BÁO CÁO TỔNG HỢP CHUYÊN ĐỀ
CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ THỰC TRẠNG VÀ KIẾN NGHỊ
Đà Nẵng, tháng 03 năm 2007
2
Phần thứ I:
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC CẢI CÁCH
THỦ TỤC HÀNH CHÍNH TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
1.1. TÌNH HÌNH TRIỂN KHAI:
Trên cơ sở Quyết định số 49/2001/QĐ-UB phê duyệt Đề án Cải cách thủ tục
hành chính theo mô hình “một cửa” ở các cơ quan hành chính Nhà nước thuộc
thành phố Đà Nẵng, từ ngày 01/6/2001, UBND phường Nam Dương, UBND quận
Hải Châu, Sở Xây dựng được chọn thực hiện thí điểm cải cách thủ tục cải cách thủ
tục hành chính theo cơ chế ”một cửa”. Đến ngày 01/07/2001, các sở, ban, ngành;
quận, huyện; phường, xã đều thực hiện đồng loạt triển khai mô hình này trong việc
giải quyết yêu cầu của công dân, tổ chức. Ngoài ra, một số cơ quan chịu sự chỉ đạo
theo ngành dọc ở Trung ương đóng trên địa bàn thành phố cũng triển khai thực hiện
cơ chế này như: Bảo hiểm xã hội, Chi nhánh Ngân hàng chính sách xã hội, Cục
Thuế, Kho bạc nhà nước, Điện lực, Hải quan, Cảng vụ.
Sau khi Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 181/2003/QĐ-TTg ngày 04
tháng 9 năm 2003 ban hành Quy chế thực hiện cơ chế “một cửa” tại cơ quan hành
chính nhà nước ở địa phương, Ban Chỉ đạo Cải cách hành chính thành phố Đà Nẵng
đã kịp thời điều chỉnh bổ sung Quyết định số 49/2001/QĐ-UB với các văn bản liên
quan: Quyết định số 186/2004/QĐ-UB ngày 22/11/2004 về việc ban hành Quy định
nước, điện, lệ phí hoạt động của ngành Văn hoá - Thông tin... Chế độ biểu mẫu “độc
quyền” của một số loại hồ sơ hành chính do các ngành, địa phương ban hành đã
được xoá bỏ, thay bằng việc phổ biến rộng rãi các biểu mẫu đến tận phường, xã để
tạo điều kiện thuận lợi cho mọi công dân khi có nhu cầu giải quyết công việc.
Cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa” trong thời gian qua đã
mang lại những chuyển biến rõ nét trên nhiều lĩnh vực. Đặc biệt, thời gian giải quyết
đã giảm rất nhiều so với trước đây, cụ thể: Về lĩnh vực hộ tịch, thời gian giải quyết
được rút ngắn từ 2-3 ngày, có trường hợp 5-7 ngày so với thời gian quy định trong
đề án. Riêng đối với trường hợp thuộc vùng sâu, vùng xa, vùng miền núi hoặc các
4
đối tượng chính sách, học sinh đều được lãnh đạo Sở Tư pháp chỉ đạo giải quyết
ngay khi hồ sơ đã bảo đảm cơ sở giải quyết. Về công chứng, chứng thực, thời gian
giải quyết được rút ngắn đáng kể, công dân không phải chờ đợi lâu như trước đây,
hầu hết các hồ sơ tại UBND các phường, xã, Phòng Tư pháp các quận, huyện, các
Phòng Công chứng đã đều được giải quyết trong ngày. Về cấp giấy phép xây dựng,
thời gian thẩm định hồ sơ, kiểm tra thực địa được rút ngắn, so với trước đây từ 2025 ngày xuống còn 10-15 ngày. Việc cấp giấy phép xây dựng nhà ở riêng lẻ, thời
gian giải quyết từ 30 ngày xuống còn 15 ngày. Việc xác nhận quy hoạch phục vụ
cho mục đích chuyển quyền toàn bộ nhà ở và đất ở từ 30 ngày xuống còn 07 ngày.
