HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH
………………………….
LỚP BỒI DƯỠNG VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
CHƯƠNG TRÌNH CHUYÊN VIÊN CAO CẤP
Tổ chức tại Học viện Hành chính. Khóa IV. Năm 2012
LỚP: 4A
ĐỀ ÁN
Tên đề án: Khôi phục, phát triển rừng và hỗ trợ cải thiện sinh kế ứng phó biến
đổi khí hậu cho cộng đồng tại một số huyện của tỉnh Sơn La và Hoà Bình.
Hà nội, tháng 6 năm 2012
Trang 1
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH
………………………….
LỚP BỒI DƯỠNG VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
CHƯƠNG TRÌNH CHUYÊN VIÊN CAO CẤP
Tổ chức tại Học viện Hành chính. Khóa IV. Năm 2012
LỚP: 4A
ĐỀ ÁN:
Tên đề án: Khôi phục, phát triển rừng và hỗ trợ cải thiện sinh kế ứng phó biến
đổi khí hậu cho cộng đồng tại một số huyện của tỉnh Sơn La và Hoà Bình.
Người thực hiện: Phạm Hồng Vích
Chức vụ: Trưởng phòng Quản lý tư vấn và Xây dựng đề án.
Đơn vị công tác: Ban quản lý đề án Lâm nghiệp
triển đất nước trong giai đoạn 2011 - 2015 là “tạo bước tiến rõ rệt về thực thực
hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, giảm tỷ lệ hộ nghèo”,
sự nghiệp giảm nghèo được đặt trước giai đoạn phát triển mới mà ở đó mục tiêu
giảm nghèo bền vững là một thành tố liên hệ mật thiết với định hướng chiến
lược đến năm 2020, Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo
hướng hiện đại và do đó có không ít thách thức mới đã và đang đặt ra với mục
tiêu giảm nghèo bền vững của Việt Nam.
Xuất phát từ quan điểm và cách nhìn nhận như vậy cùng với kiến thức được
trang bị qua khoá học, tôi chọn đề tài: “Khôi phục, phát triển rừng và hỗ trợ
cải thiện sinh kế ứng phó biến đổi khí hậu cho cộng đồng tại một số huyện
của tỉnh Sơn La và Hoà Bình” làm đề án tốt nghiệp. Với đề tài này, tôi
Trang 3
mong muốn sẽ đúc kết được những kiến thức lý luận đã tiếp thu ở trường
gắn với việc giải quyết một số vấn đề thực tiễn đang đặt ra tại nơi công tác
của mình.
Trang 4
THÔNG TIN CHUNG VỀ ĐỀ ÁN
Tên đề án: Khôi phục, phát triển rừng và hỗ trợ cải thiện sinh kế ứng phó biến
đổi khí hậu cho cộng đồng tại một số huyện của tỉnh Sơn La và Hoà Bình.
Đơn vị Chủ quản: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
Đơn vị thực hiện: Ban quản lý các đề án Lâm nghiệp.
Thời gian bắt đầu dự kiến: Năm 2013
Thời gian kết thúc: Năm 2019
Tổng kinh phí đề án: 15tr Euro
quản lý bền vững là 3 năm. Dự kiến bắt đầu là năm 2013..............................29
5.3. Kinh phí thực hiện đề án:........................................................................29
Tổng kinh phí là 15tr Euro. Trong đó:...........................................................29
Vốn vay ODA từ Ngân hàng Tái thiết Đức là 12tr Euro................................29
Vốn đóng góp của Chính phủ là 03tr Euro.....................................................29
Phần 6. HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ ÁN......................................................................29
6.1. Ý nghĩa thực tiễn của đề án.....................................................................29
6.2. Đối tượng hưởng lợi của đề án................................................................31
Trang 6
6.3. Tồn tại của đề án/khó khăn khi thực hiện của đề án...............................31
Phần 7. KIẾN NGHỊ, KẾT LUẬN......................................................................35
ĐẶT VẤN ĐỀ
Từ năm 1995 cho đến nay, Chính phủ CHLB Đức thông qua Ngân hàng Tái
thiết Đức (KfW) đã đồng tài trợ cho lĩnh vực Lâm nghiệp của Việt Nam với
tổng số 9 Đề án và tổng kinh phí lên tới 51,7 triệu Euro. Mục tiêu chính của các
đề án là thiết lập và quản lý bền vững khoảng 125.000 ha rừng trên các vùng đất
có nguy cơ đe dọa về sinh thái, góp phần tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập
cho người dân trước mắt và lâu dài, góp phần cải thiện môi trường, môi sinh
trong khu vực.
