thực trạng giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật tại huyện vĩnh linh, tỉnh quảng trị - Pdf 10

Thực trạng giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật tại huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị.
GVHD: ThS. Lê Thị Dung
PHẦN I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
Càng ngày, sự tham gia của người khuyết tật càng nhiều hơn trong các công việc và
hoạt động. Kèm theo đó sự kỳ thị dần dần mất đi. Tuy nhiên câu hỏi "làm thế nào để giúp đỡ
người khuyết tật hiệu quả?" vẫn còn là vấn đề của toàn xã hội.
Theo Tổ chức Y tế Thế giới, 750 triệu người trên thế giới bị khuyết tật. 80% người
khuyết tật sống ở các nước đang phát triển. 10% dân số ở các nước nghèo là người khuyết
tật. Trên thế giới cứ 10 trẻ em thì có 1 phải đối mặt với tình trạng khuyết tật. Chỉ 2-3% trẻ
em khuyết tật ở các nước nghèo được đến trường.
Những con số nói trên còn thấp hơn nhiều so với con số thực tế do người khuyết tật
thường bị cộng đồng xa lánh, cô lập vì vậy họ thường không được có mặt trong những báo
cáo điều tra dân số. Các gia đình thường dấu diếm những đứa trẻ khuyết tật và loại chúng ra
khỏi những hoạt động của gia đình và cộng đồng.
Con người có thể bị khuyết tật về mặt thể chất (như bị liệt, cụt chân tay, điếc), về mặt
tinh thần (như suy nhược, rối loạn thần kinh sau chấn thương) hay là về mặt trí tuệ (như
không có khả năng học tập). Một số người sinh ra đã bị khuyết tật, một số khác bị khuyết tật
do kết quả của một tai nạn. Khuyết tật từ ở mức độ vừa phải đến trầm trọng, có thể tạm thời
hoặc vĩnh viễn. Với sự giúp đỡ của một cộng đồng biết thông cảm, được giáo dục tốt và có
những cơ hội nghề nghiệp, người khuyết tật có thể tiến bộ.
Trước đây, mỗi khi nói đến trẻ khuyết tật một số người gọi trẻ bằng những từ miệt thị,
gán cho cái nhãn như mù điếc, câm, què… Cũng từ các tiếp cận đó, mà dẫn tới coi thường,
xem nhẹ khả năng của trẻ. Bởi vì khái niệm mù, điếc, câm… đồng nghĩa với tàn tật, mà đã
tàn tật thì trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội.
Để xóa bỏ quan điểm này, ngày nay người ta hiểu trẻ khuyết tật là trẻ em chậm phát
triển. Những trẻ chậm phát triển không có nghĩa là mất hết khả năng. Nếu có cơ hội học tập,
các em có thể phát triển tốt khả năng của mình để trở thành người hữu ích. Ngược lại, nếu
gia đình, cộng đồng bỏ rơi các em hoặc không biết cách chăm sóc, giáo dục thì các em khó
tránh khỏi tàn phế và thực sự là gánh nặng cho gia đình, xã hội. Ngay cả một đứa trẻ bình
thường, nhưng không có cơ hội học tập, rèn luyện, không sống trong môi trường thuận lợi
thì cũng trở thành mối lo cho gia đình và xã hội. Về mặt giá trị, trẻ khuyết tật cũng là một

cấp những kiến thức và hướng dẫn Sinh viên làm chuyên đề.
Do thời gian còn hạn chế nên bài báo cáo không tránh những sai sót, Sinh viên mong
được sự đóng góp ý kiến của Giáo viên để bài được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
SVTH: Nguyễn Hoàng Phương Linh Page 2
Lớp LCĐ2. CT3
Thực trạng giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật tại huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị.
GVHD: ThS. Lê Thị Dung
PHẦN II. PHẦN NỘI DUNG.
