơn: Trẻ em phạm pháp trước hết là có hành vi hoàn
chỉnh, nó thoả mãn dấu hiệu cấu thành tội phạm, chủ quan khách quan
thông qua hành độngk phương tiện công cụ gây án (có mục đích, có
chuẩn bị, tội vô cùng lớn).
8
Về mặt chủ quan : mục đích và động cơ phạnm tội tất cả mọi hành
vi, hành động của con người đều ý thức hành động - Người làm pháp luật
tìm động cơ để tăng hoặc giảm nhẹ hình phạt. Động cơ biểu thị ra bên
ngoài hành vi kẻ phạm tội như : trả thù, cướp…
Khi xem xét đánh giá kẻ phạm tội 2 mặt. Thông thường nó thống
nhất cả chủ quan và khách quan. Để hiểu sâu về trẻ em phạm pháp ta cấn
hiểu khái niệm tội phạm được ghi tại điều 8 Bộ luật hình sự nước Cộng
được hậu quả các loại phạm pháp mà các em vị thành niên thường phạm
tội.
+ Hành vi phạm tội: là những hành vi gây nguy hiểm cho xã hội
được qui định trong bộ luật hình sự do người có trách nhiêm hình sự
thực hiện một cách có ý hoặc vô ý xâm hại nhà nước xã hội chủ nghĩa.
Có 4 đặc điểm không thể thiếu được trong việc qui định người phạm tội.
+ Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội. Hành vi nguy hiểm
cho xã hội là hành vi đã gây ra đe doạ gây ra thiệt hại cho những quan hệ
xã hội xã hội chủ nghĩa được luật hình bảo vệ.
+ Tính có lỗi : Lỗi là thái độ chủ quan của một người đối với hành
vi nguy hiểm cho xã hội của mình và đối với hậu quả gây ra thể hiện
dưới dạng cố ý hoặc vô ý.
+ Tính quy định trong bộ luật hình sự. Các hành vi bị coi là phạm
tội đều phải được qui định trong bộ luật hình sự . Nếu không được quy
định trong bộ luật hình sự thì không bị coi là phạm tội.
+ Tính chịu hình phạt. Tính chịu hình phạt cùng với tính quy định
trong bộ luật hình sự là đặc điểm biểu hiện về mặt hình thức của tội
phạm, phản ánh nội dung của tội phạm là tính nguy hiểm cho xã hội và
tính có lỗi. Đã là hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi thì phải được qui
định trong bộ luật hình sự và phải chịu hình phát và ngược lại.
Với đặc điểm trên với lứa tuổi từ 12 tuổi đến dưới 16 tuổi mà vi
phạm pháp luật với 4 đặc điểm trên thì gọi là trẻ em vị thành niên phạm
pháp.
Để hiểu đầy đủ về trẻ em phạm pháp vị thành niên theo giáo trình
môn học luật hình sự của trường Trung học An ninh nhân dân I Bộ Nội
vụ qui định tuổi chịu trách nhiêm hình sự: Người từ 14 tuổi trở lên
10
nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiêm hình sự về những tội
Marie Quirie, qua điều tra 550 trẻ em tại trường giáo dưỡng số 2 Ninh
Bình cho thấy 1/5 các em có bố mẹ hoặc anh chị em đã, đang phạm tội;
gần 20% những đứa trẻ được tập trung cải tạo là có những người thân
trong gia đình của mình từng phạm tội, có tiền án, đã và đang ở trại cải
tạo. Trong khi đó trên số liệu đối chứng ở trường Marie Quirie thì không
có một học sinh nào có bố, mẹ hoặc anh, chị, em đã và đang đi tù và cải
tạo. Kết quả trên có thể đánh giá chính xác một số nhân tố từ phía giáo
dục gia đình có ảnh hưởng tốt hoặc xấu tới trẻ như là một trong những
nguyên nhân dẫn tới hành vi phạm pháp luật của trẻ em vị thành niên .
1.2. Vai trò gia đình, xã hội với việc cải tạo trẻ em vị thành niên
phạm pháp.
* Định nghĩa : Hoạt động cải tạo là tổng hợp hoạt động của các cơ
quan nhà nước, tổ chức và công dân nhằm từng bước, cải tạo, giáo dục
trẻ em vị thành niên tiến bộ, chấm dứt phạm pháp, hoặc hướng trở về với
cộng đồng.