Đề án sẽ áp dụng phương thức thực hiện toàn diện, trên cơ sở lập kế hoạch sử
dụng đất và phát triển lâm nghiệp tại tất cả các thôn bản và xã để từ đó có thể
triển khai được toàn bộ các hoạt động quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng trong
vùng tham gia đề án. Phương thức này dựa trên các phương thức và quy trình
thực hiện đã được các tài trợ của KfW và GTZ trước đó xây dựng, trong đó đặc
biệt chú trọng tới việc lập kế hoạch sử dụng đất chi tiết có sự tham gia. Vấn đề
chính là cần xoá bỏ những hoạt động sử dụng đất cho mục đích thu lợi nhuận
chức cộng đồng khác. Dự tính sẽ có khoảng 150 - 200 cán bộ nhân viên tham
gia thực hiện đề án và được đào tạo nhằm nâng cao năng lực.
Trang 8
Phần 1: CƠ SỞ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN
I.1.
Tính cấp thiết/lý do xây dựng đề án:
Trong 6 thập kỷ qua, diện tích rừng của Việt Nam giảm mạnh. Năm 1943, diện
tích rừng là 14.3 triệu ha nhưng đến năm 1998, con số này đã giảm xuống chỉ
còn 9,4 triệu. Từ năm 1998, mặc dù tỷ lệ che phủ rừng đã tăng lên 33% (tương
đương khoảng 10,3 triệu ha) nhưng chất lượng rừng lại giảm kéo theo sự xuống
cấp của hệ đa dạng sinh học. Với một phần ba dân số (khoảng 25 triệu người),
đa số là đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống ở miền núi và vùng sâu vùng xa
trong điều kiện đói nghèo và hoàn toàn sống phụ thuộc vào rừng. Mặc dù đóng
góp của ngành lâm nghiệp vào tổng sản phẩm quốc nội (GDP) ước tính chỉ vào
khoảng 1,4% nhưng đóng góp thực tế lại lớn hơn nhiều cho sự phát triển kinh tế
và bảo vệ môi trường quốc gia. Rừng đóng vai trò trung tâm cho đời sống của
người dân nông thôn, rừng cung cấp lương thực cho sự sinh tồn của họ, đồng
thời đem lại nguồn thu nhập từ củi đôt, và các loại dược thảo. Ngoài ra, rừng
còn đóng vai trò quan trọng trong việc ổn định vùng đầu nguồn, cung cấp phần
lớn các hệ tưới tiêu trên cả nước, đa số dân số Việt Nam sống phụ thuộc vào
rừng.
Từ năm 1992, Chính phủ Việt Nam đã có những nỗ lực lớn nhằm khôi phục lại
tỷ lệ che phủ rừng và tăng chất lượng rừng. Chương trình 327 giải quyết vấn đề
về giao đất giao rừng và mang lại thu nhập từ trồng rừng. Chương trình này
được giao cho các Lâm trường quốc doanh thực hiện, một phần nhằm giúp bù
từ kết quả hình thành quan hệ đối tác chính thức giữa Bộ NN & PTNT và Nhóm
Trang 10
các Nhà tài trợ. Chương trình được sự ủng hộ của 19 tổ chức tài trợ/các tổ chức
phi Chính phủ/ Chính phủ thông qua một Biên bản ghi nhớ và Hiệp định khung
nhằm đạt được mục tiêu quản lý và bảo vệ rừng bền vững, bảo tồn đa dạng sinh
học. Ngân hàng Tái thiết Đức đã ký Biên bản ghi nhớ về thỏa thuận hỗ trợ các
đề án Lâm nghiệp đồng tài trợ được thực hiện trong khuôn khổ Chương trình 5
triệu Ha rừng.
