Đồ án tốt nghiệp - Đinh Thế Lợi – Kinh tế Năng lượngK44
-----------------------------------------------------------------------------------------------------------------
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Khoa Kinh tế và quản lý
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
1
LỜI MỞ ĐẦU
Năng lượng, đặc biệt là điện năng đóng vai trò quan trọng trong quá
trình phát triển kinh tế xã hội. Điện năng được sản xuất từ các dạng năng
lượng khác nhau như: cơ năng của dòng nước, nhiệt năng của than đá, dầu
mỏ… các nhà máy điện thường được xây dựng tại nơi có các nguồn năng
lượng để đảm bảo tính kinh tế và trong sạch v
ề môi trường. Do đó, xuất hiện
vấn đề tải điện đi xa và phân phối điện đến nơi tiêu thụ. Trong quá trình
truyền tải và phân phối điện năng đã phát sinh sự tổn thất khá lớn. Đây là một
bộ phận cấu thành chi phí lưu thông quan trọng của ngành điện.
Trong các biện pháp nhằm giảm giá thành điện, giảm tổn thất điện nă
ng
là một biện pháp quan trọng mang lại hiệu quả kinh tế cao không chỉ đối với
ngành điện mà còn đối với cả xã hội.
Thật vậy, ngành điện là ngành độc quyền, nên việc giảm tổn thất điện
năng giúp cho nhà nước không phải bù lỗ, Ngân sách Nhà nước được đảm
bảo, được sử dụng vào các mục đích khác có lợi hơn. Về phía doanh nghiệp,
sẽ khai thác, sử d
ụng vào tối ưu nguồn điện, mang lại hiệu quả kinh tế cao
cho ngành. Đối với người tiêu dùng, được sử dụng điện với chất lượng cao,
giá điện vừa phải, phù hợp với mức sinh hoạt.
Từ nhiều năm qua, ngành điện đã quan tâm phấn đấu giảm tổn thất điện
năng, và đã đạt được những kết quả
rất đáng khích lệ. Nhưng ngành Điện là
Trong quá kinh doanh, truyền tải và phân phối điện n
ăng, có 2 loại tổn
thất là:
Tổn thất kỹ thuật
Tổn thất thương mại
Nếu như tổn thất kỹ thuật là tất yếu, thì tổn thất thương mại có thể giảm
đến con số không. Làm thế nào để giảm tổn thất điện năng đến mức thấp nhất
có thể vẫn là một câu hỏi rất lớn và là mục tiêu hàng đầu c
ủa toàn ngành Điện.
Tỉnh Quảng Ninh nằm ở vùng biên giới Đông Bắc nước ta, có diện tích
tự nhiên gần 5.950 km
2
, dân số khoảng 1.004 triệu người và là nơi hội tụ
nhiều yếu tố thuận lợi để tạo đà phát triển kinh tế nhanh, do có trữ lượng
“vàng đen” lớn nhất khu vực Đông Nam Á, có đường biên giới dài với các
nước bạn Trung Quốc, trong đó có cửa khẩu Móng Cái thông thương, sầm uất
hàng hoá, Có cảng biển Cái Lân nhiều tầu bè qua lại. Quảng Ninh còn là điểm
hấp dẫn khách du lịch trong nướ
c và Quốc tế đến thăm quan, nghỉ mát quanh
năm với khu du lịch Bãi Cháy, Tuần Châu, Trà Cổ…Đặc biệt có Vịnh Hạ
Đồ án tốt nghiệp - Đinh Thế Lợi – Kinh tế Năng lượngK44
-----------------------------------------------------------------------------------------------------------------
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Khoa Kinh tế và quản lý
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
3
Long nổi tiếng xinh đẹp, một di sản văn hoá thế giới. Đây là cơ hội để điện lực
Đồ án tốt nghiệp - Đinh Thế Lợi – Kinh tế Năng lượngK44
-----------------------------------------------------------------------------------------------------------------
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Khoa Kinh tế và quản lý
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
4CHƯƠNG I
CƠ SỞ CỦA VẤN ĐỀ QUẢN LÝ TỔN THẤT ĐIỆN NĂNG
TRONG NGÀNH ĐIỆN
I.1 - Ngành điện và vị trí của ngành điện trong nền kinh tế quốc dân
I.1.1 - Đặc điểm chung của ngành điện
Ngành điện là một ngành cơ sở hạ tầng, tạo nên động lực của toàn bộ
nền kinh tế xã hội. Nghị quyết Đại hội IX của Đảng đã xác định: phát huy
sức mạnh toàn dân tộc, tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hi
ện đại
hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam Xã hội chủ nghĩa, thực hiện mục
tiêu dân giầu nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh, đến năm 2010 phải
vượt qua được tình trạng nước nghèo và kém phát triển xây dựng nền tảng
để đến năm 2020 nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
Để thực hiện mục tiêu trọng đại này, ngành điện ph
ải đi trước một bước.
