NHỮNG CĂN CỨ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA CHÍNH SÁCH CÔNG VỀ MÔ HÌNH NÔNG THÔN MỚI - Pdf 33

NHỮNG CĂN CỨ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA CHÍNH SÁCH CÔNG
VỀ MÔ HÌNH NÔNG THÔN MỚI
1.1. c¸c khung khæ lý thuyÕt vÒ chÝnh s¸ch c«ng
1.1.1. Quan niệm về chính sách công
Có nhiều định nghĩa khác nhau về “chính sách công”. Nhà kinh tế học Anh
(Frank Ellis) cho rằng: Không có một định nghĩa duy nhất về thuật ngữ “chính
sách công” phù hợp với tất cả mọi người. Cách hiểu thông thuờng được nói đến
nhiều nhất: Chính sách (Politique) là các chủ trương và các biện pháp của một
đảng phái hoặc chính phủ trong các lĩnh vực chính trị - kinh tế - xã hội; là sách
lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định.
Tuy vậy, có rất nhiều cách cắt nghĩa. Frank Ellis cho rằng chính sách là “nghệ
thuật của Chính phủ” tạo ra các điều chỉnh và sự can thiệp cần thiết. Chính sách
công ngụ ý sự can thiệp của Nhà nước vào xã hội. Từ đó ông nêu ra định nghĩa:
“Chính sách được xác định như là đường lối hành động mà Chính phủ lựa chọn đối
với một lĩnh vực của nền kinh tế, kể cả các mục tiêu mà Chính phủ tìm kiếm và sự
lựa chọn các phương pháp để theo đuổi mục tiêu đó” [10, tr.121].
E. Anlerson cho rằng chính quyền là cơ quan thực hiện sự uỷ quyền của
dân, thực hiện ý chí của mọi người. Vì thế nó là một thể chế công cộng điển
hình nhất, hoạt động của nó là hoạt động công cộng vì lợi ích công cộng. Chính
quyền có khả năng huy động nguồn lực của toàn xã hội và tác động đến các bộ
phận của xã hội với những mục đích nhất định. Những tác động này được gọi là
chính sách. E. Anlerson cho rằng hoạt động của chính quyền là chính sách công.
Từ đây, ông định nghĩa: "Chính sách công là những hoạt động mà chính quyền
chọn làm và không làm" [10, tr.122].
Nhiều quan điểm cho rằng chính sách công là một chuỗi các hoạt động
nhằm trong một hệ thống với một trật tự xác định. Hệ thống này có mục tiêu dài
hạn hay ngắn hạn, được xây dựng trên cơ sở pháp lý và loại trừ các yếu tố ngẫu


nhiên. Như vậy chính sách công là hệ thống hoạt động có tính toán và mục tiêu
của chính quyền tác động đến cuộc sống của người dân.

Đối với Việt Nam, chính sách là các quan điểm, cách thức, biện pháp của Nhà
nước nhằm cụ thể hoá đường lối của Đảng tác động đến các lĩnh vực trong đời sống
xã hội nhằm đạt được mục tiêu trong mỗi thời kỳ khác nhau. Nhiều trường hợp chủ
trương đường lối, nghị quyết của Đảng cũng được coi là chính sách. Như vậy, chính
sách công bao hàm các vấn đề rất cơ bản như sau:
Thứ nhất, chính sách công là các “chương trình” bao gồm các mục tiêu và biện
pháp liên quan với nhau, phụ thuộc lẫn nhau, được luận giải khoa học. Điều đó giúp
phân biệt chính sách với các quyết định nhất thời mang tính chất tình thế.
Thứ hai, “Tính định hướng đích, cụ thể” của chính sách công phân biệt được
rõ giữa định hướng, chính sách và biện pháp theo mức độ cụ thể hoá.
Thứ ba, “Tính hợp pháp” của chủ thể ra chính sách (Nhà nước) từ đó khẳng
định khả năng cưỡng chế của bộ máy quyền lực. Nó là tiêu chí chính thể hiện sự
khác biệt giữa chính sách công với các chính sách của các tổ chức trong khu vực tư
nhân hay của các đảng, đoàn thể xã hội vốn là những chủ thể không nắm quyền lực
công cộng mặc dù có ảnh hưởng nhất định đến quyền lực đó.
Thứ tư, " tính hệ thống", " tính lịch sử",các chính sách luôn luôn phụ thuộc
nhiều,chính sách liên quan, chế tài bởi các văn bản quy phạm pháp luật, các chính
sách có thời hiệu trong một thời gian, không gian nhất định.
Thứ năm, chính sách phụ thuộc vào bộ máy, cơ chế, cán bộ nhằm hoạch định, chỉ
đạo thực hiện chính sách hiệu quả. Bộ máy gọn nhẹ, minh bạch, không chồng chéo,
cơ chế phối hợp rõ ràng, triển khai chính sách thuận lợi hơn.
Thứ sáu, chính sách phụ thuộc vào tính đúng đắn của chính sách. sự chỉ đạo
vận dụng vào thực tiễn từng địa phương. Nhiều chính sách do chủ quan, nóng vội
hoặc không thực tiễn, sẽ khó thực hiện.
1.1.2. Chính sách công ở Trung ương và địa phương
Để nghiên cứu chính sách công, chúng ta có thể phân loại chúng. Có thể phân
loại theo các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, đối ngoại, an ninh, quốc
phòng…Cũng có thể phân loại theo thời gian: Ngắn hạn hoặc dài hạn; phân loại
theo hiệu quả, phân loại theo phương pháp triển khai, như chính sách phân bổ,