Về đăng ký kinh doanh, việc cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh đối với các
doanh nghiệp tại Sở Kế hoạch và đầu tư giảm từ 15 ngày theo quy định xuống còn
05 ngày, bổ sung, điều chỉnh nội dung trong giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh
giảm từ 10 ngày theo quy định xuống còn 03 ngày. Thủ tục khắc dấu đối với doanh
nghiệp trong nước giảm còn 07 ngày so với thời gian quy định là 15 ngày, đối với
doanh nghiệp nước ngoài thời gian làm thủ tục khắc dấu giảm từ 10 ngày xuống còn
04 ngày. Cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho hộ kinh doanh cá thể ở các
quận, huyện từ 07 ngày còn 04 ngày. Trong lĩnh vực thuế, thời gian cấp mới mã số
thuế giảm từ 15 ngày xuống còn 08 ngày; việc bán hóa đơn lần đầu đối với doanh
cần thiết và rút ngắn thời gian giải quyết của 17 đầu công việc; cập nhật đầy đủ các
quy định mới trong lĩnh vực đất đai, xây dựng. Các loại hồ sơ về hộ tịch, chứng thực
đều được giải quyết ngay trong ngày. Trách nhiệm của lãnh đạo phường, xã và cán
bộ, công chức khi giải quyết yêu cầu của công dân, tổ chức được tăng cường với các
quy định cụ thể hơn, gắn liền với trách nhiệm cá nhân. Thành phố cũng quy định
UBND các phường, xã chấm dứt ngay tình trạng yêu cầu công dân ủng hộ ngân sách
phường, xã ngoài các khoản phí, lệ phí theo quy định khi thực hiện các thủ tục hành
chính. Cách thức giải quyết yêu cầu của công dân, tổ chức theo cơ chế “xin – cho”
từng bước được khắc phục. Năm 2006, UBND thành phố đã phê duyệt Đề án cải
cách thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa liên thông” tại xã Hoà Phong, xã Hoà
Châu, phường Xuân Hà. Sau thời gian thực hiện thí điểm có kết quả, UBND thành
6
phố đã có văn bản đồng ý tiếp tục mở rộng thực hiện cơ chế này tại một số phường,
xã.
Tại các quận, huyện: Cũng như ở phường, xã cơ chế “một cửa” tại quận,
huyện đã được bổ sung, sửa đổi bằng Quyết định 06/2006/QĐ-UBND, ngày
06/02/2006 ban hành Quy định về việc tiếp nhận, giải quyết hồ sơ theo cơ chế “một
cửa” tại UBND các quận, huyện thuộc thành phố Đà Nẵng. Theo đó, quy trình, thủ
tục, thời gian, lệ phí và phương thức tổ chức giải quyết hồ sơ cho công dân, tổ chức
được thống nhất tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả thuộc Văn phòng UBND các
quận, huyện với 8 lĩnh vực: Đất đai, quản lý đô thị, đăng ký kinh doanh, thẩm tra,
phê duyệt quyết toán vốn đầu tư công trình hoàn thành, chứng thực, quản lý Hội,
giáo dục-đào tạo, lao động – thương binh và xã hội), 84 đầu công việc và 78 loại
biểu mẫu giấy tờ thủ tục thông dụng.
Đánh giá chung, cải cách thủ tục hành chính đã góp phần phát huy tinh thần
trách nhiệm và đổi mới phong cách làm việc của đội ngũ cán bộ, công chức khi giải
quyết các nhu cầu của công dân, tổ chức. Việc công khai các thủ tục hành chính, quy
tiến hành rà soát, điều chỉnh, bổ sung các đề án cải cách thủ tục hành chính theo cơ
chế “một cửa”, để kịp thời cập nhật các quy định mới của nhà nước, theo tinh thần
đơn giản, nhanh gọn hơn để đáp ứng nhu cầu của công dân, tổ chức.
Một số cơ quan, đơn vị, cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động của bộ phận
tiếp nhận và trả kết quả còn nhiều hạn chế; một số địa phương còn khó khăn trong
việc bố trí nơi tiếp nhận và trả kết quả cho công dân, tổ chức, đặc biệt là các phường
mới được chia tách trong năm 2005.