Từ năm 2003 đến năm 2004, một nhóm công tác gồm các chuyên gia trong nước
và quốc tế tham gia thực hiện các đề án Lâm nghiệp do các tổ chức tài trợ lớn hỗ
trợ (như WB, ADB, KfW, EU và JICA) đã hoàn thành tài liệu dự thảo (tháng 10
năm 2004) về “ Hài hòa hóa các thủ tục đầu tư và khung thực hiện trong ngành
Lâm nghiệp” (gọi tắt là HIF). Tài liệu trình bày các phân tích về tính hiệu quả,
các vấn đề về cơ cấu trong quá trình thực hiện đề án cũng như những đề xuất để
cải tiến.
Năm 2004, Bộ NN & PTNT đã tiến hành hai mục tiêu mới. Thứ nhất, Bộ NN &
PTNT đã tiến hành đánh giá Chương trình 5 triệu ha để có những điều chỉnh cần
thiết, có thể giúp ích cho việc thực hiện các đề án sau này. Thứ hai, tiến hành
các bước đầu tiên của quá trình xây dựng Chiến lược Lâm nghiệp quốc gia mới
(giai đoạn 2005-2020). Nội dung cụ thể của cả hai mục tiêu này sẽ được xây
dựng bởi các thành viên của Chương trình Phát triển ngành Lâm nghiệp và trong
năm 2005 và đã thu được những kết quả ban đầu.
Năm 2003, Việt Nam đưa ra Chiến lược tổng thể về tăng trưởng kinh tế và xóa
đói giảm nghèo, mà một trong số các mục tiêu của nó là bảo vệ và quản lý bền
vững tài nguyên thiên nhiên. Các hoạt động đề xuất trong đề án mới này đều phù
hợp với chiến lược phát triển Nông nghiệp và nông thôn Việt Nam và Chiến
lược phát triển khu vực Lâm nghiệp quốc gia (giai đoạn 2001 – 2010), Chương
Mặc dù trong hơn một thập kỷ qua, tỷ lệ che phủ rừng ở vùng đầu nguồn đã tăng
từ 12% lên 32% ở Sơn La và từ 28% lên 39% ở Hòa Bình nhưng vẫn chưa đạt
được mục tiêu đề ra của Chính phủ là 60-65%. Chất lượng rừng ngày càng giảm
do nhu cầu gỗ xây dựng, củi đốt và nhiều loại lâm sản khác tăng. Mặc dù Chính
phủ đã có những đầu tư đáng kể cho ngành Lâm nghiệp, nhưng rừng vẫn đang
chịu sức ép của sự gia tăng dân số, và không được quản lý và bảo vệ bền vững.
Đa dạng sinh học cũng đang bị đe dọa bởi nạn thu hái lâm sản, săn bắn động vật
hoang dã nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân địa phương. Bảo tồn
đa dạng sinh học ở một số khu rừng nửa rụng lá trên núi đá vẫn đang trong giai
Trang 12
đoạn đầu (dưới 5% tổng diện tích), do chưa được quy hoạch thích hợp và do
thiếu nguồn lực.
Hai tỉnh có tổng số dân khoảng 1,8 triệu người (trong đó dân số Hòa Bình là 0,8
triệu, Sơn La là 1 triệu). Có tổng số 380.000 hộ gia đình (trong đó 80-85% là ở
nông thôn), chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số như Thái, H’mông và Mường.
Mặc dù trong 10-15 năm qua, điều kiện sống của người dân ở đây đã được cải
thiện đáng kể với tỷ lệ tăng trưởng GDP đạt 7-9% nhưng vẫn thuộc một trong số
những tỉnh nghèo nhất Việt Nam. Tỷ lệ hộ nghèo trong tỉnh là 13% (Hòa Bình)
và 30% (Sơn La). Các hộ đặc biệt khó khăn tập trung tại các huyện vùng sâu
vùng xa và quanh các Khu Bảo tồn thiên nhiên và hồ chứa Hòa Bình.
Hệ thống canh tác nổi bật của đồng bào Thái và Mường là trồng lúa nước kết
hợp lúa nương, chãn nuôi và làm vườn . Ðồng bào dân tộc H’mông lại có tập
quán canh tác trên đất cao, ở độ cao trên 1000m, trồng các nông sản như ngô,
sắn và mía. Trong một thập kỷ qua, các loại nông sản này được trồng rất phổ
biến, giá cả tãng, chất lượng giống và điều kiện tiếp cận thị trường cũng tốt hơn.