nhà nước và xã hội; chính sách giáo dục đào tạo, xây dựng nguồn lực con người,
trong đó đặc biệt là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý và đội ngũ những nhà khoa
học, đội ngũ lao động có trình độ công nghệ cao, có khả năng tạo ra các sản phẩm
có hàm lượng trí tuệ cao; các chính sách xoá đói giảm nghèo, thực hiện công bằng
xã hội, chính sách bình đẳng giới, bình đẳng cùng phát triển đối với các dân tộc
thiểu số…
Ngoài ra, còn nhiều chính sách liên quan đến an ninh quốc phòng, chính sách
tôn giáo, dân tộc, đối ngoại, chính sách trực tiếp giải quyết những vấn đề của một
địa phương hoặc giải quyết mối quan hệ phân cấp, phân quyền giữa Trung ương và
địa phương.
Tuy vậy, chính sách của Trung ương không thể bao quát hết các vấn đề cụ thể,
độc đáo của từng địa phương. Chính quyền từng địa phương cần cụ thể hoá các
chính sách của Trung ương phù hợp với đặc điểm, nguồn lực và phương thức thực
hiện của địa phương mình. Ngoài ra, mỗi địa phương còn có nhu cầu riêng không
phản ánh trong chính sách của Trung ương. Nếu không có chính sách địa phương
thì không thực hiện được chính sách của Trung ương và không thể giải quyết đầy
đủ những vấn đề của từng địa phương. Vì vậy, chính sách công của bất kỳ nước
nào cũng là tổng thể các chính sách của Nhà nước Trung ương và chính quyền địa
phương.
Nước ta là một nước nông nghiệp đang trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH,
chính sách nông nghiệp và phát triển nông thôn có vị trí quan trọng hàng đầu.
Chính sách nông nghiệp và nông thôn của Trung ương trực tiếp liên quan đến hầu
hết các địa phương. Hơn bất kỳ một chính sách nào, việc thực hiện chính sách
nông nghiệp và nông thôn phụ thuộc nhiều vào quá trình triển khai, thực hiện ở các
địa phương và cơ sở, chúng đòi hỏi phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa chính sách
Trung ương và chính sách địa phương.
1.1.3. Chu trình chính sách công
Khái niệm

văn bản qua hệ thống chính quyền, truyền thông đại chúng, các nghiên cứu khoa
học, vận động hành lang, gây áp lực và kênh thu thập thông tin chính thức của hệ
thống hoạch định chính sách…Vấn đề đặt ra ở đây là cho dù một vấn đề xã hội