Việc thực hiện kỷ cương, kỷ luật hành chính chưa nghiêm; trách nhiệm chung
và trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan chưa được quy định cụ thể. Một số địa
phương còn có tình trạng tùy tiện trong việc giải quyết các thủ tục hành chính cho
công dân, tổ chức, phổ biến hiện nay là trong việc thực hiện các thủ tục hành chính
trong lĩnh vực đất đai tại các quận, huyện, trong việc giải quyết các yêu cầu của
công dân về hộ tịch tại nhiều phường, xã. Thủ trưởng của nhiều cơ quan, đơn vị
8
chưa thật sự quan tâm, chỉ đạo, điều hành tổ chức quán triệt, thực hiện các nội dung
của cải cách hành chính một cách thường xuyên, chưa chú trọng đổi mới lề lối làm
việc. Công tác kiểm tra, thanh tra chưa gắn với việc xử lý kịp thời, nghiêm khắc các
trường hợp vi phạm.
Công tác tham mưu ban hành văn bản quy pháp pháp luật của các ngành chưa
đồng bộ, chưa tuân thủ chặt chẽ quy trình soạn thảo, chưa có quy định chặt chẽ về
cơ chế trách nhiệm phối hợp giữa cơ quan chủ trì và cơ quan phối hợp trong việc
ban hành. Vì vậy, các chủ trương, chính sách, đôi lúc, đôi nơi còn chồng chéo, trùng
lắp, hiệu lực, hiệu quả chưa cao, chưa lâu dài.
9
- Đối với việc thực hiện các nghĩa vụ tài chính của người sử dụng đất, UBND
thành phố cần chỉ đạo Cục Thuế thành phố yêu cầu các Chi cục Thuế quận, huyện
thực hiện thống nhất tại các quận, huyện về thủ tục, quy trình, thời gian tính giá trị
và thông báo nghĩa vụ tài chính của người sử dụng đất (được quy định cụ thể tại
Thông tư liên tịch số 30/2005/TTLT/BTC-BTNMT ngày 18 tháng 4 năm 2005 của
Liên Bộ Tài chính - Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn việc luân chuyển hồ
sơ của người sử dụng đất thực hiện nghĩa vụ tài chính) (Đề xuất này đã được triển
khai trong năm 2006).
- Ban hành quy định chặt chẽ về cơ chế, mối quan hệ và trách nhiệm của các
cơ quan liên quan trong việc quản lý quy hoạch. Đối với việc quản lý xác nhận quy
hoạch, đề nghị chuyển giao cho UBND các quận, huyện thực hiện để tạo thuận lợi
cho công dân khi thực hiện thủ tục hành chính liên quan trong lĩnh vực đất đai.
Đồng thời, sửa đổi theo hướng điều chỉnh phù hợp hơn Chỉ thị 12/CT-UB
ngày 22/6/2004 về xử lý một số vấn đề về nhà, đất trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
(Đề xuất đã được triển khai trong năm 2006).
- Về mô hình thực hiện tiếp nhận và trả kết quả: Hiện nay, có 02 cửa tiếp nhận
và trả kết quả tại UBND các quận, huyện: Các hồ sơ thuộc lĩnh vực đất đai nộp tại
Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất, các hồ sơ thuộc lĩnh vực khác nộp tại Bộ
phận tiếp nhận và trả kết quả thuộc Văn phòng UBND quận, huyện. Thực trạng này
dẫn đến hệ quả là UBND các quận, huyện không theo dõi, thống kê chính xác, đầy
đủ quy trình xử lý, thời gian giải quyết hồ sơ, không kiểm tra chặt chẽ cách thức
11
phục vụ nhân dân của công chức thuộc các phòng chuyên, dẫn đến tình trạng chậm
trễ, kéo dài thời gian giải quyết, cán bộ, công chức có điều kiện có thể gây phiền hà
cho công dân, tổ chức.
Để tạo điều kiện thuận lợi cho công dân khi thực hiện các thủ tục hành chính
trong lĩnh vực đất đai và các lĩnh vực khác nói, việc tiếp nhận và trả kết quả tại
doanh nghiệp tư nhân (không ràng buộc về ngành nghề…) cho UBND các quận,
huyện, nơi các doanh nghiệp đó đăng ký sản xuất kinh doanh:
Hiện nay trên địa bàn thành phố có khoảng 1.695 doanh nghiệp tư nhân được
Sở Kế hoạch và Đầu tư cấp phép hoạt động, hầu hết các doanh nghiệp này có quy
mô vốn nhỏ, ngành nghề hoạt động thông thường, nằm phân tán và rải rác trên địa
bàn các quận, huyện. Công tác “tiền kiểm” và “hậu kiểm” còn khó khăn do những
nguyên nhân trên. Do vậy, để thực hiện tốt hơn chức năng ĐKKD tại Sở Kế hoạch
và Đầu tư cần phân cấp thẩm quyền cấp giấy chứng nhận ĐKKD cho các doanh
nghiệp tư nhân hoạt động trong các ngành nghề thông thường, quy mô vốn nhỏ về
cấp UBND quận, huyện.