Trong bất cứ tình huống nào điện cũng phải bảo đảm cho yêu cầu công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và yêu cầu sinh hoạt của nhân dân. Tất cả
các nước phát triển đều dựa trên cơ sở điện khí hoá. Khi khoa học càng phát
triển thì vai trò của điện khí hoá càng rõ nét.
Điện năng là một sản phẩm đặc biệt, việc sản xuấ
t và tiêu dùng diễn ra
hàng tiêu thụ trước sau một thời gian mới ghi nhận và tính toán lượng điện
năng khách hàng đã tiêu dùng. Quá trình ghi nhận số liệu điện năng tiêu
dùng đó được chuyên biệt hoá thành công tác ghi điện. Vì vậy, trong kinh
doanh bán đ
iện xuất hiện nhu cầu cần phải có những biện pháp quản lý chặt
chẽ quá trình ghi điện.
Thời điểm lập hoá đơn, thu tiền và tiêu thụ hàng hoá trong kinh doanh
điện cũng mang tính chất đặc thù. Đối với những hàng hoá thông thường,
hầu như chỉ sau khi tập hợp hoá đơn, xuất kho và thu tiền, khách hàng mới
được tiêu dùng hàng hoá. Còn đối với sản phẩm điện, khách hàng tiêu dùng
xong mới lập hoá đơn và thu ti
ền, trong khi đó phải bỏ ra chi phí lưu thông
trước. Nếu thu nhanh được tiền, tức là quay nhanh vòng vốn kinh doanh.
Chính vì vậy, trong kinh doanh điện xuất hiện nhu cầu quản lý chặt khâu thu
tiền và rút ngắn thời gian khách hàng nợ.
Giá cả trong kinh doanh điện năng cũng khác nhau. Với hàng hoá thông
thường, giá mua hàng và giá bán hàng do thị trường quyết định. Còn trong
Đồ án tốt nghiệp - Đinh Thế Lợi – Kinh tế Năng lượngK44
-----------------------------------------------------------------------------------------------------------------
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Khoa Kinh tế và quản lý
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
6
kinh doanh điện, một mặt do điện năng là một loại vật tư kỹ thuật có tính
chiến lược, mặt khác do nước ta đang trong thời kỳ quá độ lên XHCN, nền
kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước đang trong giai đoạn hình
thành và phát triển, nên Nhà nước còn phải có những điều tiết nhất định,
trong đó có giá mua và giá bán điện. Bên cạnh đó, bán điện cho khách hàng
còn được điều chỉnh bởi mục đích sử dụng ( dùng cho sinh hoạt và hộ gia
đình, dùng cho sản xuất và cơ quan hành chính sự nghiệp hay dùng để chạy
thì tổn thất phi kỹ thuật là hoàn toàn do chủ quan của những người làm công
tác sản xuất kinh doanh: bị ăn cắp điện, tính toán điện năng trên hoá đơn
sai,…tuy nhiên, điều khó khăn là phân biệt được chính xác hai loại tổn thất
này vì hầu như không bao giờ biết được có tổn th
ất phi kỹ thuật hay không?
