ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA TÂM LÝ HỌC
BÁO CÁO THỰC TẬP
Đề tài:
Thực trạng giáo dục cải tạo trẻ em vị thành niên phạm pháp ở tỉnh
Hưng Yên
Giáo viên hướng dẫn : Cô Hoàng Mộc Lan
Sinh viên : Lê Ngọc Thắng
Lớp : K46-Tâm lý học
Hà Nội, 04 - 2005
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài nghiên cứu này, chúng em xin bày tỏ lòng biết ơn
chân thành tơi cô giáo Hoàng Mộc Lan và các thầy cô trong Khoa đã hướng
dẫn chúng em tận tình, cùng với sự giúp đỡ của cơ quan Công an thị xã, công
an tỉnh Hưng Yên.
Trong quá trình chúng em thực hiện đề tài nghiên cứu này, chúng em
cũng xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo Khoa Tâm lý học trường Đại học
Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội đã trang bị cho chúng
em những kiến thức Tâm lý cũng như kỹ năng bài và nghiên cứu Khoa học trong
thời gian học tập và thực tập vừa qua.
2
PHẦN I. PHẦN MỞ ĐẦU
Chương I : NỘI DUNG NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI GIÁO DỤC TRẺ EM VỊ
THÀNH NIÊN
1. TÊN ĐỀ TÀI:
Giáo dục cải tạo trẻ em vị thành niên phạm pháp.
1.1. Lý do chọn đề tài
Trong suốt qúa trình đánh giá cách mạng Việt Nam Đảng ta luôn chú
trọng yếu tố con người, coi con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy
nghĩa xã hội, đưa dất nước phát triển. Mỗi một thời kỳ đều có một đặc điểm
riêng, do những đặc điểm có sự chi phối riêng song vấn đề giáo dục cải tạo trẻ
em vị thành niên có nhiều thay đổi, chuyển dịch.
- Từ năm 1954 đến năm 1975 mức độ phạm tội của trẻ em vị thành niên là
rất ít
- Từ năm 1975 đến 1995 mức độ phạm tội của trẻ em vị thành niên có
chiều hướng gia tăng.
- Từ năm 1977 đến nay trẻ em vị thành niên phạm tội tăng cao. Ngành
Tâm lý học Việt Nam phát triển là một khoa học có cách nhìn nhận mới từ cách
hiểu việc giáo dục, cải tạo trẻ em vị thành niên trên phương diện lý thuyết thuần
tuý đến cách hiểu việc giáo dục cải tạo trẻ em vị thành niên trong thực tế sáng
tạo với các chương trình có giá trị lớn như : Tâm lý học pháp lý, Tâm lý học đại
cương, tâm lý học gia đình… đặc biệt trong Hiến pháp, các Bộ Luật hình sự (sửa
đổi) đã mở ra giải pháp phòng chống tội phạm nói chung và giải pháp giáo dục
trẻ em vị thành niên, giúp họ nhanh chóng tái hội nhập cộng đồng.
1.2. Đối tượng nghiên cứu của đề tài:
Nghiên cứu thực trạng về trẻ em vị thành niên phạm pháp ở Hưng Yên.
Tìm hiểu môi trường xã hội, gia đình đối với giáo dục cải tạo trẻ em vị
thành niên phạm pháp.
Thực trạng trẻ em vị thành niên phạm pháp ở Hưng Yên với những hoạt
động tích cực của các ngành các cấp, các đơn vị công an, trường học.
4
Với trách nhiệm của mình góp phần giáo dục cải tạo các trẻ em hư, phạm
pháp.
1.3. Mục đích nghiên cứu:
Ngành tâm lý học tư pháp có vai trò rất quan trọng trong giáo dục và cải
tạo người phạm tội là vị thành niên tiến bộ trở lại hoà nhập cộng đồng. Viện
nghiên cứu về giáo dục cải tạo trẻ em vị thành niên mang tính nhân văn, nhân
đạo. Nhà nghiên cứu tâm lý học, sinh viên khoa tâm lý học cần tập trung vào
mối quan tâm của gia đình, xã hội, phân tích những yếu tố văn hoá, xã hội từng
trò cá nhân vị thành niên vì mục tiêu chung vì sự tiến bộ của trẻ em vị thành
niên.