I. CÁC KHÁI NIỆM LIÊN QUAN.
1. Người khuyết tật.
Người khuyết tật, không phân biệt nguồn gốc gây ra khuyết tật, là người bị khiếm
khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc suy giảm chức năng biểu hiện dưới những dạng
tật khác nhau, làm suy giảm khả năng hoạt động, khiến cho việc sinh hoạt, học tập, lao động
gặp nhiều khó khăn. (Điều 1, pháp luật về người tàn tật).
2. Giáo dục hòa nhập.
Là phương thức giáo dục người khuyết tật chung với người không khuyết tật trong
các cơ sở giáo dục.
3. Trẻ em.
Theo Công ước Quốc tế về quyền trẻ em quy định: “Trẻ em là người dưới 18 tuổi”.
Căn cứ vào những điều kiện, đặc điểm của con người Việt Nam, luật Quốc hội nước
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam 25/2004/QN 11 ngày 15 tháng 6 năm 2004 về bảo vệ,
chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định: “Trẻ em là những công dân Việt Nam dưới 16 tuổi”.
4. Trẻ khuyết tật.
Trẻ khuyết tật là trẻ có khiếm khuyết về cấu trúc, sai lệch về chức năng cơ thể, dẫn
đến gặp khó khăn nhất định trong hoạt động cá nhân, hoạt động xã hội và học tập theo
chương trình giáo dục phổ thông. Sự thiếu hụt về cấu trúc và hạn chế về chức năng ở trẻ
khuyết tật biểu hiện ở nhiều mức độ khác nhau.
5. Các dạng khuyết tật.
5.1. Khiếm thị: Là những người mắc vấn đề về thị lực, tình trạng thị lực khác nhau ở

cụ thể nào đó
- Trung bình: Người đó cần một sự giúp đỡ nhỏ để thực hiện các hành vi thông thường.
- Cao: Cá nhân đó cần sự giúp đỡ đáng kể trong mọi hoạt động thường nhật.
II. THỰC TRẠNG TRẺ EM KHUYẾT TẬT Ở VIỆT NAM.
1. Thực trạng người khuyết tật ở Việt Nam.
Theo số liệu thống kê của Bộ LĐTBXH, tính đến đầu những năm 2000, Việt Nam
đã có khoảng 5,3 triệu mgười khuyết tật, chiếm 6,3% tổng dân số. Trong đó 1,5 triệu
người được xếp vào loại khuyết tật nặng. Gần 8% hộ gia đình Việt Nam có người
khuyết tật và hầu hết là những hộ nghèo. Tuy nhiên, con số này cũng thay đổi tùy
theo định nghĩa về khuyết tật. Chẳng hạn như theo ước tính của WHO thì tỷ lệ
người khuyết tật chiếm đến 10% dân số.
SVTH: Nguyễn Hoàng Phương Linh Page 4
Lớp LCĐ2. CT3
Thực trạng giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật tại huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị.
GVHD: ThS. Lê Thị Dung
Tỷ lệ nam giới bị khuyết tật cao hơn nữ giới, 63,5% so với 36,5%. Tỷ lệ người
khuyết tật trong nam giới là 7,5% trong khi trong nữ giới là 5,1%. Khoảng 16% người
khuyết tật dưới 16 tuổi, 61% từ 16-55 tuổi và 23% trên 55 tuổi. Tỷ lệ người khuyết tật
sống ở nông thôn là 87% và ở thành thị là 13%.
2. Thực trạng trẻ em khuyết tật ở Việt Nam.
Theo GS.TSKH Đào Trọng Thi, Chủ nhiệm Uỷ ban Văn hoá, Giáo dục, Thanh niên,
Thiếu niên và Nhi đồng cho biết, tính đến hết tháng 12/2008, cả nước có gần 1,3 triệu trẻ em
khuyết tật, chiếm 25,4% tổng số người tàn tật (5,1 triệu người tàn tật), hay nói cách khác, cứ
4 người tàn tật thì trong đó có 1 trẻ em.
Trong tổng số 32 triệu trẻ em ở Việt Nam, trẻ khuyết tật có khoảng 1,3 triệu em,
chiếm khoảng 3,6% so với trẻ em cùng độ tuổi. Hiện nay mới chỉ có khoảng gần 269 nghìn
em, chiếm 24,22% số trẻ khuyết tật được đi học ở các loại hình trường lớp.