thực sự bức xúc hoặc một sáng kiến chính sách rất tốt, nhưng nếu không có cách
nào đưa vào được nghị trình chính sách thì sẽ không thể trở thành chính sách được.
Đây là quá trình thực thi quyền lực chính trị và quyền lực Nhà nước rất phức tạp
thông qua hệ thống chính trị và hệ thống xã hội, mà kết quả phụ thuộc rất nhiều
vào năng lực chủ quan của các lực lượng chính trị - xã hội, của các nhà hoạch định
chính sách.
Bước 2: Xây dựng và ban hành chính sách
Từ tất cả các thông tin, hệ thống hoạch định phải xác định cho được vấn đề
nào cần đặt lên chương trình nghị sự. Để có kết quả đó, người hoạch định chính
sách cần sử dụng ba công cụ chủ yếu:
- Tầm nhìn.
- Nguồn lực được sử dụng.
- Lợi ích và thiệt hại tiềm năng của các bên liên quan.
Trên cơ sở đó, cơ quan hoạch định chính sách tiến hành các bước:
- Thu thập, phân tích thông tin.
- Phát triển các phương án giải quyết vấn đề.
- Xây dựng liên minh chính trị.
- Đàm phán, thoả hiệp và thông qua chính sách.
- Các vấn đề chính trị trong quá trình ra quyết định chính sách.
Bước 3: Triển khai chính sách
- Nguồn lực cho chính sách.
- Chủ thể triển khai: trong và ngoài chính phủ, đối tượng chịu tác động của
chính sách.
- Diễn giải chính sách: Các vấn đề về cưỡng chế và khuyến khích việc thực
thi chính sách

quyền Trung ương, mang nét đặc trưng riêng; cùng với sự thay đổi của các triều
đại trị vì trong lịch sử mà tên gọi của làng có khác nhau: “làng” còn gọi là "thôn"
hoặc "làng xã", cũng có khi làng cũng chính là "xã".


Theo PGS,TSKH.Phan Xuân Sơn: Trong lịch sử, đơn vị "xã", có nơi là "làng
-xã" một đơn vị quần cư- hành chính có từ lâu đời trong kết cấu nông thôn Việt
Nam [39, tr.43].
Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của làng- xã, những đặc điểm kinh
tế, văn hoá, xã hội của nó là những yếu tố đặc biệt quan trọng quyết định đến sự
nghiệp dân chủ hoá cấp cơ sở nói riêng và sự phát triển nông nghiệp, nông thôn nói
chung.
Làng - xã là một cộng đồng địa vực, có ranh giới lãnh thổ tự nhiên và hành
chính xác định. Làng là một đơn vị tự cấp, tự túc về kinh tế. Làng xã vừa có ruộng,
có nghề, có chợ tạo thành một không gian khép kín thống nhất. Làng - xã là một
cộng đồng tương đối độc lập về phong tục tập quán văn hoá. Làng- xã còn là một
đơn vị tự trị về chính trị.
Ngày nay, khái niệm “nông thôn” đã mở rộng nội hàm so với “làng”, “bao
gồm cả những thị trấn mà sự tồn tại và phát triển của nó phụ thuộc vào nông
nghiệp, gắn với nông thôn và bảo đảm các dịch vụ cần thiết cho dân cư ở nông
thôn”.
Tuy hiện nay chưa có định nghĩa có tính kinh điển để phân biệt nông thôn và
thành thị nhưng có thể hiểu những đặc trưng cơ bản của nông thôn so với thành thị
ở những tiêu chí sau:
Thứ nhất, về cơ cấu kinh tế, hoạt động cơ bản - nhất là trong điều kiện công
nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn còn thấp thì nông nghiệp là ngành kinh tế cơ
bản. Hoạt động công nghiệp, dịch vụ vừa hình thành và phát triển độc lập vừa liên
quan chặt chẽ, cùng hướng tới phục vụ cho nông nghiệp và dân cư nông thôn.
Thứ hai, cơ cấu dân cư, lao động nông nghiệp còn chiếm đa số.
Thứ ba, thiết chế, quy chế, quy ước, hương ước gắn liền với từng làng, từng

thống trị thực dân phong kiến và xác lập chế độ dân chủ cộng hoà, giành lại độc
lập chủ quyền và xây dựng chính quyền thực sự của dân, do dân làm chủ.
Trong kháng chiến chống Mỹ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, làng
xã, nông thôn Việt Nam phát huy tối đa vai trò hậu phương, đóng góp sức người,