Trên cơ sở nghiên cứu trẻ em vị thành niên cho phép chúng ta rút ra kết
luận là các nhà khoa học, nhà giáo dục học, nhà tâm lý học tiếp tục có nhiều đề
tài đóng góp vào việc xây dựng chiến lược giáo dục con người cho đất nước, có
giải pháp khả thi trong việc giáo dục cải tạo trẻ em vị thành niên.
Thực tế hàng năm có rất nhiều trẻ em vị thành niên phạm pháp đã được về
sống hoà nhập cộng đồng trở thành người có ích cho gia đình và xã hội, góp
phần xây dựng đất nước giàu đẹp văn minh. Kết quả đó trước hết là sự quan tâm
đầy đủ của Đảng và Nhà nước đề ra các đường lối, chủ trương chính sách đúng
đắn, tại cộng đồng dân cư được sự quan tâm của xã hội, gia đình đối với việc
giáo dục trẻ em vị thành niên. Đó là sự đóng góp của các nhà tâm lý học ngày
càng có nhiều công trình nghiên cứu mới đề ra nhiều giải pháp đúng và trúng
trong việc giáo dục cải tạo trẻ em vị thành niên.
1.5. Phạm vi nghiên cứu của chúng tôi là tỉnh Hưng Yên nằm ở trung tâm
đồng bằng Bắc Bộ có số dân đông, số trẻ em vị thành niên phạm tội ra sao. Vai
trò của cơ quan pháp luật và tình hình giáo duc, cải tạo ra sao, dư luận thái độ
của người dân Hưng Yên với việc giáo dục cải tạo trẻ em vị thành niên phạm
pháp.
6
PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Đặc điểmt trẻ em vị thành niên phạm pháp.
Điều 20 Bộ luật dân sự của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
năm 2000 qui định người từ 18 tuổi trở lên là người thành niên, người chưa đủ
18 tuổi là người chưa thành niên.
Người chưa thành niên phạm pháp là người có những hiểu biết cần thiết
về Tâm lý học, về khoa học giáo dục cũng như về đấu tranh phòng chống tội
phạm của người chưa thành niên.
Để công tác giáo dục trẻ em vị thành niên có hiệu quả cần chú ý các vấn
khoẻ, danh dự nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền lợi ích hợp pháp khác của
công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ
nghĩa”.
Vậy, tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, trái với pháp luật
hình sự và phải chịu hình phạt.
Đặc điểm của trẻ em vi phạm pháp luật: Trẻ em vi phạm pháp luật có
hành vi trái với qui định của pháp luật và gây thiệt hại cho xã hội, như không
tuân theo những quy định của pháp luật. Pháp luật qui định một đằng một số
thanh thiếu niên lại làm một nẻo và có hành vi vi phạm đến tuân thủ pháp luật.
Xâm phạm tới những quan hệ xã hội và pháp luật bảo vệ, gây cho những quan
hệ xã hội những thiệt hại nhất định về vật chất hoặc phi vật chất. ví dụ như đua
xe máy, đánh võng…
- Tính có lỗi của hành vi trong hành vi vi phạm đều trái với pháp luật.
Biết sai nhưng vẫn làm đó là trái với pháp luật. Biết sai nhưng vẫn làm đó là cố
ý: là thực hiện hành vi trái pháp luật tuy nhiên thấy được tính nguy hiểm đã để
mặc cho hậu quả đó xảy ra.
- Vô ý : là dạng trẻ em thiếu kinh nghiệm sống, khi thực hiện hành vi trái
pháp luật không nhìn thấy trước hậu quả nguy hại cho xã hội. Mặc dù người đó
có thể hiểu rõ hậu quả do gia đình, xã hội thông tin, xong không chịu học, chịu
8
nghe, hoặc có thể cho rằng mình có thể khắc phục được hậu quả các loại phạm
pháp mà các em vị thành niên thường phạm tội.
+ Hành vi phạm tội: là những hành vi gây nguy hiểm cho xã hội được qui
định trong bộ luật hình sự do người có trách nhiêm hình sự thực hiện một cách
có ý hoặc vô ý xâm hại nhà nước xã hội chủ nghĩa. Có 4 đặc điểm không thể
thiếu được trong việc qui định người phạm tội.
+ Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội. Hành vi nguy hiểm cho xã
hội là hành vi đã gây ra đe doạ gây ra thiệt hại cho những quan hệ xã hội xã hội
chủ nghĩa được luật hình bảo vệ.
+ Tính có lỗi : Lỗi là thái độ chủ quan của một người đối với hành vi
cả về hình thức và qui mô phạm tội. Theo số liệu của Tổng cục Cảnh sát nhân
dân - Bộ Công an, qua phân tích 1394 em phạm tội năm 1996 thì cơ cấu tội
phạm như sau : 45,6% phạm tội trộm cắp, 12,3% phạm tội hiếp dâm, 1,8% phạm
tội giết người, 1,6% phạm tội chống người thi hành công vụ và 10,6% phạm các
tội khác. So với giai đoạn 1954 đến năm 1986 thì số người chưa thành niên
phạm tội tăng lên rất nhiều. Về tệ nạn xã hội theo số liệu của cục phòng chống tệ
nạn xã hội - Bộ Lao động Thương binh - xã hội thì số thanh thiếu niên chiếm
85% tổng số người sử dụng ma tuý, trong đó 50,4% là trẻ em vị thành niên (tập
trung chủ yếu ở các thành phố, thị xã trung tâm công nghiệp, dịch vụ…).
Trước hiện trạng trên, khoa tâm lý học - Trường Đại học Khoa học Xã hội
và Nhân văn tiến hành đề tài nghiên cứu “ảnh hưởng của gia đình đến hành vi
phạm pháp luật của trẻ em vị thành niên”. Qua kết quả điều tra tại trường Giáo
dưỡng số II Ninh Bình và trường phổ thông cơ sở Marie Quirie, qua điều tra 550
trẻ em tại trường giáo dưỡng số 2 Ninh Bình cho thấy 1/5 các em có bố mẹ hoặc
anh chị em đã, đang phạm tội; gần 20% những đứa trẻ được tập trung cải tạo là
có những người thân trong gia đình của mình từng phạm tội, có tiền án, đã và
đang ở trại cải tạo. Trong khi đó trên số liệu đối chứng ở trường Marie Quirie thì
không có một học sinh nào có bố, mẹ hoặc anh, chị, em đã và đang đi tù và cải
tạo. Kết quả trên có thể đánh giá chính xác một số nhân tố từ phía giáo dục gia
đình có ảnh hưởng tốt hoặc xấu tới trẻ như là một trong những nguyên nhân dẫn
tới hành vi phạm pháp luật của trẻ em vị thành niên.
10
1.2. Vai trò gia đình, xã hội với việc cải tạo trẻ em vị thành niên phạm
pháp.
* Định nghĩa : Hoạt động cải tạo là tổng hợp hoạt động của các cơ quan
nhà nước, tổ chức và công dân nhằm từng bước, cải tạo, giáo dục trẻ em vị thành
niên tiến bộ, chấm dứt phạm pháp, hoặc hướng trở về với cộng đồng.
Đối với pháp luật giáo dục bằng hình phạt, là biện pháp cưỡng chế của
Nhà nước mà kẻ phạm pháp phải thi hành nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi
ích của người phạm tội. Mục đích của cải tạo, giáo dục phạm nhân được tổ chức
các tổ chức tôn giáo và người truyền đạo và xem họ như là một nhân tố tham gia
trong qúa trình tái hoà nhập của phạm nhân (trích trong giáo trình Tâm lý học
pháp lý do thày Nguyễn Hồi Loan và Đặng Thanh Nga biên soạn).
Để hoạt động cải tạo trẻ em vị thành niên có hiệu quả cần một loại giáo
dục cải tạo cơ bản sau đây :
Phân tích các diễn biến tâm lý của trẻ em vị thành niên phạm pháp thường
có biểu hiện, ngại học tập, ngại lao động, không tự chủ. Thích ăn chơi đua đòi,
hoặc do bạn bè lôi kéo quen ăn trộm cắp, nghiện hút, cờ bạc… Bởi vậy việc giáo
dục trong xã hội được xã hội hoá gia đình, nhà trường kết hợp giáo dục, phối
hợp với các tổ chức chính trị - xã hội ở địa phương giáo dục bằng học tập văn
hoá.