Đây là cơ sở thực hiện tốt hơn công tác ĐKKD tại Sở Kế hoạch và Đầu tư, bộ
phận chuyên môn có thể tập trung sâu hơn vào các loại hình doanh nghiệp khác. Yêu
cầu kiểm soát các doanh nghiệp tư nhân trước và sau khi cấp phép được thực hiện
tốt hơn do phạm vi được đảm bảo hơn. Mọi thắc mắc phát sinh có thể được xử lý
nhanh hơn.
- Chuyển giao nhiệm vụ tiếp nhận, giải quyết hồ sơ đăng ký mới và thay đổi
địa điểm trụ sở chi nhánh, văn phòng đại diện đối với các doanh nghiệp nhà nước
thuộc các cơ quan Trung ương và địa phương khác từ Sở Nội vụ sang Sở Kế hoạch
và Đầu tư (đề xuất này đã được triển khai trong năm 2006).
- Đề nghị thực hiện cơ chế “một cửa liên thông” trong việc đăng ký kinh
doanh, đăng ký mã số thuế và khắc dấu:
Hiện nay, để có thể tiến hành sản xuất kinh doanh, các tổ chức và nhà đầu tư
phải tiến hành làm thủ tục ít nhất qua “03 cửa” của 03 cơ quan: Đăng ký kinh doanh
13
ti S K hoch v u t, ng ký mó s thu ti Cc Thu v ng ký khc du ti
Cụng an thnh ph mi hon tt cỏc th tc tin hnh hot ng (cha k i vi
nhng ngnh ngh kinh doanh cú iu kin phi lm th tc cỏc s chuyờn ngnh).
Kế hoạch và Đầu tư, xây dựng phần mềm dùng chung về đăng ký kinh doanh cho
các cấp quận, huyện.
2.2.3. Về quản lý cấp giấy phép xây dựng:
- Về việc phân cấp trong lĩnh vực quản lý, cấp GPXD, đề nghị phân cấp như
sau:
Sở Xây dựng chỉ nên quản lý các trục đường chính trong đô thị, các trục
đường có yêu cầu cao về quản lý kiến trúc cảnh quan đô thị, cụ thể như sau:
+ Các quốc lộ, tỉnh lộ;
+ Các đường chính trong khu vực trung tâm của thành phố;
+ Các đường trong các khu quy hoạch nhưng có lòng đường > 10,5m.
UBND các quận, huyện quản lý các trục đường còn lại trong đô thị. Đối với
huyện Hoà Vang thì cần có phân cấp cụ thể cho các xã cấp GPXD nhưng chỉ phân
cấp qui mô công trình < 3 tầng, công trình dọc theo các giao thông nông thôn.
(đề xuất này đã được triển khai trong năm 2006).
- Để thực hiện có hiệu quả công tác cấp GPXD tại Đà Nẵng:
+ Đề nghị UBND thành phố cần tiếp tục ban hành các quy định quản lý kiến
trúc xây dựng công trình dọc theo các trục phố chính của thành phố (thiết kế mẫu...)
để có cơ sở quản lý kiến trúc và là các tiêu chí trong cấp GPXD và điều chỉnh Quyết
định số 65/2003/QĐ-UB ngày 02/4/2003 của UBND thành phố cho phù hợp với
Luật Xây dựng và thực tế quản lý của thành phố Đà Nẵng. Chỉ đạo các quận huyện
và các cơ quan có liên quan thực hiện nghiêm túc công tác quản lý trật tự xây dựng
trên địa bàn do các quận huyện đang quản lý.
15
+ Đề nghị các cơ quan cấp GPXD phải khẩn trương ban hành các Quy chế
trong thực hiện cấp GPXD cho CBCNV cơ quan căn cứ thực hiện.