sức của cho sự nghiệp Cách mạng. Nông thôn từng là pháo đài chiến luỹ, quân với
dân tay súng tay cày cùng đánh giặc; khắp nông thôn miền Bắc dấy lên phong trào
“tất cả vì miền Nam ruột thịt”; “thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một
người”. Hoà bình lập lại trên miền Bắc, phong trào hợp tác hoá nông nghiệp với
tinh thần “hợp tác xã là nhà, xã viên là chủ”, hầu như khắp các làng xã của nông
thôn đóng góp sức người, thậm chí cả xương máu, lôi cuốn toàn bộ tinh thần và nỗ
lực của dân tộc cho sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, giải phóng miền Nam. “Không
có phong trào tập thể hoá và hợp tác xã nông nghiệp, không có hy sinh to lớn của
cả cộng đồng, trong đó có mấy chục triệu nông dân ở nông thôn chúng ta không
thể giành chiến thắng mà nhờ đó dân tộc ta đứng vào hàng ngũ các dân tộc tiên
phong chống chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân vì độc lập dân tộc và chủ
nghĩa xã hội” [3, tr.104]. Đó cũng chính là đóng góp to lớn của nông dân, nông
nghiệp và nông thôn miền Bắc thời kỳ tập thể hoá và xây dựng hợp tác xã nông
nghiệp.
Từ đó đến nay, nhiều mô hình sản xuất kinh doanh, xây dựng đời sống văn
hoá ở nông thôn thực sự là điển hình trở thành pháo đài xã hội chủ nghĩa trong
nông nghiệp, nông thôn như: xã Duy Sơn, nông trường Lam Sơn, nông trường
Sông Hậu,… không chỉ đem lại cuộc sống tốt đẹp cho hàng triệu con người mà còn
đóng góp cho cả nước một số bài học kinh nghiệm, chứng minh và làm rõ hơn sự
đúng đắn trong chủ trương, đường lối của Đảng.
Tóm lại, sau năm 1975 và 20 năm đổi mới, nông dân, nông nghiệp và nông
thôn Việt Nam đã góp phần quan trọng vào việc đưa nước ta ra khỏi tình trạng
khủng hoảng kinh tế - xã hội và nâng cao đời sống nhân dân. Chiến lược phát triển
kinh tế - xã hội 2001- 2010 thông qua tại Đại hội IX và đến Đại hội X vẫn tiếp tục

kinh tế nông thôn.
Hai là, nông thôn đáp ứng yêu cầu đô thị hoá để chuẩn bị những điều kiện vật
chất và tinh thần giúp nông dân làm ăn sinh sống và trở nên thịnh vượng ngay trên
mảnh đất mà họ đã gắn bó từ ngàn đời. Trước hết, tạo cho người dân điều kiện


chuyển đổi lối sống và canh tác tự cung tự cấp, thuần nông (cổ truyền) sang điều
kiện sản xuất hàng hoá, đa dạng hoá cơ cấu kinh tế nông thôn gắn với công nghiệp,
dịch vụ, du lịch; để người nông dân “ly nông bất ly hương”.
Ba là, nông thôn khai thác hợp lý và nuôi dưỡng các nguồn lực về sinh thái
cho thế hệ ngày nay và mai sau; có mức tăng trưởng kinh tế cao và bền vững, có
môi trường sinh thái được giữ gìn, tiềm năng du lịch được khai thác, khôi phục
làng nghề truyền thống, làng nghề tiểu thủ công nghiệp. Vận dụng các công nghệ
cao về quản lý, sinh học để kinh tế nông nghiệp, nông thôn đạt hiệu quả. Cơ cấu
kinh tế nông nghiệp phát triển hài hoà, hội nhập địa phương, khu vực, cả nước và
quốc tế.
Bốn là, dân chủ nông thôn mở rộng và đi vào thực chất; các chủ thể nông
thôn (lao động nông thôn, chủ trang trại, hộ nông dân, các tổ chức phi chính
phủ, Nhà nước, tư nhân,...) tham gia tích cực trong mọi quá trình ra quyết định
về chính sách phát triển nông thôn; thông tin minh bạch, thông suốt và hiệu
quả giữa các tác nhân có liên quan; phân phối công bằng. Người nông dân thực
sự “được tự do và quyết định trên luống cày và thửa ruộng của mình”, lựa chọn
phương án sản xuất kinh doanh làm giàu cho mình, cho quê hương theo đúng
chủ trương đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Năm là, nông dân, nông thôn có văn hoá phát triển, trí tuệ được nâng lên, sức
lao động được giải phóng, nhiệt tình cách mạng được phát huy. Đó chính là sức
mạnh nội sinh của làng trong công cuộc xây dựng nông thôn mới hôm nay. Người
dân có cuộc sống ổn định, giàu có, trình độ văn hoá, khoa học kỹ thuật và tay nghề
cao, lối sống văn minh hiện đại nhưng vẫn giữ gìn những giá trị văn hoá, bản sắc
truyền thống, “tối lửa tắt đèn có nhau”, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, tham