Trong số trẻ khuyết tật đã đi học có tới 32,99% số trẻ bỏ học. Trong cả nước còn
khoảng 2,57% số trẻ em chưa có cơ hội đến trường vì lý do khuyết tật. Nếu tình trạng này
kéo dài thì chỉ 99% số trẻ em trong độ tuổi đến trường vào năm 2010 (Chiến lược phát triển

được đưa vào các trường hòa nhập. Điều này làm cho chúng nhận ra sự khiếm khuyết của
mình và từ đó, cố gắng hết sức để huy động sức mạnh của những cơ quan khác để đạt
được những cái mà bạn bình thường đồng trang lứa của chúng làm được. Hơn nữa, ở trường
hòa nhập chúng còn học được kỹ năng sống thiết yếu của một người bình thường chứ không
phải của một người khuyết tật. Điều đó vô cùng quan trọng.
Các kết quả nghiên cứu đã rất nhiều lần chỉ ra rằng những năm đầu tiên của cuộc đời
là rất quan trọng trong việc học và phát triển. Trong thời gian này sự phát triển về các mặt
nhận thức, giao tiếp, xã hội và tình cảm của trẻ có thể bị ảnh hưởng nhiều nhất. Nếu những
nhu cầu đặc biệt được phát hiện và đáp ứng trong thời gian này, trẻ khuyết tật sẽ có cơ hội
tốt hơn để trở thành những người trưởng thành tháo vát và độc lập. Những trẻ khuyết tật có
được cơ hội cùng chơi với những trẻ khác trong lớp học hỏi được nhiều hơn về chính bản
thân chúng cũng như thái độ về việc nhân nhượng lẫn nhau diễn ra mỗi ngày. Đó là một
trong những bước đầu tiên để phát triển tinh thần độc lập. Bằng cách tham gia những lớp học
hòa nhập ở trường bình thường cùng với đội ngũ giáo viên hiểu cách ứng dụng những kỹ
thuật và hoạt động giáo dục, trẻ với những nhu cầu đặc biệt (trẻ khuyết tật) sẽ có một "bắt
đầu thuận lợi" thực sự trong việc hiện thực hóa tiềm năng dồi dào của mình.
Giáo dục hòa nhập là phương thức giáo dục trong đó trẻ khuyết tật cùng học với trẻ
em bình thường trong trường phổ thông ngay tại nơi trẻ sinh sống. Giáo dục hòa nhập là "hỗ
trợ mọi học sinh, trong đó có trẻ khuyết tật, cơ hội bình đẳng tiếp nhận dịch vụ giáo dục với
những hỗ trợ cần thiết trong lớp học phù hợp tại trường phổ thông nơi trẻ sinh sống nhằm
chuẩn bị trở thành những thành viên đầy đủ của xã hội".
SVTH: Nguyễn Hoàng Phương Linh Page 6
Lớp LCĐ2. CT3
Thực trạng giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật tại huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị.
GVHD: ThS. Lê Thị Dung
Hòa nhập không có nghĩa là "xếp chỗ" cho trẻ khuyết tật trong trường lớp phổ thông
và không phải tất cả mọi trẻ đều đạt trình độ hoàn toàn như nhau trong mục tiêu giáo dục.
Giáo dục hòa nhập đòi hỏi sự hỗ trợ cần thiết để mọi học sinh phát triển hết khả năng của
mình. Sự hỗ trợ cần thiết đó được thể hiện trong việc điều chỉnh chương trình, các đồ dùng
dạy học, dụng cụ hỗ trợ đặc biệt, các kỹ năng giảng dạy đặc thù

GVHD: ThS. Lê Thị Dung
3.2.2. Giáo dục hòa nhập giúp đỡ trẻ bình thường.
Việc hòa nhập giúp đỡ cả trẻ không khuyết tật nữa. Chúng học được cách vui vẻ tiếp
nhận những sự khác biệt đặc biệt của con người. Nhiều công trình nghiên cứu đã cho thấy
rằng thái độ của trẻ đối với trẻ khuyết tật có thể trở nên tích cực hơn khi chúng có cơ hội
chơi chung với nhau một cách thường xuyên. Chúng học đuợc rằng trẻ khuyết tật, cũng như
chúng, có thể làm một số việc tốt hơn những việc khác. Trong một lớp hòa nhập, chúng có
cơ hội làm bạn với nhiều trẻ khác nhau.