Đối với pháp luật giáo dục bằng hình phạt, là biện pháp cưỡng chế
của Nhà nước mà kẻ phạm pháp phải thi hành nhằm tước bỏ hoặc hạn
chế quyền, lợi ích của người phạm tội. Mục đích của cải tạo, giáo dục
phạm nhân được tổ chức đặc biệt ở trại cải tạo, thông qua giáo dục trên
nhiều lĩnh vực và tác động của lao động cải tạo, dựa trên cơ sở tâm lý
con người có khả năng thay đổi dưới tác động của môi trường bên ngoài
được tổ chức thông qua các hoạt động và giao tiếp tại các trại cải tạo để
đạt tới hiệu quả, làm cho phạm nhân có khả năng tự điều chỉnh, tự điều
khiển bản thân để giải quyết các mâu thuẫn tình huống theo khuôn khổ
pháp luật, đạo đức và luân lý trong qúa trình giáo dục cải tạo để trở
thành người tiến bộ, mau chóng hoàn nương, trở về hoà nhập cuộc sống
cộng đồng.
* Đặc điểm : Hoạt động cải tạo trẻ em vị thành niên gắn liền với sự
thường có biểu hiện, ngại học tập, ngại lao động, không tự chủ. Thích ăn
chơi đua đòi, hoặc do bạn bè lôi kéo quen ăn trộm cắp, nghiện hút, cờ
bạc… Bởi vậy việc giáo dục trong xã hội được xã hội hoá gia đình, nhà
trường kết hợp giáo dục, phối hợp với các tổ chức chính trị - xã hội ở địa
phương giáo dục bằng học tập văn hoá.
13
- Lao động, học nghề.
- Tham gia các hoạt động tập thể có lợi.
- Cá nhân tự khẳng định rằng họ có thể trở thành người
tiến bộ.
Việc giáo dục cải tạo trong trại cải tạo được tiến hành bởi sự
hướng dẫn, chỉ bảo của người quản giáo với một số hoạt động sau:
- Xây dựng uy tín với phạm nhân.
- Xây dựng nhân cách mới cho phạm nhân bắt buộc cải
tạo tốt, tiến bộ, không sợ học tập, lao động, hiểu được học tập,
lao động, học nghề có thể ra xã hội hào nhập cộng đồng. Đây là
thời kỳ chuyển biến quan trọng môi trường sống hoàn toàn họ
phải có kế họach chính cho kè phạm tội ăn năn hối lỗi, chịu cải
tạo, xây dựng phẩm chất mới để đáp ứng, chịu khó học tập, lao
động học nghề, để trở thành người tiến bộ. Việc áp dụng các
phương pháp cưỡng chễ tâm lý vào việc cải tạo và điều chỉnh
hành vi phạm tội vô thức không có nghĩa là từ bỏ các phương
pháp truyền thống đã được kiểm chứng cũng như các phương
pháp hiệu đính sư phạm đang được áp dụng đối với người chưa
thành niên có hành vi lệch chuẩn. Ngược lại công tác giáo dục
phòng ngừa chỉ có thể đảm bảo trong trường hợp khi các
phương pháp cưỡng chế tâm lý được củng cố trong hệ thống
giáo dục cải tạo và được thực hiện trên cơ sở lao động tập thể,
phải chỉ nói gì, mà quan trọng cả việc nói như thế nào, và ai nói, có
trường hợp quản giáo không thể truyền thụ những tư tưởng của mình đến
phạm nhân do có sự ngăn cách tâm lý, trẻ em sợ quản giáo, sợ quát,
mắng, mệnh lệnh. Điều đó chứng tỏ công tác giáo dục trẻ em phạm pháp
rất khó. Vai trò to lớn trong việc giải quyết vấn đề này, là khả năng đặc
biệt của người quản giáo nắm bắt các đặc điểm tâm lý riêng biệt của
người đối thoại.
+ Tổ chức hoạt động giáo dục cải tạo phạm nhân của quản giáo:
Quản giáo ở trại lao động cải tạo thường xuyên phải làm việc với phạm
nhân. Để giải quyết đúng đắn các nhiêm vụ sản xuất giáo dục, quản giáo
cần phải là nhà tổ chức giỏi, người có ý chí. Tài năng tổ chức của quản
15
giáo thể hiện ở việc thành lập tập thể phạm nhân, lãnh đạo tập thể này và
lãnh đạo qúa trình sản xuất. Phải biết đưa vào cuộc sống các ý định của
mình và biết vượt qua sự chống đối bên ngoài hoặc bên trong của những
người xung quanh.