dõn s trờn ton quc v tớnh t chc ca h m ch giai cp vụ sn c s
ng h ca giai cp nụng dõn [13, tr.6].
Ch tch H Chớ Minh luụn quan tõm v cao vn nụng dõn, nụng
nghip, nụng thụn trong s nghip cỏch mng: Phỏt trin nụng nghip l vic cc


k quan trng. Mun phỏt trin cụng nghip, phỏt trin kinh t núi chung phi ly
phỏt trin nụng nghip lm gc, lm chớnh. Nu khụng phỏt trin nụng nghip thỡ
khụng cú c s tiờu th hng hoỏ ca cụng nghip lm ra [37, tr.180].
1.2.2. Sự phát triển quan điểm và quá trình đổi mới chính sách phát triển
nông nghiệp, nông thôn của Đảng Cộng sản Việt Nam
Ngay trong cơng lĩnh chính trị đầu tiên (1930), Đảng ta đã khẳng định vai trò
của nông dân trong cách mạng nớc ta. Qua mỗi một giai đoạn cách mạng quan
điểm, đờng lối của Đảng về vấn đề này cũng đợc cụ thể hoá, thay đổi, phát triển
đáp ứng đợc những yêu cầu của thực tiễn đề ra. Sau năm 1954, trong khôi phục
kinh tế, Đảng rất quan tâm đến sản xuất nông nghiệp, sản xuất lơng thực. Quan
điểm Nghị quyết TW 8 khoá II (8-1955): Phải nhận thc đầy đủ và sâu sắc về tính
chất trọng yếu của sản xuất nông nghiệp đối với cả nền kinh tế nớc ta hiện nay và
sau này. Về sau, tiếp tục tinh thần đó, Đại hội V (1982) chỉ rõ: Cần tập trung
phát triển nông nghiệp, coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu.
Trong 20 nm i mi va qua (1986 - 2006), ng v Nh nc ta ó cú
nhiu ch trng, chớnh sỏch khuyn khớch phỏt trin nụng nghip v kinh t nụng
thụn theo hng sn xut hng hoỏ gn vi th trng. Nhng ch trng, chớnh
sỏch ú l s c th hoỏ quan im, ng li i mi theo tinh thn i hi VI
ca ng (1986). T duy kinh t i vi phỏt trin nụng nghip ca ng ti i
hi VI l: B trớ li c cu sn xut, b trớ li c cu u t, tp trung thc hin
cho c ba chng trỡnh mc tiờu v lng thc - thc phm, hng tiờu dựng,
hng xut khu [12, tr.47]. Cỏc chng trỡnh ú l s c th hoỏ ni dung chớnh
ca cụng nghip hoỏ xó hi ch ngha trong chng ng u tiờn[12, tr.48].
Mc dự vy, trong nhng nm 1987, 1988 din bin tỡnh hỡnh vn cha my

phát triển nhanh và vững chắc nông, lâm, ngư nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ
công nghiệp và dịch vụ nông thôn, nâng cao chất lượng sản phẩm và hiệu quả
kinh doanh mà thu hút đại bộ phận lao động dư thừa, tăng năng suất lao động xã
hội, giải quyết việc làm, tăng thu nhập, cải thiện đời sống nông dân.