Chúng ta biết rằng - sự thân ái - là viên gạch đầu tiên giúp xây dựng lòng nhân hậu và
vị tha cho trẻ. Trẻ em sống trong một môi trường đa chủng tộc, đa văn hóa thường dân chủ
và độ lượng hơn trong cách nhìn nhận và chấp nhận sự khác biệt về màu da và đa dạng về
văn hóa là vì vậy. Do đó, khi học trong cùng một lớp với trẻ khuyết tật, trẻ bình thường sẽ
học được cách nhìn nhận một cách rộng lượng và đối xử nhân hậu với trẻ khuyết tật. Cũng
chính vì vậy, chúng sẽ tự làm giàu vốn sống của mình.
Đôi khi phụ huynh trẻ khuyết tật sẽ lo lắng rằng con em mình sẽ không được những
trẻ khác thích và chấp nhận, có khi còn bị ăn hiếp, đối xử thô bạo hay trêu chọc. Tuy nhiên
chúng ta cũng biết rằng, một trong những điểm mạnh của trẻ em là chúng rất dễ thích nghi,
dễ tiếp nhận cái mới nên lo lắng này có thể khắc phục được. Nếu là giáo viên, bạn cũng có
thể nói với phụ huynh trẻ rằng bạn không cho phép bất cứ trẻ nào trêu chọc hay bắt nạt con
của họ, và rằng bạn sẽ giải quyết mọi chuyện ổn thỏa nếu những điều đó xảy ra.
Đương nhiên, một số trẻ không tỏ ra thân thiện, nhưng đây không phải là vấn đề chỉ
xảy ra với trẻ khuyêt tật. Đó không phải là lý do để né tránh lớp học, lại càng không phải là
lý do để lẫn tránh cả thế giới còn lại. Dù sao đi nữa thì trẻ khuyết tật cũng cần phải được tiếp
cận với cuộc sống bình thường bởi vì một lẽ: cuộc sống là một món quà phải được mở bởi
chính đôi bàn tay của chúng.
Trong những năm qua, cùng với sự phát triển giáo dục nói chung, giáo dục trẻ khuyết
tật đã đạt được những thành quả quan trọng về nhiều mặt. Hệ thống quản lý giáo dục trẻ
khuyết tật được hình thành ở 64 tỉnh, thành phố và bước đầu đi vào hoạt động. Mạng lưới
các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý, giáo viên cho giáo dục trẻ khuyết tật được hình
thành và đang phát triển. Các chương trình giáo dục trẻ khuyết tật được xây dựng và triển

nữa), có 10 trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hoà nhập, với chức năng như là trung tâm
nguồn của giáo dục hoà nhập trẻ khuyết tật. Mục tiêu chung của ngành giáo dục là đến năm
2010 có 75% và đến năm 2015 có 90% trẻ khuyết tật được tiếp cận với giáo dục chất
lượng…(Theo Quân đội Nhân dân online ngày 15/09/2006)
Mục tiêu của chiến lược giáo dục trẻ khuyết tật đến năm 2015 là hầu hết trẻ khuyết tật
Việt Nam có cơ hội bình đẳng trong tiếp cận một nền giáo dục có chất lượng và được trợ
giúp để phát triển tối đa khả năng, tham gia và đóng góp tích cực cho xã hội. Cụ thể, trong
năm học 2009-2010, phải bảo đảm cho 75% trẻ khuyết tật được đi học.
III. THỰC TRẠNG GIÁO DỤC HÒA NHẬP TRẺ KHUYẾT TẬT TẠI HUYỆN
VĨNH LINH, TỈNH QUẢNG TRỊ.