Canh tác nông nghiệp trên vùng cao đang cạnh tranh trực tiếp với sản xuất lâm
nghiệp, mặc dù đất ngày càng nghèo dinh dưỡng. Bảo vệ vùng đầu nguồn và đất
Trang 14
1.Trồng rừng từ các loài cây có sẵn tại địa phương, quản lý bảo vệ rừng,
tái sinh tự nhiên khoảng 22.000 ha, trong đó 15.000 ha đã xác định, 4.000 ha dự
phòng sẽ xác định sau.
2. Quản lý rừng cộng đồng khoảng 10.000 ha rừng tự nhiên tại 15 xã;
3. Hỗ trợ phát triển cộng đồng thông qua các chương trình nước sạch, hệ
thống thuỷ lợi nhỏ ... nhằm ứng phó biến đổi khí hậu cho khoảng 25-30 xã.
4. Bảo tồn đa dạng sinh học tại 4 khu bảo tồn thiên nhiên, trong đó trồng
mới khoảng hơn 3.000 ha rừng trong vùng lõi và vùng đệm.
5. Tăng cường năng lực cho Cán bộ tham gia đề án.
Trang 15
Phần 3: NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA ĐỀ ÁN
3.1.
Hợp phần trồng và quản lý rừng
Hợp phần chính trồng và quản lý rừng tận dụng sự sinh trưởng và năng suất tiềm
năng của các loài cây bản địa lá rộng, mong muốn của người dân địa phương và
nhu cầu lâu dài về quản lý rừng bền vững theo các nguyên tắc và tiêu chuẩn của
chứng chỉ rừng. Rừng trồng sẽ thực hiện các chức năng che phủ cố định và cung
cấp lâm sản, thu nhập và các dịch vụ môi trường có giá trị và bền vững.
Trên hơn 90% diện tích đề xuất của Đề án, rừng lá rộng hỗn giao sẽ được thiết
lập thông qua trồng cây bản địa hoặc tái sinh tự nhiên có hoặc không có trồng
bổ sung. Sẽ trồng rừng trên những diện tích có thảm thực vật giúp tăng cường
lâm sinh đối với rừng thứ sinh và rừng tự nhiên, các tổ chức quản lý rừng cộng
đồng sẽ được chi trả trong giai đoạn đầu. Do đó, đề xuất tạo các quỹ phát triển
rừng địa phương dưới dạng mở tài khoản tiền gửi bằng đồng Việt nam cho các
tổ chức quản lý rừng cộng đồng ở xã và thôn/bản với khoảng vài trăm ha rừng tự
nhiên. Việc mở tài khoản tiền gửi sẽ dựa vào quy mô diện tích rừng quản lý. Hỗ
trợ tài chính cho quản lý rừng tự nhiên sẽ được biện minh trên cơ sở khuyến
khích hình thành các nhóm quản lý bền vững. Số tiền 3,5 EUR/ha và số năm (6
năm) giống như số tiền các chương trình quốc gia thanh toán cho công tác bảo
vệ rừng trong vùng đề án.
Điều kiện đối với tài khoản hoặc quỹ này được đề xuất là không giới hạn. Sau 5
năm, tài khoản này sẽ là vốn quay vòng để thực hiện quản lý rừng và tăng thu
nhập từ các hoạt động quản lý rừng. Thời hạn rút tiền có thể là hàng tháng hoặc
hàng quý, tuỳ thuộc vào các quy chế hoạt động của các tổ chức quản lý rừng
cộng đồng. Tính toán chi tiết hơn trong suốt quá trình thực hiện đề án sẽ đưa ra
con số chính xác chi phí điều tra rừng, bảo vệ và thực hiện các biện pháp lâm
sinh, và giám sát sự tham gia của các tổ chức quản lý rừng dựa vào cộng đồng.
Ngoài những chi phí ban đầu, tỷ lệ rút tiền (Nhóm VI: tỷ lệ rút tiền là
16,67%/năm) nên được giới hạn trong mức lãi xuất sinh ra trong quá trình gửi.