+ Về mẫu giấy phép xây dựng, cần có bổ sung mục một số quy định khác
thêm các phương tiện kỹ thuật mới trong công tác thực địa, khảo sát hiện trạng.
2.2.4 Về lĩnh vực thuế:
- Đề nghị Cục Thuế thành phố xây dựng một trang Web về thuế, trong đó:
+ Đăng tải đầy đủ các thông tin về Luật Thuế, các văn bản, chính sách thuế
của Trung ương và của địa phương; các phương pháp tính thuế; đặc biệt là các thủ
tục, quy trình và thời gian xử lý từng loại công việc cụ thể cũng như địa điểm nhân
dân liên hệ giải quyết công việc. Thường xuyên cập nhật thông tin đảm bảo thông
tin luôn mới và chính xác. Xây dựng chuyên mục giải đáp thắc mắc của đối tượng
nộp thuế đồng thời quy định thời gian trả lời các thắc mắc đối với từng loại nội dung
công việc.
+ Thực hiện mô hình mạng thông tin thuế điện tử. Thông qua hệ thống này
đối tượng nộp thuế có thể thực hiện các thủ tục liên quan đến thuế, trước mắt áp
dụng cho các nội dung công việc: đăng ký cấp mã số thuế, xin xác nhận số thuế đã
nộp, kê khai thuế, nộp thuế. Mô hình này đang được triển khai thí điểm tại quận Hải
Châu.
Thực hiện công khai số điện thoại đường dây nóng giải đáp ngay những thắc
mắc, yêu cầu của đối tượng nộp thuế (đề xuất này đã được triển khai trong năm
2006)
- Về thủ tục và tính thuế nhà đất: Đề nghị thống nhất về thủ tục và quy trình
giải quyết hồ sơ như sau:
Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất tại các quận, huyện không được tùy
tiện đặt ra các thủ tục và yêu cầu nhân dân cung cấp những loại giấy tờ không đúng
theo quy định. Trong quá trình thực hiện nếu thật sự có vướng mắc thì phải báo cáo
UBND thành phố, đề xuất ban hành các quy định về hồ sơ, thủ tục giải quyết trong
17
lĩnh vực đất đai đối với từng trường hợp cụ thể. Đề nghị rà soát và bãi bỏ các giấy tờ
Việc xác định địa chỉ thường trú của công dân (thay thế Giấy xác nhận địa chỉ
nhà hoặc tổ dân phố đối với các trường hợp do thay đổi tổ dân phố):
+ Chấp nhận bảng tự kê khai của công dân, họ chịu hoàn toàn trách nhiệm về
tính pháp lý của lời khai, trong đó có địa chỉ mới sau khi có thay đổi;
+ Trong quá trình thẩm tra, xác minh hồ sơ, nếu cần có sự xác nhận về tính
pháp lý hồ sơ do UBND phường, xã thực hiện, Văn phòng ĐKQSDĐ kiểm tra tính
xác thực và chịu hoàn toàn trách nhiệm quá trình thẩm tra;
Sau khi hoàn tất công tác thẩm tra hồ sơ, Văn phòng ĐKQSDĐ có trách
nhiệm lập Phiếu chuyển thông tin để xác định nghĩa vụ tài chính của người sử dụng
đất, gửi kèm theo hồ sơ đề nghị cấp giấy CNQSDĐ cho Chi cục Thuế các quận,
huyện để thực hiện việc tính toán và thông báo nghĩa vụ tài chính mà công dân phải
nộp. Trong trường hợp này, có một số Chi cục Thuế đề nghị Văn phòng ĐKQSDĐ
phải yêu cầu công dân nộp thêm Giấy xác nhận địa chỉ nhà hoặc tổ dân phố đối với
các trường hợp do thay đổi tổ dân phố (do hồ sơ nhà, đất thay đổi địa chỉ tổ dân phố,
thay đổi số nhà) do không tin, không thừa nhận kết quả kiểm tra của cơ quan hữu
quan, trong đó đề nghị: Công dân cam kết chịu trách nhiệm về nội dung kê khai của
người kê khai; xác nhận của UBND phường, xã và kết quả thẩm tra của Văn phòng
đăng ký quyền sử dụng đất quận, huyện dẫn đến việc gây khó khăn cho công dân,
chậm trễ thời gian giải quyết.