Điện năng vừa là tư liệu sản xuất vừa là tư liệu tiêu dùng. Sản phẩm
điện đặc biệt ở chỗ, nó ít có khả năng lựa chọn khách hàng. Các hộ tiêu
dùng rất đa dạng, từ những hộ tiêu thụ vài kWh/ tháng đến những hộ tiêu thụ
vài triệu kWh/ tháng. Điện luôn gắn bó với mọi hoạt động sản xuất kinh
doanh và thân thiết trong sinh ho
ạt hàng ngày của toàn xã hội.
Tính chất đặc biệt trong kinh doanh điện năng cho thấy quản lý kinh
doanh điện năng thực sự là một ngành lớn và phức tạp. Mọi chiến lược kinh
doanh luôn phải xuất phát từ những đặc thù đó thì mới mang lại năng xuất
và hiệu quả tối ưu cho ngành điện: tăng doanh thu để tăng lợi nhuận nhưng
phải đảm bảo ti
ết kiệm điện đến mức tối đa.
I.1.2- Vị trí của ngành điện trong nền kinh tế quốc dân
Năng lượng mà đặc biệt là điện năng đóng vai trò quan trọng trong sự
phát triển kinh tế xã hội. Việc phát triển ngành điện luôn phải đi trước một
bước và đã được Nhà nước ta nhiều năm nay rất quan tâm.
Đại hội Đảng lần thứ IX đ
ã định ra phương hướng, nhiệm vụ chủ yếu
về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2000- 2004: “phát huy mọi
nguồn lực để phát triển sản xuất, đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại
hoá…tập trung sức cho mục tiêu đạt tốc độ phát triển kinh tế bình quân từ 7-
8%…”.Để thực hiện tốt những nhiệm vụ nêu trên, Đại hội Đảng lần thứ IX
cũng nêu rõ “ngành Điện phải tăng nhanh nguồn điện, hoàn thành và xây
dựng một số cơ sở phát điện lớn để tăng thêm khoảng 45 –50 tỷ KWh điện
công suất huy động đến năm 2005 và gối đầu khoảng 70-80 tỷ KWh cho giai
hoá đất nước, nâng cao đời sống văn hoá, tinh thần của người dân cả nước
nói chung và vùng sâu, vùng xa, miền núi nói riêng. Do đó, ngành
điện phải
nâng cao hiệu quả kinh doanh bằng cách phải đầu tư nhiều thiết bị kỹ thuật
thích hợp nhằm đáp ứng được nhu cầu dùng điện của các phụ tải.
I.2 - Yêu cầu cơ bản của việc quản lý kinh doanh điện năng
I.2.1- Nội dung công tác truyền tải và kinh doanh điện năng
Công tác kinh doanh trong ngành điện bao gồm các nội dung:
* Truyền tải điệ
n từ Nhà máy sản xuất điện đến các trạm hạ áp, trạm
biến áp rồi đến các hộ tiêu dùng.
* Ký kết hợp đồng cung ứng sử dụng điện.
ỏn tt nghip - inh Th Li Kinh t Nng lngK44
-----------------------------------------------------------------------------------------------------------------
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Khoa Kinh t v qun lý
Trng i hc Bỏch Khoa H Ni
9
* T chc thc hin v kim tra vic thc hin hp ng.
* t v qun lý cụng t.
* Ghi ch s in nng tiờu th.
* Lm hoỏ n.
* Thu tin in.
* Phõn tớch kt qu kinh doanh in nng.
S 01
: S biu din tin trỡnh cụng tỏc kinh doanh in nng.