Trong những năm đầu tiên, số tiền này chỉ vừa đủ để chi trả các chi phí tối thiểu,
phí quản lý và tiền công tối thiểu cho các thành viên tổ chức. Sổ tài khoản tiền
gửi nên được mở tại cùng một ngân hàng với sổ tài khoản tiền gửi cá nhân, mặc
Trang 17
dù không nhất thiết yêu cầu (đây là Ngân hàng NN &PTNT, chính sách XH).
Nếu tổ chức quản lý rừng cộng đồng không quản lý rừng của họ như kế hoạch
quy định, tài khoản tiền gửi/quỹ có thể bị đình chỉ tạm thời hoặc đóng lại vĩnh
viễn. Giám sát cần được thực hiện nghiêm ngặt.
Các hoạt động cần thiết để thực hiện phần này bao gồm lập kế hoạch có sự tham
khuyến nông và lâm, cũng như trình độ kỹ thuật trồng rừng ở cả 2 tỉnh vẫn còn
yếu. Tuy nhiên, đội ngũ cán bộ lâm nghiệp của cả 2 tỉnh đặc biệt là Sơn La có
nhiều kinh nghiệm thực hiện đề án viện trợ nước ngoài, tham gia nhiều lớp đào
tạo tập huấn về quy hoạch sử dụng đất và kế hoạch phát triển thôn bản có sự
tham gia của người dân, kiến thức khuyến nông và kỹ năng quản lý rừng cộng
đồng. Đây chính là nền tảng cơ sở để tiếp tục xây dựng phương thức mới và mở
rộng các phương thức hiện có trong quá trình thực hiện đề án lâm nghiệp.
Chương trình phát triển Lâm nghiệp xã hội Sông Đà đã biên soạn nhiều sách đào
tạo tập huấn hữu ích và thiết lập được một đội ngũ cán bộ đào tạo tại Sơn La.
Vì phương pháp đề xuất rất mới đối với cả người nông dân và các tổ chức hỗ trợ
trong vùng đề án, tập huấn tăng cường năng lực là rất quan trọng và sẽ được tiếp
tục cho đến khi kết thúc đề án vào năm thứ 9. Trình độ chuyên môn và kinh
nghiệm của các tổ chức đề xuất tham gia rất khác nhau. Do đó, thông qua tập
huấn tại chỗ dựa trên năng lực, cán bộ đề án sẽ quen dần với phương pháp
khuyến lâm lấy chủ thể làm trọng tâm. Mạng lưới các đào tạo viên/cán bộ nguồn
sẽ được tuyển dụng. Tham quan cho một số cán bộ đề án được lựa chọn và một
số tập huấn đúng thể thức sẽ được bổ sung vào chương trình tập huấn.
3.4.
Hợp phần bảo tồn đa dạng sinh học
Hoạt động bảo tồn đa dạng sinh học sẽ được thực hiện tại 4 khu bảo tồn thiên
nhiên với tổng diện tích khoảng 71.396ha, của 4 xã vùng lõi cũng là những xã
được lựa chọn tham gia trồng và quản lý rừng, và một phần của 7 xã vùng đệm.
Trước khi đầu tư vào các khu bảo tồn này, mọi ranh giới và tình trạng sử dụng
đất phải được làm rõ và xác định trong khu vực bảo vệ và vùng đệm. Vì có rất
nhiều người sống trong khu bảo tồn, họ phải tham gia vào việc xác định các diện
tích sử dụng (nông nghiệp, chăn thả và lâm nghiệp) và các diện tích bảo vệ
Trang 19
Xác định môi trường sống và các loài/số lượng các loài chủ yếu.
•
Các hộ gia đình và cộng đồng thôn/bản trồng và phục hồi rừng trong khu
bảo tồn thiên nhiên và vùng đệm, dự tính khoảng hơn 3.000 ha.
Trang 20
Phần 4: GIẢI PHÁP THỰC HIỆN ĐỀ ÁN
4.1.
Các giải pháp xây dựng đề xuất
Giải pháp lâm sinh:
- Chọn loại đất trồng rừng: Số liệu sử dụng đất của Hoà Bình và Sơn La
Loại
Hoà Bình (ha) %
Sơn La (ha) %
Đất nông nghiệp
66.759
14,3
19.182
1,36
Đất không rừng QH cho LN
170.016
36,5
389.427
20,43
Đất khác
35.168
7,5
527.727
27,68
Tổng
466.253
1.906.465
Số liệu trên cho thấy diện tích đất trống cho trồng rừng, khoanh nuôi tái
Giải pháp về tổ chức:
Cơ cấu tổ chức cấp quốc gia:
Cơ quan chủ quản đề án là Bộ Nông nghiệp và PTNT; Cơ quan trực tiếp chịu
trách nhiệm thực hiện là Ban quản lý các đề án Lâm nghiệp.