- Lao động, học nghề.
- Tham gia các hoạt động tập thể có lợi.
- Cá nhân tự khẳng định rằng họ có thể trở thành người tiến bộ.
Việc giáo dục cải tạo trong trại cải tạo được tiến hành bởi sự hướng dẫn,
chỉ bảo của người quản giáo với một số hoạt động sau:
- Xây dựng uy tín với phạm nhân.
- Xây dựng nhân cách mới cho phạm nhân bắt buộc cải tạo tốt, tiến bộ,
không sợ học tập, lao động, hiểu được học tập, lao động, học nghề có thể ra xã
hội hào nhập cộng đồng. Đây là thời kỳ chuyển biến quan trọng môi trường sống
hoàn toàn họ phải có kế họach chính cho kè phạm tội ăn năn hối lỗi, chịu cải tạo,
12
xây dựng phẩm chất mới để đáp ứng, chịu khó học tập, lao động học nghề, để
trở thành người tiến bộ. Việc áp dụng các phương pháp cưỡng chễ tâm lý vào
việc cải tạo và điều chỉnh hành vi phạm tội vô thức không có nghĩa là từ bỏ các
phương pháp truyền thống đã được kiểm chứng cũng như các phương pháp hiệu
đính sư phạm đang được áp dụng đối với người chưa thành niên có hành vi lệch
chuẩn. Ngược lại công tác giáo dục phòng ngừa chỉ có thể đảm bảo trong trường
hợp khi các phương pháp cưỡng chế tâm lý được củng cố trong hệ thống giáo
dục cải tạo và được thực hiện trên cơ sở lao động tập thể, học tập, công ích xã
+ Tổ chức hoạt động giáo dục cải tạo phạm nhân của quản giáo: Quản
giáo ở trại lao động cải tạo thường xuyên phải làm việc với phạm nhân. Để giải
quyết đúng đắn các nhiêm vụ sản xuất giáo dục, quản giáo cần phải là nhà tổ
chức giỏi, người có ý chí. Tài năng tổ chức của quản giáo thể hiện ở việc thành
lập tập thể phạm nhân, lãnh đạo tập thể này và lãnh đạo qúa trình sản xuất. Phải
biết đưa vào cuộc sống các ý định của mình và biết vượt qua sự chống đối bên
ngoài hoặc bên trong của những người xung quanh.
Bởi vậy phải tạo ra uy tín nhất định trong mắt của phạm nhân, nhất là trẻ
em vị thành niên. Có thể uy tín đầu tiên là kiến thức về công việc của mình, có
kiến thức chuyên môn, kỹ năng kỹ xảo, thứ hai là giải quyết sáng tạo các nhiêm
vụ giáo dục không có thành kiến. Thứ ba, tinh thần trách nhiêm cao đối với các
hành vi của mình cũng như hành vi của những người dưới quyền. Thứ tư, trình
độ văn hoá cao, phong cách riêng trong công việc có như vậy mới có hiệu quả
trong công tác giáo dục phạm nhân, trong đó có trẻ em vị thành niên phạm pháp.
+ Hoạt động thiết kế của quản giáo liên quan đến việc lựa chọn các đối
sách, phương hướng giáo dục, lập kết hoạch, chiến thuật và chiến lược giáo dục.
Sự phức tạp của qúa trình giáo dục đối với các phạm nhân thể hiện qua
một loạt khó khăn, phần đông phạm nhân không có đầy đủ phẩm chất của một
con người tốt, họ có sự lệch lạc trong nhận thức về pháp luật, về đạo đức, luân lý
và tinh thần. Phạm nhân có những phản đối ngầm hoặc ra mặt đối với qúa trình
giáo dục, các điều kiện cách ly ở trại lao động cải tạo không cho phép sử dụng
tất cả các biện pháp tác động giáo dục lên nhân cách. Trong số những phạm
14
nhân, có một số lượng lớn không muốn chấp nhận được giáo dục, vì vậy cần
phải có cách tiếp cận riêng biệt.