I.2.2- Mt s yờu cu trong cụng tỏc qun lý truyn ti v kinh doanh
in nng
Vic qun lý quỏ trỡnh truyn ti v phõn phi in nng phi t c
phẩm
Ngân hng thanh toán
(Đối với hộ sử dụng điện cơ quan)
Đồ án tốt nghiệp - Đinh Thế Lợi – Kinh tế Năng lượngK44
-----------------------------------------------------------------------------------------------------------------
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Khoa Kinh tế và quản lý
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
10
* Điện năng phải cung cấp liên tục. Mất điện sản xuất sẽ bị đình trệ.
Mất điện đột ngột, thiết bị và sản phẩm có thể bị hư hỏng. Điện cung cấp
cho các hộ tiêu dùng với yêu cầu đủ số lượng, chất lượng và thời gian.
* Bảo đảm tính an toàn cho sản xuất và tiêu thụ đối với thiết bị
tiêu
thụ điện: điện áp cung cấp phải ổn định, tần số dòng điện phải ổn định. Vì
hệ thống điện là một hệ thống khép kín và thống nhất, có tính đồng bộ cao
từ khâu sản xuất đến khâu tiêu thụ, nếu chỉ cần một khâu nào đó trong dây
truyền sản xuất bị sự cố thì nó sẽ ảnh hưởng rất lớn
đến toàn bộ hệ thống.
* Bảo đảm công tác quản lý trong quá trình truyền tải và phân phối
điện năng: giảm lượng tổn thất điện năng trong quá trình truyền tải và phân
phối kinh doanh điện năng.
Nếu khâu quản lý tốt sẽ giảm được chi phí đầu vào của quá trình sản
xuất kinh doanh, góp phần hạ giá thành của 1kWh điện, dẫn đến giảm giá
bán điện, tạo đi
ều kiện cho việc hạ chi phí đầu vào cho các ngành sản xuất
và giảm chi phí cho các hộ tiêu dùng điện sinh hoạt, góp phần thúc đẩy nền
sản xuất phát triển và nâng cao đời sống của nhân dân.
I.3- Tổn thất điện năng và những nhân tố ảnh hưởng đến tổn thất điện năng
G
H
=P
tb
*Δ Q
Trong đó:
G
H
: giá trị điện năng bị tổn thất (đơn vị : đồng, nghìn, triệu,… )
Δ Q: lượng điện năng bị tổn thất (đơn vị : KWh )
P
tb
: giá điện bình quân 1 KWh (đơn vị : đồng, nghìn, triệu,… )
Tổn thất điện năng, như đã trình bày, là lượng tổn thất trong tất cả các
khâu từ khâu sản xuất (phát điện) truyền tải phân phối điện (quá trình lưu
thông) đến khâu tiêu thụ.
I.3.2- Phân loại tổn thất điện năng
Tổn thất điện năng nói chung bao gồm:
* Tổn thất điện n
ăng trong quá trình sản xuất (quá trình phát điện).
* Tổn thất điện năng trong quá trình truyền tải và phân phôi điện năng.
* Tổn thất điện năng trong quá trình tiêu thụ.
I.3.2.1- Tổn thất trong quá trình sản xuất (quá trình phát điện)
Trong quá trình sản xuất điện, phải sử dụng các máy phát điện. Do
không sử dụng đồng bộ hệ thống máy phát điện nên không phát huy được
hết công suất củ
a máy móc và hiệu quả kinh tế không cao. Do máy phát
không phát huy được hết công suất nên một lượng điện cũng đã bị tổn thất.
I.3.2.2- Tổn thất trong quá trình truyền tải và phân phối điện năng
Trong quá trình truyền tải và phân phối điện năng, người ta chia tổn
ưới điện. Tổn thất kỹ thuật xảy ra ở trên
các đường dây, trong máy biến áp, phụ thuộc vào thông số kỹ thuật của
đường dây và máy.