Ban điều hành đề án cấp Trung ương sẽ được thành lập, do Thứ trưởng phụ
trách Lâm nghiệp của Bộ Nông nghiệp và PTNT làm Trưởng ban. Thành viên
BĐH là đại diện của UBND 2 tỉnh, đại diện các Cục/Vụ có liên quan của Bộ
Nông nghiệp và PTNT (Cục Lâm nghiệp, Cục Kiểm lâm, Vụ Hợp tác quốc tế,
Cục Đầu tư và XD cơ bản, Vụ Kế hoạch, Vụ TC và Ban quản lý các đề án lâm
nghiệp), đại diện Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính.
Ban quản lý Trung ương thuộc Ban quản lý các đề án lâm nghiệp gồm 1 Giám
đốc làm việc kiêm nhiệm và các cán bộ chuyên môn do Giám đốc đề xuất.
Nhiệm vụ quan trọng nhất của Ban quản lý Trung ương là xây dựng các hướng
dẫn kỹ thuật, tài chính và quản lý, quản lý nguồn vốn, điều phối các kế hoạch và
Trang 22
các hoạt động giữa các tỉnh, mua sắm xe cộ, lập kế hoạch tập huấn, xây dựng và
thực hiện hệ thống giám sát và báo cáo Bộ NN&PTNT và Nhà tài trợ.
4.2.
Giải pháp chọn: Tổng hợp cả hai giải pháp nói trên trong đó
quan trọng nhất là giải pháp tổ chức
Phần 5. TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ ÁN
5.1.
Phân công trách nhiện thực hiện đề án
hoạch thực hiện hàng năm.
Trang 24
- Sở Tài nguyên Môi trường phối hợp với Sở NN&PTNT thực hiện lập kế
hoạch và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ gia đình và tổ
chức tham gia.
- Sở Kế hoạch và đầu tư cùng với các cơ quan có liên quan xây dựng các kế
hoạch tài chính hàng năm theo tiến độ.
- Sở Tài chính phối hợp với Ngân hàng xây dựng sổ tay hướng dẫn giải
ngân
- Chi cục Kiểm lâm phối hợp xây dựng quy hoạch sử dụng đất và hướng
dẫn CBFM, và hỗ trợ chuẩn bị và thực hiện các kế hoạch hoạt động cho
Khu bảo tồn thiên nhiên.
Ban quản lý cấp tỉnh:
Ban quản lý cấp tỉnh gồm 1 Giám đốc ( Phó chủ tịch UBND tỉnh hoặc lãnh đạo
Sở NN&PTNT phụ trách Lâm nghiệp) và các cán bộ chuyên môn điều chuyển
từ các cơ quan quản lý Nhà nước.
Phân công nhiệm vụ giữa Ban điều hành và Ban quản lý tỉnh tương tự như ở cấp
Trung ương. Nhiệm vụ quan trọng hơn đối với Ban quản lý tỉnh bao gồm lập kế
hoạch hoạt động và tài chính cấp tỉnh, công tác kế toán, tham gia vào quá trình
xây dựng, soạn thảo các hướng dẫn kỹ thuật, tài chính và quản lý chi tiết, trong
khuôn khổ các hướng dẫn, giám sát hoạt động của cấp huyện, tổ chức các khoá
tập huấn và báo cáo tiến độ cho Ban quản lý đề án Trung ương.
Cấp Huyện
Ban quản lý huyện gồm 1 Giám đốc (Phó chủ tịch UBND huyện) và các cán bộ
chuyên môn. Cán bộ hiện trường và cán bộ phổ cập cấp xã và thôn/bản làm việc
dưới sự giám sát của Ban quản lý huyện. Ban quản lý huyện có nhiệm vụ xây
dựng các kế hoạch hoạt động hàng năm, phê duyệt kết quả điều tra lập địa và kế