SVTH: Nguyễn Hoàng Phương Linh Page 9
Lớp LCĐ2. CT3
Thực trạng giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật tại huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị.
GVHD: ThS. Lê Thị Dung
1. Thực trạng trẻ khuyết tật tại huyện Vĩnh Linh.
Vĩnh Linh là một vùng đất anh hùng trong chiến tranh, nơi có vĩ tuyến 17 chia cắt 2
miền Nam- Bắc, nơi có con sông Hiền Lương hiền hòa chở bộ đội sang sông để đánh giặc
cứu nước, là bên ni- bên nớ nhớ thương.
Trong chiến tranh Vĩnh Linh anh hùng lắm, thế nhưng trong thời bình, Vĩnh Linh vẫn
còn phải chịu nhũng khó khăn do chiến tranh để lại. Đó chính là những thế hệ mai sau bị ảnh
hưởng bởi hậu quả của chiến tranh. Theo số liệu điều tra trên toàn huyện năm 2008 toàn
huyện có 154 trẻ khuyết tật trong tổng số 867 trẻ, chiếm 17,76% số trẻ em trong toàn huyện.
Trẻ khuyết tật với nhiều dạng tật khác nhau như bị khiếm thị, khiếm thính, tật vận động hay
cả bệnh down, thiểu năng trí tuệ
Một vài xã có số lượng trẻ khuyết tật cao như:
STT Xã Số lượng trẻ khuyết tật
1 Vĩnh Hòa 14
2 Vĩnh Hiền 23
3 Vĩnh Mốc 32
4 Vĩnh Trung 28

chân, một mắt của em bị mờ.
Đây là nguyên nhân chính khiến cho số lượng trẻ khuyết tật ở Vĩnh Linh ngày càng
tăng. Mặc dù đã có những dự án về rà phá bom mìn ( Dự án RENEW), các hình thực tuyên
truyền về bom mìn trong cộng đồng đã thực sự tốt thế nhưng tuy việc khắc phục bom mìn
vẫn còn những khó khăn và sự bất cẩn của cha mẹ, sự đùa nghịch của các em khiến cho tại
nạn vẫn xảy ra.
Những em bị tai nạn bom mìn thường bị khuyết tật về vận động. Có em bị mất tay,
mất chân, có em còn nặng hơn nên rất khó khăn trong sinh hoạt. Cuộc sống của các em có
nhiều thay đổi theo chiều hướng tiêu cực. Nếu các em không bị tai nạn bom mìn thì các em
vẫn đến trường như bao bạn bè khác…
2.3. Nguyên nhân khác.
Ngoài 2 nguyên nhân chính khiến cho số lượng trẻ khuyết tật tăng thì còn có những
nguyên nhân khác dẫn đến trẻ bị khuyết tật như một số bậc cha mẹ chưa có kiến thức trong
việc chăm sóc thai nhi và chăm sóc khi con đang lớn.
SVTH: Nguyễn Hoàng Phương Linh Page 11
Lớp LCĐ2. CT3
Thực trạng giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật tại huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị.
GVHD: ThS. Lê Thị Dung
Ở Vĩnh Linh thì phần lớn các gia đình đều làm nông nghiệp, bởi vậy, cha mẹ ít quan
tâm đến con cái. Những gia đình nào có điều kiện thì cho con đến trường. Còn không thì các
em ở nhà cùng chơi với nhau. Chị em trong gia đình có độ tuổi chênh nhau khoảng 2- 3 tuổi
nên các em vẫn còn thiếu kinh nghiệm trong việc chăm sóc em. Trẻ vốn còn nhỏ nên không
thể biết được khi thế nào là nguy hiểm. Nếu bất cẩn thì tai nạn rất dễ xảy ra với trẻ, nhất là
độ tuổi từ 3 đến 5 tuổi như tai nạn sông nước, bỏng, điện giật Ở những lứa tuổi học cấp 1,
cấp 2 thì trẻ còn hiếu động, ham đùa nghịch nếu không được dặn dò của bố mẹ thì cũng dễ
sơ ý gặp tai nạn.