Trên cơ sở xúc tiến công nghiệp hoá nói chung, công nghiệp hoá nông
nghiệp, nông thôn nói riêng mà thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn
theo hướng phát triển mạnh, vững chắc, có hiệu quả. Đối với công nghiệp, dịch
vụ ở nông thôn, phương hướng chung là tăng nhanh tỷ trọng những ngành này
trong cơ cấu kinh tế và lao động nông thôn, đa dạng hoá ngành nghề và dịch vụ
phi nông nghiệp, phấn đấu đến năm 2010 đạt cơ cấu 15-16% nông nghiệp, 4344% công nghiệp - xây dựng và 40-41% dịch vụ.
Về chính sách tài chính, NQTW5 chỉ rõ: Nhà nước giành phần đầu tư thoả
đáng từ ngân sách; đồng thời có chính sách và hình thức huy động nguồn đầu tư
của các thành phần kinh tế khác cho xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn. Thay
thuế nông nghiệp bằng thuế sử dụng đất, dành toàn bộ nguồn thu từ thuế sử
dụng đất đầu tư trở lại cho nông nghiệp và kết cấu hạ tầng nông thôn, giảm giá
thuỷ lợi phí và giá điện nông thôn...
Tháng 7/1993, tại kỳ họp thứ 3 Quốc hội khoá IX thông qua, Luật Đất đai
với nhiều nội dung mới, trong đó có nội dung quan trọng là Nhà nước giao
quyền sử dụng ruộng đất lâu dài cho hộ gia đình và cá nhân sử dụng với 5
quyền: Chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế và thế chấp. Luật thuế sử
dụng đất nông nghiệp ra đời với thuế suất thấp hơn thuế nông nghiệp đã góp
phần giảm đóng góp của nông dân và khuyến khích hộ gia đình sử dụng đất
nông nghiệp có hiệu quả hơn.
Thực hiện đường lối của Đảng, Nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ đã ban
hành Nghị định 64 về giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn
định, lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp; về thuế sử dụng đất nông
nghiệp (NĐ74/CP) và nhiều chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp và
kinh tế nông thôn.

rộng thị trường...
Tháng 11/1998, Bộ Chính trị tiếp tục ra Nghị quyết 06 về một số vấn đề
nông nghiệp, kinh tế nông thôn đã mở ra những cơ chế và chính sách mới, thông
thoáng hơn để giải phóng mạnh mẽ sức sản xuất, nhất là tiềm lực về đất đai,
rừng, biển và lao động nông thôn. Nghị quyết 06 khẳng định vai trò, vị trí quan


trọng của nông nghiệp, nông thôn, nông dân trong giai đoạn đẩy mạnh CNH,
HĐH và những thập kỷ đầu thế kỷ XXI; lần đầu tiên, thừa nhận kinh tế trang
trại, tạo điều kiện cho các ngành, các địa phương và các chủ trang trại yên tâm
đầu tư phát triển sản xuất hàng hoá, làm giàu chính đáng.
Trên cơ sở Nghị quyết 06, Nhà nước đã ban hành một số chính sách mới
khuyến khích phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng CNH,
HĐH. Nghị quyết 03 của Chính phủ về kinh tế trang trại (2/2000) là cơ sở pháp
lý để các ngành, các cấp đề ra chủ trương, giải pháp phát triển kinh tế trang trại
đúng hướng, hiệu quả.
Trong tình hình thị trường và giá cả nông sản không ổn định, Chính phủ đã
đề ra chính sách kinh tế, tài chính hỗ trợ sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông
thôn phát triển nhanh và vững chắc. Đặc biệt, Nghị quyết 09/NQ-CP ngày 15
tháng 6 năm 2000 của Chính phủ cho phép chuyển một phần diện tích trồng lúa
hiệu quả thấp sang nuôi trồng thuỷ sản và kinh doanh nông sản phi lương thực
đã thúc đẩy nhanh chóng việc mở rộng diện tích nuôi trồng thuỷ sản.
Bước sang thế kỷ XXI, Đại hội IX của Đảng với nhiệm vụ trọng tâm là
tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh CNH, HĐH vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã
hội công bằng, dân chủ, văn minh đã quyết định đường lối, chiến lược phát
triển kinh tế - xã hội nước ta 10 năm (2001 - 2010), trong đó tiếp tục giành sự
quan tâm đặc biệt đến lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn: “Đẩy nhanh CNH,
HĐH nông nghiệp và nông thôn theo hướng hình thành nền nông nghiệp hàng
hoá lớn phù hợp với nhu cầu thị trường và điều kiện sinh thái của từng vùng,
chuyển dịch cơ cấu ngành nghề, cơ cấu lao động, tạo việc làm thu hút nhiều