Đối với trẻ em vị thành niên việc học tập văn hoá, học nghề có thuận lợi
hơn phạm nhân lớn tuổi, cần áp dụng giáo dục riêng biệt. Ví dụ phương pháp
giáo dục của nhà sư phạm, nhà tâm lý học người Nga Ma ca Ren cô, dạy các em
học sinh hư, cá biệt có hiệu quả.
Đối với công việc cải tạo lao động đối với trẻ em vị thành niên, có biện
dục trẻ em, thực hiện tốt cuộc vận động do mặt trận phát động : “Người lớn
gương mẫu, trẻ em chăm ngoan” và “ông bà, cha mẹ mẫu mực, con trung hiếu,
cháu thảo hiền”.
- Chính quyền các cấp nhất là ở cơ sở quan tâm tới sự nghiệp giáo dục của
nhà trường phổ thông, tạo điều kiện các cháu trong độ tuổi được đến trường
không có trường hợp nào bỏ học, đứt học. Mặt khác chính quyền các cấp nhất là
ở cơ sở phải tăng cường công tác quản lý xã hội làm tốt công tác quản lý xã hội,
làm tốt công tác quản lý nhân khẩu, thường xuyên quan tâm giúp đỡ những gia
đình khó khăn. Thực hiện tốt chính sách xã hôị, thực hiện chỉ tiêu xoá đói, giảm
nghèo, không mặc cảm với gia đình và người lầm lỗi, tạo điều kiện để họ hoà
nhập cộng đồng không để kẻ xấu lợi dụng, lôi kéo.
- Quản lý tốt công tác dịch vụ, kinh doanh, các hoạt động văn hoá xã hội
trên địa bàn dân cư. Mặt trận và các đoàn thể hoạt động mạnh, không để các em
tiếp xúc với các loại văn hoá độc hại. Cần hoạt động tốt để các em tham gia
đoàn thể, vui chơi, sinh hoạt lành mạnh.
Đối với các em vị thành niên có biểu hiện vi phạm pháp luật, cần kết hợp
giữa chính quyền, gia đình và nhà trường quản lý giáo dục để các em trở thành
người tốt.
Qua việc nghiên cứu tìm hiểu nguyên nhân tâm lý xã hội của trẻ em vị
thành niên phạm pháp, vấn đề có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với các hoạt
động tư pháp, đối tượng tác động của những cán bộ công tác trong các cơ quan
tư pháp chủ yếu là những người đã thực hiện hành vi phạm tội. Nếu cán bộ tư
pháp không nắm vững được bản chất của người phạm tội, không nắm được
những đặc điểm tâm lý của qúa trình thực hiện tội phạm, thì họ không thể hoàn
16
thành tốt các chức năng chuyên môn của mình. Để đấu tranh phòng chống tội
phạm có kết quả tốt, ngoài việc nghiên cứu các quy luật tâm lý chung của qúa
trình trẻ em vị thành niên phạm tội, chúng ta cần nghiên cứu nguyên nhân tâm lý
xã hội nào dẫn con người đến thực hiện hành vi phạm tội.
Trong thực tế, hành vi phạm tội, luôn được nghiên cứu trong mối quan hệ
đồng, phấn đấu tiến bộ.
18
KẾT LUẬN
Việc giáo dục cải tạo trẻ em vị thành niên phạm pháp là một
đóng góp lớn trong chính sách quan tâm tới con người của Đảng và
Nhà nước. Bởi vì con người không là một thứ “vật chất” bị động, con
người có những khả năng to lớn: nghị lực, ý chí, tự do. Trong tâm lý
học tư pháp đã khẳng định con người có thể khắc phục vượt qua môi
trường không thuận lợi, đến với môi trường mới thông qua giáo dục
cải tạo trẻ em vị thành niên phạm pháp sẽ hoàn lương trở thành con
người tốt, đó là những đóng góp quan trọng của môn Tâm lý học.