3. Thực trạng ảnh hưởng đến giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật ở Vĩnh Linh.
Mặc dù trẻ bị khuyết tật khác nhau nhưng đều có đặc điểm chung là các dạng tật đó
làm trẻ khó khăn trong sinh hoạt hàng ngày. Mối quan hệ của trẻ bị thu hẹp do không nói
được, không hiểu được người khác nói, không đi lại được…và do trong cộng đồng vẫn có

Phần lớn những em được giáo dục hòa nhập là những em bị khuyết tật vận động nên
vấn đề tiếp thu kiến thức của các em không bị hạn chế, các em được học những chương trình
như các bạn khác trong lớp, các em chỉ hạn chế trong việc đi lại, sinh hoạt mà thôi. Có
những em còn được bạn chở đến trường. Sự kỳ thị ban đầu của các bạn trong lớp sẽ dần dần
được xóa bỏ cùng với sự hòa nhập của các em.
Ở cấp mầm non thì có 3 em bị thiểu năng trí tuệ được đến trường. Mức độ dạng tật
của em còn nhẹ. Các em được học cùng với các bạn, được học hát, học vẽ, xếp hình. Phần
lớn các cô giáo có sự quan tâm đặc biệt đến các em hơn trong việc giảng dạy. Các em tiếp
thu còn chậm hơn so với các bạn khác. Các em được học thực hành về kỹ năng sinh hoạt
chăm sóc bản thân. Lúc đầu các em còn khó khăn trong việc thực hành như việc dùng bàn
chải đánh răng vệ sinh răng miệng. Nhưng sau khi được sự hướng dẫn tận tình của cô giáo
nhiều lần thì các em đã có thể tự mình đánh răng. Qua lớp học mầm non thì các em được học
những kỹ năng sinh hoạt hàng ngày rất bổ ích cho các em, các em tự mình làm những công
việc đơn giản nhất mà không cần sự giúp đỡ của người khác.
Quá trình giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật ở Vĩnh Linh cũng đã một số thành
công nhất định. Các em đã thực sự được hòa nhập với môi trường xã hội. Các em không còn
mặc cảm, tự ti mình là người khuyết tật.
Trên đây là thực trạng giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật trên địa bàn huyện Vĩnh Linh.
Nhìn chung thì đây là những con số đáng mừng cho việc thực hiện giáo dục hòa nhập cho trẻ
khuyết tật ở Vĩnh Linh. Giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật không chỉ mang lại lợi ích cho trẻ
khuyết tật, gia đình trẻ khuyết tật mà còn cho cả cộng đồng.
SVTH: Nguyễn Hoàng Phương Linh Page 13
Lớp LCĐ2. CT3
Thực trạng giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật tại huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị.
GVHD: ThS. Lê Thị Dung
Tuy nhiên, bên cạnh đó, địa phương cần có những chính sách để hỗ trợ cho những gia
đình có trẻ khuyết tật, tạo điều kiện thuận lợi để các em được đến trường. Con số 32 em
khuyết tật được đến trường sẽ còn tăng lên, làm sao để đạt được 75% trẻ khuyết tật được đến
trường vào năm 2010 như mục tiêu của chiến lược giáo dục.
5. Những thuận lợi và khó khăn trong giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật tại Vĩnh Linh.

Phần lớn trẻ khuyết tật ở Vĩnh Linh là con của các gia đình nghèo nên bố mẹ các em
cũng không có kinh phí để phục hồi chức năng cho các em. Họ chỉ mong vào sự hỗ trợ của
các cơ quan ban ngành, của những tấm lòng tự thiện trong cộng đồng.
Cộng đồng chưa nhận thức đầy đủ về vai trò và trách nhiệm của xã hội trong việc
giáo dục trẻ khuyết tật và về khả năng phát triển của trẻ khuyết tật khi được giáo dục, trong
đó có cả cha mẹ, cán bộ giáo dục và giáo viên của các trường.
Đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên dạy trẻ khuyết tật chưa được đào tạo, bồi dưỡng
đủ về số lượng và chất lượng để đáp ứng nhu cầu đi học ngày càng tăng của trẻ khuyết tật.
Hầu hết đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục các cấp chưa được bồi dưỡng kiến thức về giáo dục
trẻ khuyết tật và quản lý chuyên môn trong trường trẻ khuyết tật học hòa nhập.
=> Trên đây là những thuận lợi, khăn trong công tác giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật
tại Vĩnh Linh. Qua việc đánh giá này để rút ra những kinh nghiệm trong công tác tổ chức
cũng như phát huy những mặt tích cực, khắc phục những hạn chế để việc triển khai các hoạt
động hỗ trợ trẻ khuyết tật hòa nhập cộng đồng được tốt hơn.
Với sự nỗ lực của bản thân trẻ khuyết tật, gia đình trẻ, các cơ quan đoàn thể và cộng
đồng thì công tác giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật sẽ đạt những kết quả khả quan hơn. Con
số phần trăm trẻ khuyết tật được giáo dục hòa nhập sẽ tăng lên hàng năm. Trẻ khuyết tật sẽ
là những người “ tàn nhưng không phế” trong xã hội.
PHẦN III. PHẦN KẾT LUẬN.
I. KIẾN NGHỊ.
1. Với trường học ở Vĩnh Linh.
Trường học chính là môi trường thuận lợi nhất cho việc giáo dục hòa nhập trẻ khuyết
tật. Bởi vậy, Nhà trường cần phải có những mục tiêu, những hoạt động hỗ trợ hợp lí để trẻ
SVTH: Nguyễn Hoàng Phương Linh Page 15
Lớp LCĐ2. CT3
Thực trạng giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật tại huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị.
GVHD: ThS. Lê Thị Dung
khuyết tật thực sự hòa nhập tốt trong môi trường được giáo dục đó. Để làm được điều này thì
Sinh viên xin có một số kiến nghị đưa ra để các trường học ở mọi cấp học trên đại bàn huyện
Vĩnh Linh trong công tác giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật như sau:

được kiến thức nhiều hơn vì hình thức học này phù hợp đặc điểm nhận thức của trẻ khuyết
tật và giúp các em dễ tiếp thu kiến thức hơn
Đẩy mạnh công tác phối hợp giữa nhà trường và phụ huynh trong việc chăm sóc và
giáo dục trẻ bằng các việc làm cụ thể như cung cấp chương trình, tài liệu cho phụ huynh
nghiên cứu, tổ chức tập huấn, nâng cao nhận thức, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng hỗ trợ trẻ ở nhà,
thường xuyên trao đổi thông tin về trẻ với phụ huynh thông qua hình thức gặp gỡ trực tiếp,
sổ liên lạc, điện thoại
Tạo điều kiện cho trẻ thường xuyên được giao lưu với các bạn thông qua các hoạt
động học tập, vui chơi sinh động, hấp dẫn trong các buổi giao lưu nhằm tăng cường sự hiểu
biết, nâng cao kĩ năng sống, kĩ năng xã hội, khả năng hoà nhập ở trẻ khuyết tật.
Cho trẻ thường xuyên được đi thăm quan các danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử
theo chủ đề có trong chương trình nhằm mở rộng vốn hiểu biết của trẻ về thiên nhiên, xã
hội
2. Với gia đình trẻ khuyết tật.
Gia đình là nơi trẻ được quan tâm, yêu thương. Và sự quan tâm yêu thương của cha
mẹ còn thể hiện cả trong việc cha mẹ muốn con được hòa nhập cộng đồng. Bởi khi hòa nhập
cộng đồng thì con mới thực sự là người có ích, con sẽ cảm thấy mình không phải là người
thừa, mình cũng có thể làm được những việc như bao bạn bè khác.