Chúng ta có thể tham khảo về tỉ lệ tổn thất kỹ thuật ở một số nước : các
nước phát triển có trình độ khoa học kỹ thuật tiên tiến: Mỹ, Singapoer,…thì tỷ lệ
này là 4%. Các nước trong khối ASEAN tỷ lệ tổn thất là 6,7%, các nước chậ
m
phát triển thì tỷ lệ này là 20-30%. (3)
b/ Tổn thất thương mại
Là lượng điện tổn thất trong quá trình phân phối điện đến người tiêu
dùng do sự vi phạm quy chế sử dụng điện. Đó là lượng điện bị tổn hao do
tình trạng các tập thể, xí nghiệp, hộ tiêu thụ lấy cắp điện, khách hàng bị bỏ
Đồ án tốt nghiệp - Đinh Thế Lợi – Kinh tế Năng lượngK44
-----------------------------------------------------------------------------------------------------------------
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Khoa Kinh tế và quản lý
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
13
sót, đội ngũ cán bộ quản lý yếu kém hoặc cố ý móc ngoặc thông đồng với
khách hàng, việc ghi sai số công tơ, thu tiền điện không đúng kỳ hạn, giá
điện không phù hợp với loại điện sử dụng.
I.3.2.3- Tổn thất ở khâu tiêu thụ
Mức độ tổn thất ở khả năng này phụ thuộc vào khả năng sử dụng, điều
kiện trang b
ị các thiết bị phụ tải ở các hộ dùng điện. Nguyên nhân gây nên
tổn thất ở khâu này là việc sử dụng điện không hợp lý của các đối tượng sử
dụng điện.
Ví dụ: Trong các hộ sử dụng điện, nếu sử dụng dây dẫn không đủ lớn
so với phụ tải, cách điện không tốt trên các phần cách điện thì sẽ dẫn đế
n
xuất, truyền tải, phân phối và sử dụng điện năng một cách tin cậy, kinh tế
và chất lượng đảm bảo. Sơ đồ 02
: Sơ đồ hệ thống điện:
1 2 3 4 5
Nhà máy điện Trạm tăng Đường dây Trạm hạ áp Nơi tiêu thụ
tải điện
Phần hệ thống điện bao gồm các trạm biến áp và các đường dây tải
điện: gồm hàng chục các bộ phận rất đa dạng: máy biến áp, máy cắt, dao
cách ly, tụ bù, sứ xuyên thanh cái, cáp ngầm, c
ột, đường dây trên không;
phụ kiện đi nối dây dẫn và dây chống sét với cột, sứ cách điện,…Các bộ
phận này đều phải chịu tác động của thiên nhiên (gió, mưa, ăn mòn, băng
giá, sét, dao động, nhiệt độ, bão từ, rung động do gió, văng bật dây,…). Hệ
thống điện của nước ta phần lớn là nằm ở ngoài trời, do đó tất yếu sẽ chịu
ảnh rất lớ
n của điều kiện tự nhiên. Sự thay đổi, biến động của môi trường tự
nhiên có ảnh hưởng rất lớn tới sự tổn thất điện năng của ngành điện.
Nước ta nằm ở vùng nhiệt đới gió mùa, nên độ ẩm tương đối cao, nắng
lắm mưa nhiều đã gây không ít khó khăn cho việc bảo dưỡng thiết bị và vận
Đồ án tốt nghiệp - Đinh Thế Lợi – Kinh tế Năng lượngK44
trụ vị trí 371 đường dây 110 KV Huế - Đà Nẵng có nguy cơ gây sự cố lớn
cho hệ thống,… theo số
liệu thống kê của cơ quan chức năng trong ngành thì
những tổn thất của ngành do đợt thiên tai gây ra với 01 người chết, thiệt hại
về tài sản khoảng gần 30 tỷ đồng trong tổng số thiệt hại 3.300 tỷ đồng; có 55
vị trí cột điện, đường dây tải điện 110- 220 KV, 24 cột đường dây 500 KV
Bắc Nam có nguy cơ bị đổ do xói lở trụ và kè móng; 124,5 km đường dây
cao, hạ thế và 61 trạ
m biến áp, dung lượng 22,380 KVA bị hư hỏng. Đặc
Đồ án tốt nghiệp - Đinh Thế Lợi – Kinh tế Năng lượngK44
-----------------------------------------------------------------------------------------------------------------
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Khoa Kinh tế và quản lý
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
16
biệt là toàn bộ nhà máy thuỷ điện An Điểm trên địa bàn tỉnh Quảng Nam bị
phá huỷ hoàn toàn.