Thực tiễn của đất nước ta những năm vừa qua đã cho thấy rằng:
trong thời kỳ bao cấp tình hình vi phạm pháp luật trong nhân dân nói
chung và trẻ em vị thành niên nói riêng có giảm so với thời kỳ hiện
nay. Nhưng nghiên cứu về tâm lý học ta có quyền tự hào sau 18 năm
thực hiện đường lối do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng. Trên
đất nước ta diễn ra nhiều thay đổi lớn lao trên mọi mặt của đời sống
xã hội, đã và đang giành nhiều thành tựu to lớn trong qúa trình phát
triển kinh tế xã hội. Những năm qua ngành tâm lý học, một bộ phận
quan trọng của khoa học xã hội và nhân văn đã có bước phát triển
đáng kể. Phạm vi nghiên cứu và ứng dụng của ngành tâm lý học trong
đó có Tâm lý học pháp lý được áp dụng và tiến bộ hơn, sâu hơn của
đời sống xã hội. Có nhiều đóng góp nhằm hoàn chỉnh hệ thống pháp
luật của Việt Nam ngày càng đầy đủ hơn, phong phú hơn. Đó là đời
sống pháp luật đang sống động, một trào lưu tâm lý xã hội mới đã
hình thành và ngày càng phát triển, trào lưu đề cao vai trò và những
giá trị của pháp luật đã không chỉ còn là khẩu hiệu “Sống và làm việc
theo pháp luật” mà đã trở thành nhu cầu tự thân mang tính khách
quan, phổ biến của đời sống xã hội và cả mọi người.
Từ lý luận đó theo tâm lý học nghiên cứu chủ đề: Giáo dục trẻ
Đảng, chính quyền, đoàn thể và gia đình trong công tác giáo dục cait
tạo trẻ em vị thành niên.
GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU:
20
1. Giáo dục cải tạo trẻ em vị thành niên phạm pháp có vai trò to
lớn trong chính sách quan tâm đối với con người của Đảng và Nhà
nước, các địa phương và gia đình chủ động cùng cơ sở trại giáo
dưỡng quan tâm giáo dục, không mặc cảm với trẻ em vị thành niên
phạm pháp, có dư luận nghiêm khắc để giáo dục trẻ em, đón nhận và
giúp đỡ các em hoà nhập cộng đồng, tránh khuynh hướng mặc cảm.
2. Trong việc xây dựng các qui chế về nếp sống văn minh mới,
người thiếu niên mới xã hội chủ nghĩa, gia đình no ấm, hạnh phúc.
Trong gia đình ngày nay, các biện pháp giáo dục gia trưởng,
độc đoán không còn phổ biến thích hợp nữa, quan hệ giữa cha mẹ và
con cái đã trở lên dân chủ hơn, các bậc cha mẹ đã kết hợp nhiều biện
pháp giáo dục khác nhau nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đối với
con cái. Gia đình đóng vai trò quan trọng vào nhiệm hạn chế, giảm
đối tượng trẻ em vị thành niên phạm pháp.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Phương pháp an két
2. Phương pháp phỏng vấn
3. Phương pháp nghiên cứu tài liệu
4. Phương pháp thống kế toán học.
21
CHƯƠNG II. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
2.1. VÀI NÉT VỀ ĐỊA PHƯƠNG NƠI TIẾN HÀNH NGHIÊN
CỨU:
Tỉnh Hưng Yên nằm ở tả ngạn sông Hồng, thuộc Châu thổ đồng
bằng Bắc Bộ, phía đông giáp Hải Dương, phía Nam giáp Thái Bình, phía
Bắc liền kề với Hà Nội và Bắc Ninh, phía Tây giáp Hà tây và Hà Nam.
hoá giàu nghèo, sự khác biệt ngày càng xa giữa nông thông và thành thị,
đã tạo nên những sự nghịch cảnh, sự chênh lệch lớn trong thu nhập, chi
phí của các tầng lớp nhân dân.
Tình trạng có sự phân biệt giai tầng xã hội nảy sinh, cán bộ đặc
biệt là doanh nghiệp lương trên 1 triệu đồng, nông dân thu nhập vẫn còn
rất thấp, dư thừa lao động. Tuy nhiên khi đến làng nghề, đến các doanh
nghiệp tư nhân chưa thích ứng với từng lao động mới xuất hiện. Mọi
người ở mọi nơi đến tụ tập, cờ bạc xuất hiện một số mặt trái phạm tội,
thậm trí có cả phạm tội có tổ chức như một số cháu trộm cắp lấy đinh ốc
cầu Yên Lệnh, lấy nắp cống tại các công viên, một số con nhà giầu sống
phè phỡn trác táng ăn tiêu xa xỉ tiêu sài 1 ngày bằng 1 tháng, 1 năm của
em nghèo, đã đập vào nhận thức lớn trẻ, một số em đua đòi, hành động
mất phương hướng và tội lỗi.