gia mà hằng năm còn xuất khẩu gạo với số lượng lớn. Nhiều loại nông sản phi
lương thực có mức tăng trưởng cao. Nhiều loại nông sản xuất khẩu đã chiếm thị
phần đáng kể trên thị trường thế giới. Nước ta đã đứng đầu thế giới về xuất khẩu
hồ tiêu, đứng thứ hai thế giới về xuất khẩu cafê và hạt điều. Nước ta cũng trở
thành nước xuất khẩu quan trọng trên thế giới về cao su thiên nhiên, thuỷ sản.
Trong 10 năm (1996-2005) nước ta đã xuất khẩu 38,3 triệu tấn gạo với kim
ngạch 8,803 tỷ USD, gấp 4,47 lần kim ngạch xuất khẩu gạo 5 năm (1991-1995).


Chăn nuôi cũng có mức tăng trưởng khá. Đàn bò từ 3,8 triệu con (1996) lên
5,2 triệu con (2005), đàn lợn từ 19,6 triệu con (1996) lên 28 triệu con (2005).
Cùng thời gian trên, đàn gia cầm tăng từ 151 triệu con lên 231 triệu con. Cơ cấu
lao động, cơ cấu hộ theo hoạt động kinh tế nông thôn có sự thay đổi theo hướng
tiến bộ. Tỷ lệ số hộ chuyên kinh doanh công nghiệp, dịch vụ tăng, tỷ lệ hộ thuần
nông giảm. Làng nghề được khôi phục và mở rộng. (Tổng hợp từ niên giám
thống kê hàng năm).
Thuỷ sản có sự khởi sắc toàn diện. Số đơn vị sản xuất, dịch vụ thuỷ sản
tăng nhanh về số lượng, vị trí thuỷ sản trong cơ cấu kinh tế nông thôn ngày
càng cao, thu nhập từ thuỷ sản chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu tổng thu của
hộ. Số hộ thuỷ sản cả nước có 509 nghìn hộ, chiếm 3,7% tổng số hộ. So với
năm 1994, số hộ thuỷ sản tăng 280 nghìn hộ (gấp 2,2 lần). Trong nuôi trồng
thuỷ sản, nét nổi bật nhất là số lượng và quy mô trang trại tăng nhanh và
đem lại hiệu quả thiết thực. Cả nước có 16.952 trang trại nuôi trồng thuỷ
sản.
Số HTX trong ngành thuỷ sản tuy không tăng về số lượng (319 HTX) nhưng
đã đổi mới nội dung hoạt động, chuyển mạnh sang dịch vụ cho kinh tế hộ, nên có
tác dụng tích cực đối với sự phát triển của hoạt động nuôi trồng thuỷ sản nói
chung, nuôi tôm nói riêng và tăng thu nhập của hộ nông thôn, thu từ thuỷ sản
chiếm 15,3% tổng thu của hộ, trong khi đó thu từ lâm nghiệp chỉ có 4,5%.
Các hoạt động nuôi trồng và đánh bắt thuỷ sản có nhiều tiến bộ. Phong trào

sản xuất - kinh doanh: thu về nông, lâm nghiệp, thuỷ sản chiếm 75,6%, thu từ
công nghiệp - xây dựng chiếm 10,6%, còn lại thu từ các ngành dịch vụ chiếm
13,8%.
Trong cơ cấu tổng thu nông, lâm nghiệp, thuỷ sản, thu từ ngành nông
nghiệp chiếm tỷ trọng lớn nhất (79,9%), thu từ thuỷ sản chiếm 15,3% và thu từ
lâm nghiệp chỉ chiếm 4,8%. Tỷ trọng nông nghiệp và lâm nghiệp giảm dần và tỷ
trọng thuỷ sản tăng nhanh là xu hướng tiến bộ đúng với thực tế hiện nay ở các
vùng nông thôn, nhất là vùng ven biển. Trong cơ cấu tổng thu của ngành thuỷ