I.3.3.2- Các nhân tố chủ quan
a/ Công nghệ trình độ kỹ thuật của máy móc thiết bị trong hệ thống
truyền tải và phân phối điện năng
Trong quá trình phân phối và truyền tải điện năng thì tổn thất điện
năng là không tránh khỏi. Lượng tổn thất điện nă
ng theo lý thuyết là lượng
tổn thất kỹ thuật - lượng điện năng tiêu tốn để phục vụ cho công nghệ truyền
tải điện. Lượng điện năng tiêu tốn cho công nghệ này lớn hay nhỏ đều phụ
thuộc vào trình độ kỹ thuật truyền tải. Do đó, nếu kỹ thuật công nghệ của
thiết bị càng tiên tiến thì sự cố càng ít xảy ra, và có thể t
ự ngắt khi sự cố
xảy ra,… dẫn đến lượng điện hao tổn càng ít. Để vận hành máy truyền tải
mất ít thời gian vận hành hơn, tốn ít năng lượng nên lượng điện mất mát
cuộn 22 KV mà các cuộn 35, 15, 10, 6 KV vẫn bị quá tải. Như vậy, l
ượng
tổn thất vẫn bị tăng do chạy máy không tải và do một số trạm quá tải.
Tất cả những nhân tố trên đều dẫn đến tổn thất điện năng. Muốn giảm
được lượng điện tổn thất này thì phải cải tiến kỹ thuật công nghệ truyền tải
nhưng phải cải tiến đồng bộ.
b/ Tổ chức s
ản xuất kinh doanh
Để quản lý tốt sản phẩm của mình, giảm lượng điện hao hụt trong quá
trình phân phối và truyền tải điện năng, người lao động đóng vai trò không nhỏ,
các công nhân, kỹ sư,…phải có trình độ chuyên môn nghiệp vụ nhất định. Phải
thông thạo về kỹ thuật, kinh tế, nghiệp vụ về điện để tuyên truyền, hướng dẫn
cho khách hàng trong quá trình mua hàng và phương pháp sử
dụng, nhất là an
toàn điện, tránh xảy ra những tổn thất không đáng có. Phải thông thạo trong việc
sử dụng, kiểm tra các thiết bị điện thuộc phạm vi mình quản lý. Khi có sự cố xảy
ra: chập, cháy, nổ,…thì những cán bộ công nhân ngành điện phải được đào tạo
chính quy và có trình độ kỹ thuật nghiệp vụ tối thiểu. Trình độ cán bộ, công
nhân ngày càng cao thì xử lý các tình huống càng kịp thờ
i, chính xác. Bên cạnh
đó, việc bố trí đúng người, đúng việc trong ngành điện rất quan trọng, một mặt
giúp họ phát huy hết khả năng của mình, mặt khác đảm bảo được an toàn, bởi
ngành điện là ngành có yêu cầu cao về kỹ thuật. Được bố trí công việc phù hợp
giúp cho cán bộ, công nhân say mê, sáng tạo, tránh được các hành vi tiêu cực do
chán nản gây ra: làm việc thiếu nhiệt tình, không tận tuỵ hết lòng vì công việc,
khi có sự cố
xảy ra, xử lý chậm chạp, không đúng quy trình, quy phạm kỹ thuật,
gây thiệt hại lớn; nhân viên ghi công tơ không đều đặn theo lịch hàng tháng, ghi
sai chỉ số, ghi chỉ số khống,…; hiện tượng cán bộ công nhân viên ngành điện
Đồ án tốt nghiệp - Đinh Thế Lợi – Kinh tế Năng lượngK44
phiền hà khách hàng, còn nhiều hiện tượng thiếu trách nhiệm trong khi thực hiệ
n
ghi chỉ số công tơ hoặc còn hiện tượng các đơn vị hạch toán sai trong công tác
kinh doanh. Chính sự bất bình này dẫn đến những hiện tượng tiêu cực của người
sử dụng điện: câu móc trộm điện, quay ngược công tơ, vô hiệu hoá công
tơ,…dẫn đến tổn thất điện năng.