Các nhóm bỏ học lên thành phố lang thang, một số em bị đứt học
bị kẻ xấu lợi dụng lôi kéo hư hỏng, dẫn đến phạm pháp ngày một tăng.
Hiện nay tình hình hoạt động của một số tội phạm và các tệ nạn xã hội,
nhất là nạn nghiện ma tuý, buôn bán, vận chuyển, tàng trữ ma tuý ngày
càng gia tăng trong thanh, thiếu niên. Bên cạnh các tệ nạn xã hội ma tuý,
mãi dâm, cờ bạc, trộm cắp, mê tín dị đoan là mặt trái của thị trường nó
đã tác động làm suy thoái đến phẩm chất đạo đức của một số thanh, thiếu
niên trong tỉnh Hưng Yên. Tỉnh Hưng Yên có 10 trại tạm giam tại 10
huyện thị và 1 trại giam của tỉnh. Trong 5 năm qua công an trong tỉnh đã
bắt giữ 384 đối tượng vi phạm pháp luật trong độ tuổi thanh thiếu niên,
năm 2000 giảm 22,3% tội phạm, năm 2002 tăng, năm 2003 - 2004 giảm.
Vì thế khi tiến hành nghiên cứu thực tế, khi tiền hành phát phiếu
điều tra, ngoài số em vị thành niên phạm pháp tại trại tạm giam tỉnh và
23
thị xã. Chúng tôi cũng đã tham khao9r trao đổi với đồng chí Giám thị,
cán bộ trại giam, các em và các gia đình của thị xã Hưng Yên với mong
muốn có được số liệu đánh giá thực trạng, khách quan hơn.
pháp thông qua nghiên cứu thực tế tại trại giam tỉnh Hưng Yên.
2.3. Cơ cấu tội phạm.
Qua làm việc với Ban quản lý trại giam, qua phân tích 194 đối
tượng trẻ em vị thành niên phạm pháp, 5 năm qua thì cơ cấu tội phạm
như sau:
58% phạm tội trộm căp, 10% phạm tội hiếp dâm, 2% phạm tội giết
người (trong đó nhiều trường hợp mượn xe máy người lớn đâm chết
người), 1% phạm tội chống người thi hành công vụ, 5% phạm tội tập thể
phá tài sản công dân và tập thể, 24% phạm tội khác. Với ơ cấu trên so
với cơ cấu tội phạm là vị thành niên trong toàn quốc có một số điểm
tương đồng ở cơ cấu tội phạm như cơ cấu phạm tội trộm cắp là đông
nhất, tiếp theo là tội hiếp dâm, tội tụ tập phá hoại tài sản công dân và
Nhà nước.
Trong công tác phòng chống và các tệ nạn xã hội ở Hưng Yên đã
tích cực tuyên truyền vận động, con cháu không mắc vào tội phạm,
không mắc vào tệ nạn xã hội như hút, trích ma tuý, cờ bạc, góp phần làm
giảm tỷ lệ cơ cấu tội phạm so với toàn quốc. Thông qua con số tội phạm
là trẻ em vị thành niên được so sánh trên. Tuy nhiênb kết quả so sánh đó
có thể khập khiễng trong thực tế, nhưng nó là căn cứ khoa học cho chúng
tôi nghiên cứu và rút ra kết luận:
Thực trạng số trẻ em vị thành niên trong tỉnh Hưng Yên vi phạm
pháp luật và phạm pháp là tương đối cao, là một trở ngại khó khăn trong
việc chăm sóc, giáo dục thế hệ trẻ, đòi hỏi mọi người quan tâm đầy đủ,
có trách nhiệm cao trong việc giáo dục cải tạo các cháu tiến bộ trởlại hoà
nhập với cộng đồng, góp phần tích cực ngăn chặn tội phạm và tai tệ nạn
xã hội trong thanh thiếu niên.
25