Tuy nhiên để tạo mối quan hệ phối hợp tốt trong quá trình tiếp nhận, giải
quyết hồ sơ của công dân, thành phố cần ban hành quy định thống nhất: Trong quá
trình điều chỉnh địa giới tại địa phương, nếu có thay đổi tên, sáp nhập, thành lập mới
tổ dân phố, thôn thì UBND các phường, xã có trách nhiệm gửi Quyết định thay đổi
này cho Văn phòng ĐKQSDĐ quận, huyện và Chi cục Thuế các quận, huyện, trong
đó nêu rõ: Tổ dân phố, thôn cũ trước đây và tổ dân phố, thôn mới sau khi có sự thay
19
đổi, điều chỉnh. Trong quá trình xác minh tại địa phương, Văn phòng ĐKQSDĐ
là mã số đối tượng nộp thuế, vừa là mã số trong giấy chứng nhận mẫu dấu, và do Sở
Kế hoạch và Đầu tư làm đầu mối. Đối với đơn vị hành chính sự nghiệp thì mã số đó
vừa là mã số đơn vị thụ hưởng ngân sách vừa là mã số đối tượng nộp thuế và do Sở
Tài chính làm đầu mối.
2.2.5 Cải cách thủ tục cấp điện:
- Tăng cường ứng dụng CNTT trong quản lý hồ sơ khách hàng, quản lý hoá
đơn tiền điện và thu tiền điện là việc làm hết sức thiết thực. Có như vậy người dân
không phải xuất trình những giấy tờ gốc mà lẽ ra ứng dụng CNTT thì các đơn vị của
Điện lực có thể tìm kiếm truy xuất rất nhanh như: chỉ cần nói tên, địa chỉ là tìm ra
ngay số hợp đồng, cùng các nội dung liên quan đến hợp đồng...
- Cần xây dựng Website và nghiên cứu cụ thể để có thể giao dịch với người sử
dụng điện qua mạng trên cơ sở thuận lợi nhất cho người dân.
- Xây hệ hệ thống trả lời tự động về các thủ tục liên quan đến cấp điện của
Điện lực Đà Nẵng (đề xuất này đã được triển khai trong năm 2006).
- Nghiên cứu phương thức thanh toán tiền điện qua hệ thống ATM (đề xuất
này đã được triển khai trong năm 2006).
2.2.6 Về cấp nước và quản lý sử dụng tài nguyên nước:
- Hiện nay, giải quyết cho phép đào đường là việc phối hợp giữa 2 đơn vị:
Công ty Cấp nước và Sở Giao thông Công chính. Việc phối hợp này hầu như bằng
văn bản hành chính nên không có trở ngại. Tuy nhiên, tiến độ cấp phép còn phụ
thuộc vào thời gian quyết định của UBND thành phố. Đề nghị UBND thành phố
xem xét ủy quyền cho Giám đốc Sở Giao thông Công chính cấp phép đào đường
chính trong thành phố (hiện nay việc đào đường trong kiệt, hẻm UBND thành phố
đã phân cấp cho UBND quận, huyện cấp phép).
21
công trình cấp nước là 87,8 tỷ đồng. Nếu chúng ta đẩy mạnh việc xã hội hóa trong
cấp nước thì vấn đề nước sạch nông thôn sẽ sớm được giải quyết trong thời gian tới.
2.2.7 Về thủ tục khám, chữa bệnh tại Bệnh viện Đà Nẵng:
a) Đối với khu khám bệnh ngoại trú:
- Tại Khoa Cấp cứu phải có bác sĩ (BS) giỏi, có kinh nghiệm chẩn đoán, phân
loại bệnh, và giao tiếp để cấp cứu tốt bệnh nhân (BN) tránh bức xúc. Hàng ngày lập
bảng phân công trực cụ thể từ BS trực lãnh đạo đến từng BS trực của khoa phòng
kèm số điện thoại di động để dễ liên lạc. Các BS này vẫn làm việc tại khoa phòng
nhưng phụ trách trực hội chẩn cấp cứu 24 giờ để khi có yêu cầu là phải có mặt ngay
phối hợp đồng bộ với Khoa Gây mê hồi sức và Khoa Hồi sức cấp cứu để tận dụng
thời gian “vàng” cứu sống bệnh nhân (đang được Bệnh viện Đà Nẵng triển khai)
- Khu khám bệnh: phải bố trí các phòng khám liên hoàn, BN phức tạp phải
khám nhiều chuyên khoa, BS khám bệnh có quyền gọi điện thoại mời BS chuyên
khoa khác đến tại bàn mình, khám ngay tại chỗ tránh tình trạng để BN phải đi lại
nhiều buồng khám. Phòng khám Sản Khoa nên bố trí cùng tầng với Phòng khám
Ngoại Khoa, Phòng khám Nhi Khoa nên bố trí cùng tầng với Phòng khám Nội
Khoa. Phòng bán phiếu xét nghiệm (XN) và thực hiện các xét nghiệm nên đặt ở tầng
giữa của khu khám, không quá xa với khoa khám bệnh để bệnh nhân tiện đi lại ( đã
được Bệnh viện Đà Nẵng triển khai trong năm 2006).