Hiện nay, ở Vĩnh Linh, nhận thức của cha mẹ trong gia đình có con khuyết tật đã
được nâng cao hơn. Họ đã biết đến những lợi ích của việc giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết
tật. Vì vây, số lượng trẻ khuyết tật được đến trường đã tăng lên (phần lớn là trẻ khuyết tật
vận động)
Ngoài những gia đình đã đưa con em đến trường để được hòa nhập thì những bậc cha
mẹ khác cần nhận thức được lợi ích và tầm quan trọng của việc giáo dục hòa nhập cho con
em mình, tạo điều kiện thuận lợi nhất để các em được đến trường, học tập với các bạn bè
bình thường khác. Thời gian đầu đến trường, các em có thể bị bạn bè trêu chọc khiến các em
không muốn đến trường thì lúc này cha mẹ cần động viên, khuyến khích các em
SVTH: Nguyễn Hoàng Phương Linh Page 17
Lớp LCĐ2. CT3
Thực trạng giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật tại huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị.

SVTH: Nguyễn Hoàng Phương Linh Page 18
Lớp LCĐ2. CT3
Thực trạng giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật tại huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị.
GVHD: ThS. Lê Thị Dung
Vai trò của các cơ quan liên quan đến trẻ khuyết tật là rất quan trọng. Việc triển khai
thực hiện các chính sách, hoạt động liên quan đến trẻ khuyết tật sẽ giúp quá trình hỗ trợ trẻ
khuyết tật được giáo dục hòa nhập được tốt hơn. Sự kết hợp từ trên xuống dưới chặt chẽ, cần
có sự chỉ đạo theo dõi sát sao công tác thực hiện giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật. Có
đánh giá 6 tháng/1 lần để theo dõi tình hình giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật như thế
nào, những mặt nào đã đạt được, những mặt nào còn hạn chế để khắc phục…
Hiện nay ở địa bàn Huyện chưa có câu lạc bộ của những gia đình có con khuyết tật,
theo Sinh viên thì Phòng lao động thương binh xã hội Huyện nên tổ chức câu lạc bộ này để
những gia đình có con khuyết tật sẽ được tập huấn những kỹ năng, kiến thức trong việc
chăm sóc con cái, biết được những chính sách của Nhà nước về hỗ trợ trẻ khuyết tật, là nơi
các gia đình chia sẻ những kinh nghiệm trong việc chăm sóc con, xóa bỏ mặc cảm có con
khuyết tật…
Bên cạnh đó các tổ chức cần lên danh sách những gia đình có trẻ khuyết tật có hoàn
cảnh khó khăn để có những chính sách hỗ trợ kịp thời để họ không rơi vào cảnh túng quẫn,
không chăm sóc được con cái.
Đồng thời cần tuyên truyền sâu rộng hơn nữa về những nguyên nhân gây ra khuyết tật
để các gia đình khuyên bảo, dặn dò, chăm sóc con em tránh xa những nguyên nhân có thể
dẫn đến khuyết tật như dán pano, phát tờ rơi về tai nạn bom mìn, những hình ảnh về tai nạn
sông nước…
=> Để quá trình giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật đạt thành công thì sự kết hợp
giữa gia đình, Nhà trường và cộng đồng là rất cần thiết. Mối quan hệ này chính là điều kiện
thiết yếu để trẻ khuyết tật được đến trường, được hòa nhập. Bởi vậy, mỗi cá nhân cần phát
huy hết vai trò của mình trong việc thực hiện các hoạt động giáo dục hòa nhập cho trẻ
khuyết tật, để làm sao trẻ khuyết tật nào cũng được đến trường, được hòa nhập với cộng
đồng.
II. KẾT LUẬN.

SVTH: Nguyễn Hoàng Phương Linh Page 20
Lớp LCĐ2. CT3
Thực trạng giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật tại huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị.
GVHD: ThS. Lê Thị Dung
2. Báo quân đội nhân dân online, ngày 16/6/2006.
3. Website
4. Pháp lệnh người tàn tật, số 06/1998/PL- UBTVQH
5. Luật người khuyết tật dự thảo lần 5, Quốc hội khóa 12.
SVTH: Nguyễn Hoàng Phương Linh Page 21
Lớp LCĐ2. CT3


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status