Bởi vậy phải tạo ra uy tín nhất định trong mắt của phạm nhân, nhất
là trẻ em vị thành niên. Có thể uy tín đầu tiên là kiến thức về công việc
của mình, có kiến thức chuyên môn, kỹ năng kỹ xảo, thứ hai là giải
quyết sáng tạo các nhiêm vụ giáo dục không có thành kiến. Thứ ba, tinh
thần trách nhiêm cao đối với các hành vi của mình cũng như hành vi của
những người dưới quyền. Thứ tư, trình độ văn hoá cao, phong cách riêng
trong công việc có như vậy mới có hiệu quả trong công tác giáo dục
phạm nhân, trong đó có trẻ em vị thành niên phạm pháp.
+ Hoạt động thiết kế của quản giáo liên quan đến việc lựa chọn các
đối sách, phương hướng giáo dục, lập kết hoạch, chiến thuật và chiến
lược giáo dục.
Sự phức tạp của qúa trình giáo dục đối với các phạm nhân thể hiện
học trong tâm lý học cần đề xuất một số vấn đề trong giáo dục, cải tạo
trẻ em vị thành niên phạm pháp.
Vấn đề tồn tại : Do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan
công tác chăm sóc giáo dục trẻ em của gia đình và nhà trường phổ thông
chưa quan tâm đầy đủ tới công tác giáo dục trẻ em vị thành niên phạm
pháp.
Như phân tích ở trên, có một số gia đình có bố, mẹ, anh chị em vi
phạm pháp luật, chưa gương mẫu khi các em hư mặc cảm, thiếu quan
tâm để các em đì vào tội lỗi, phạm pháp. Một số nhà trường chưa tiếp
quản hết các em đang độ tuổi đi học, có một nguyên nhân cơ bản là các
cháu lười học. Việt phát triển đô thị hoá các cháu bỏ học lên thành phố
lang thang hoặc đánh giầy thuê, làm thuê kíêm tiền. Có một số địa
phương chưa làm tốt công tác quản lý xã hội, quản lý nhân khẩu, để kẻ
xấu lợi dụng lôi kéo trẻ em. Mặt khác do nền kinh tế vận hành theo cơ
chế thị trường đòi hỏi Quốc hội cần liên tục xây dựng và ban hành các
luật, sửa đổi luật, có một bộ phận trong nhân dân chưa nắm và hiểu đầy
đủ về luật, trong đó có các em vị thành niên.
b. Một số đề xuất và vai trò của gia đình, nhà trường xã hội trong
việc giáo dục trẻ em vị thành niên
- Trước hết cần xác định gia đình và các thành viên trong gia đình,
là đối tượng của công tác tuyên truyền, giáo dục để mọi người nhận thức
được vai trò chức năng của mình trong việc chăm sóc, quản lý giáo dục
con em, coi trẻ em là đối tượng cần được bảo vệ, chăm sóc đặc biệt. Phải
có kiến thức trong việc giáo dục trẻ em, thực hiện tốt cuộc vận động do
18
mặt trận phát động : “Người lớn gương mẫu, trẻ em chăm ngoan” và
“ông bà, cha mẹ mẫu mực, con trung hiếu, cháu thảo hiền”.
- Chính quyền các cấp nhất là ở cơ sở quan tâm tới sự nghiệp giáo
Trong thực tế, hành vi phạm tội, luôn được nghiên cứu trong mối
quan hệ phối hợp “Môi trường - Người phạm tội”. Con người sinh ra
không hề có sẵn một chương trình xã hội đã được chuẩn bị, mà chương
trình này được hình thành ở con người bởi thực tiễn xã hội, trong qúa
trình phát triển cá thể của họ có đặc tính tâm lý của con người được hình
thành nhờ hoạt động thực tiễn xã hội của con người: Viện Hàn lâm Khoa
học Liên bang Nga có công trình khoa học của ông A.N.Lê-ôn-Chép đã
nhận xét rằng : Nhân cách không phải là một chính thể tạo ra do di
truyền, nhân cách không phải bẩm sinh, mà nó được hình thành dần dần.
Nhân cách đó là sản phẩm của qúa trình phát triển lịch sử xã hội và qúa
trình phát triển gen di truyền của con người.