sản, thu từ hoạt động nuôi trồng thuỷ sản chiếm 53,2%, thu từ hoạt động đánh
bắt thuỷ sản chiếm 45,9%.
Thứ ba, cơ cấu các đơn vị kinh doanh nông nghiệp phát triển đa dạng theo
hướng tiến bộ. Mô hình kinh tế trang trại phát triển nhanh, đa ngành và có hiệu
quả kinh tế - xã hội.
Đến ngày 01 tháng 10 năm 2001, cả nước có 60.758 trang trại, tăng 4.906
trang trại so với năm 2000. Số trang trại trồng cây hàng năm có 21.798, chiếm
35,9%, trang trại trồng cây lâu năm có 16.614 trang trại, chiếm 27,3%, trang trại
chăn nuôi có 1.762 trang trại, chiếm 2,9%, trang trại lâm nghiệp có 1.630 trang
trại, chiếm 2,7%, trang trại nuôi trồng thuỷ sản có 16.951 trang trại, chiếm
27,9%, trang trại kinh doanh tổng hợp có 2.006 trang trại, chiếm 3,3%. Đến năm
2005, cả nước có 119.586 trang trại chăn nuôi, muôi trồng thuỷ sản và lâm
nghiệp (Niên giám thống kê hàng năm).
Đến năm 2005, cả nước có 8.086 hợp tác xã với nông- lâm- thuỷ sản đã
chuyển đổi và thành lập mới theo luật HTX 1996 tổ chức lại bộ máy quản lý gọn
nhẹ, phù hợp yêu cầu hoạt động dịch vụ; vốn quỹ hợp tác xã được kiểm kê làm
rõ công nợ; thực hiện dân chủ, công khai kinh tế nội bộ, tư cách pháp nhân của
các hợp tác xã được xác lập, tạo thuận lợi cho hoạt động sản xuất - kinh doanh.
Các hợp tác xã đã xây dựng điều lệ, phương án sản xuất - kinh doanh, tăng
cường một bước cơ sở vật chất - kỹ thuật (hệ thống thuỷ nông, máy móc,...),

nước với 99% số xã có trạm y tế, năm 2005 tăng lên 99,45%. Mạng lưới y tế cơ sở
bước đầu được củng cố và nâng cấp, trong đó, khoảng 15% đạt chuẩn quốc gia về
y tế xã. Tỷ lệ người dân nông thôn được sử dụng nước sạch đạt 62% năm 2005,
vượt mục tiêu đề ra. Sản xuất thuốc chữa bệnh chiếm 45% thị phần thuốc chữa
bệnh.
Chỉ số phát triển con người tiếp tục tăng từ 0,671 điểm (theo Báo cáo Phát
triển con người năm 2000), tăng lên 0,688 điểm (năm 2003), tăng lên 0,704 điểm
(năm 2005) và có khả năng đạt 0,750 điểm vào năm 2010 như mục tiêu Chiến lược
Dân số đã đề ra. Tuổi thọ bình quân của dân số nước ta từ 67,8 tuổi năm 1994 tăng
lên 71,5 tuổi năm 2005. Tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi tiếp tục giảm


nhanh từ 33,4% (năm 2000), giảm xuống còn 25% (năm 2005). Tầm vóc, thể lực
của người Việt Nam đã được cải thiện qua các thế hệ thanh thiếu niên.
Mạng lưới thông tin, văn hoá nông thôn đã có sự phát triển mạnh, góp phần
đáp ứng yêu cầu của CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn và cải thiện đời sống vật
chất, tinh thần của nhân dân. Có 7.503 UBND xã, chiếm 83,8% có máy điện thoại,
năm 2005, 100% số xã có điện thoại; đặc biệt số hộ nông dân có điện thoại năm
2001 là 704,4 ngàn hộ, gấp 30 lần so với năm 1994; 56,9% số xã có hệ thống loa
truyền thanh (năm 1994 là 38,6%); 54,8% số xã có điểm bưu điện văn hoá xã; 14%
số xã có nhà văn hoá và 7% số xã có thư viện, 83% số xã có trạm văn hóa, bưu
điện xã.
Thứ tư, các lĩnh vực chính trị, văn hoá, xã hội được cải thiện rõ rệt; dân chủ
xã hội được phát huy, góp phần đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội và giữ vững
an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở nông thôn.
Dân chủ xã hội nông thôn có những bước tiến bộ, góp phần thúc đẩy việc thực
hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an
toàn xã hội; tham gia có hiệu quả vào xây dựng hệ thống chính trị ở nông thôn.
Hiệu quả việc thực hiện các quy chế, quy ước, hương ước theo Thông báo 159TB/TW, ngày 15-11-2004 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khoá IX đi vào nề nếp,
thường xuyên; quyền làm chủ của nhân dân trong việc giám sát các hoạt động của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status