- BS chẩn đoán ban đầu và tiên lượng nơi điều trị nội trú hay ngoại trú. Nếu
nhập viện thì không yêu cầu BN phải làm đủ các XN mà có thể cho vào viện ngay.
Sau khi vào khoa điều trị BN sẽ nhận giường nằm nghỉ, BS bệnh phòng sẽ có thời
gian khám kỹ cho làm các XN cần thiết chẩn đoán, BN không mệt vì chờ làm XN và
chờ lấy kết quả XN (đã được Bệnh viện Đà Nẵng triển khai trong năm 2006).
- Thông báo trên đài phát thanh, truyền hình, báo chí, website của bệnh viện
(BV), các tờ rơi quảng cáo... về đăng ký khám bệnh qua điện thoại, qua mạng vi
23
24
triển khai trong năm 2006). Tại các bàn khám bệnh phải có hệ thống loa gọi và
thông báo các tin cần thiết để BN nắm rõ (hiện tại phải gọi miệng vừa mệt nhân viên
vừa làm BN khó theo dõi).
- Công bố chi tiết quy trình tiếp nhận BN đến khám và điều trị tại viện. Công
khai lịch khám bệnh, tên BS khám bệnh tại các phòng khám, bảng sơ đồ hướng dẫn
các phòng khám rõ ràng để BN tiện liên lạc, công khai thời gian nhận bệnh phẩm XN
và trả XN (đã được Bệnh viện Đà Nẵng triển khai trong năm 2006).
- Khoa Dược và Phòng Tài vụ phải nối mạng vi tính để cùng nhau giám sát
cấp phát thuốc một lần giảm thời gian BN chờ đợi, góp phần giảm sai sót, thất thu
do nhân viên tài vụ không có chuyên môn chép sai các loại thuốc có tên biệt dược
gần giống nhau .
- BV mở thêm dịch vụ khám chữa bệnh theo yêu cầu và ngoại tuyến: BN có
quyền yêu cầu được khám bệnh cho mình bởi các BS mà mình tin cậy, có tay nghề
cao mổ cho mình (dĩ nhiên tiền bồi dưỡng cao hơn). Hàng tuần có lịch khám cụ thể
của BS có uy tín và công bố cho BN biết đến khám, giảm bớt quá tải cho các phòng
khám, nâng cao được uy tín của BV, tạo thêm thu nhập cho CBCNV( đã được triển
khai đầu năm 2007).
- Giám đốc BV quy định thời gian các khoa cận lâm sàng trả kết quả XN
nhanh nhất có thể được (tuỳ loại XN) và nhân viên phòng XN bắt buộc phải thực
hiện nghiêm túc tránh chờ đợi lâu như hiện nay (đã được Bệnh viện Đà Nẵng triển
khai trong năm 2006).
-Việc CBCNV trong BV đưa người quen đi khám bệnh thường hay chen
ngang, các BS phòng khám cũng khó từ chối nên làm cho BN ngồi chờ trước đó bất
bình. Do vậy đề nghị phát số và gọi khám theo thứ tự để công bằng hoá.
- Tại khu khám và các phòng XN đặt thêm các hộp thư góp ý và số điện thoại
đường dây nóng nơi dễ nhìn thấy, dễ tiếp xúc tiện cho BN đến góp ý kiến, trao đổi
các khiếu nại, vướng mắc để cùng nhau tháo gỡ tránh hiểu nhầm và kiện cáo.