Khi nghiên cứu trẻ em vị thành niên phạm pháp, việc phân tích
nhân cách trong mỗi tác động qua lại với môi trường xã hội có ý nghĩa
rất quan trọng. Bởi vì hành vi phạm pháp phát sinh không phải từ chính
môi trường hoặc do chính cá nhân, mà nó phát sinh do mỗi tác động qua
lại giữa môi trường và cá nhân.
c- Vai trò giáo dục của gia đình;
Có thể nói gia đình là môi trường xã hội đầu tiên giúp cho trẻ sớm
hoà nhập với xã hội, vì vậy, để ngăn chặn sự phát triển sai lệch, sự nhận
thức không đúng đắn, và để cho một nhân cách phát triển một cách toàn
diện, đồng thời ngăn chặn trẻ em vị thành niên có hành vi vi phạm pháp
luật, hành vi phạm pháp ngay trong phạm vi quản lý của gia đình thì
trước hết gia đình phải :
- Các bậc cha mẹ phải có tấm gương cho con cái trong mọi việc
làm của bản thân mình.
- Cha mẹ phải tạo điều kiện cho con cái được vui chơi, được đến
trường học hành.
- Cha mẹ phải có lối sống thuỷ chung, lành mạnh, yêu thương lẫn
nhau. Ngoài ra chúng ta cần phải phát triển các trung tâm tư vấn giúp
các em, các bậc cha mẹ lựa chọn phương pháp, cách thức giáo dục con
đáng kể. Phạm vi nghiên cứu và ứng dụng của ngành tâm lý học trong
đó có Tâm lý học pháp lý được áp dụng và tiến bộ hơn, sâu hơn của
đời sống xã hội. Có nhiều đóng góp nhằm hoàn chỉnh hệ thống pháp
luật của Việt Nam ngày càng đầy đủ hơn, phong phú hơn. Đó là đời
sống pháp luật đang sống động, một trào lưu tâm lý xã hội mới đã
hình thành và ngày càng phát triển, trào lưu đề cao vai trò và những
giá trị của pháp luật đã không chỉ còn là khẩu hiệu “Sống và làm việc
theo pháp luật” mà đã trở thành nhu cầu tự thân mang tính khách
quan, phổ biến của đời sống xã hội và cả mọi người.
Từ lý luận đó theo tâm lý học nghiên cứu chủ đề: Giáo dục trẻ
em vị thành niên phạm pháp hiện nay ở nước ta Mặt trận tổ quốc và
Bộ Công an đã có đề án: “Phát động toàn dân tham gia phòng ngừa,
22
phát hiện, tố giác tội phạm, cảm hoá giáo dục, cải tạo người phạm tội
tại gia đình và cộng đồng dân cư”.
Từng bước ngành tâm lý học có trách nhiêm nghiên cứu, phân
tích chỉ rõ những ưu điểm, khuýêt điểm trong việc giáo dục cải tạo
trẻ em vị thành niên phạm pháp, và đóng góp vào việc đẩy lùi tình
trạng phạm pháp trong nhân dân nhằm duy trì an ninh, an toàn xã hội
và đảm bảo công bằng xã hội.
Phương hướng dự định tiếp theo của tâm lý học tư pháp cần tiếp
tục tuyên truyền mạnh mẽ về tác hại của hành vi phạm pháp đối với
đời sống xã hội để nhân dân nâng cao nhận thức, trách nhiệm, tích
cực tham gia phòng chống tội phạm, đặc biệt chú ý tới việc giáo dục
cảm hoá đối tượng trẻ em vị thành niên phạm pháp.
- Ở địa phương, đơn vị, trường học và gia đình không ngừng
khơi dậy truyền thống tinh thần phòng chống tội phạm mạnh mẽ, đặc
biệt ở các nơi dân cư phức tạp. Nhờ đó hạn chế được tội phạm, tình
pháp giáo dục khác nhau nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đối với
con cái. Gia đình đóng vai trò quan trọng vào nhiệm hạn chế, giảm
đối tượng trẻ em vị thành niên phạm pháp.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Phương pháp an két
2. Phương pháp phỏng vấn
3. Phương pháp nghiên cứu tài liệu
4. Phương pháp thống kế toán học.
24
VII. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. TLH Pháp lý
- Nguyễn Hồi Loan
- Đặng Thanh Nga - 2003.
2. TLH Tư pháp
- Nxb Công an nhân dan 2002
3. TLH xã hội
- Trần Hiệp Nxb KHXHNV 1996
4. Hiến pháp sửa đổi
- 1992