Vậy, để quản lý tốt sản phẩm của mình trong đó có giảm lượng đ
iện năng
hao tổn thì việc tổ chức sản xuất hợp lý, tạo mối liên hệ cân đối, hài hoà giữa
các bộ phận, phải có một đội ngũ nhân viên có trình độ, tinh thần trách nhiệm
Đồ án tốt nghiệp - Đinh Thế Lợi – Kinh tế Năng lượngK44
-----------------------------------------------------------------------------------------------------------------
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Khoa Kinh tế và quản lý
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
19
cao với công việc là hết sức cần thiết. Tổ chức sản xuất kinh doanh không hợp
lý tất yếu dẫn đến hoạt động của ngành kém chất lượng, điện cung cấp không
đầy đủ cả về số lượng và chất lượng, hao tổn điện năng nhiều.
c/ Quản lý khách hàng
Ngành điện là ngành cơ sở hạ tầng, tạo nên động lực của toàn bộ
nền kinh
tế xã hội. Điện năng là một loại sản phẩm hàng hoá đặc biệt quan trọng, gắn với
đời sống hàng ngày của con người. Chính vì vậy, khách hàng tiêu thụ điện rất đa
dạng, thuộc mọi tầng lớp, mọi lĩnh vực, mọi miền và mọi vùng của quốc gia, từ
khách hàng chỉ tiêu thụ 2-3 KWh/tháng đến những khách hàng tiêu thụ hàng
triệu KWh/ tháng.
Khách hàng của ngành điệ
n gồm sản xuất công nghiệp, sản xuất nông
nghiệp, thuỷ lợi, dịch vụ thương mại và sinh hoạt tiêu dùng ở đô thị, nông thôn
Quản lý khách hàng thông qua quản lý công tơ các hộ sử dụng điện; các
công tơ chết cháy không đạ
t chất lượng phải được thay kịp thời. Các hình thức
vi phạm hợp đồng sử dụng điện phải bị xử phạt nghiêm minh.
Như vậy, công tác quản lý khách hàng tốt sẽ góp phần rất lớn vào việc
giảm tổn thất điện năng của ngành điện.
I.3.4 - Ý nghĩa của việc giảm tổn thất điện năng
Giảm tổn th
ất điện năng là một vấn đề cần thiết không chỉ đối với ngành
điện, không chỉ đối với riêng Điện Việt Nam mà đối với ngành điện các nước
trên thế giới. Giảm tổn thất điện năng có một ý nghĩa to lớn đối với nền kinh tế
quốc dân và ngành điện.
Theo EVN, năm 2003 Việt Nam giảm được 1% điện n
ăng tổn thất sẽ tiết
kiệm được 237.400MW, tương ứng với gần 179 tỷ đồng (tổng sản lượng điện
phát ra năm 2003 là 7.2 tỷ KWh).
Ngành điện là một ngành sản xuất kinh doanh sản phẩm điện nên muốn
tiếp tục duy trì và phát triển thì ngành điện phải có lợi nhuận để thực hiện tái đầu
tư mở rộng để phát triển. Nếu s
ản phẩm điện mua về từ các nhà máy phát điện,
trong quá trình truyền tải và phân phối bị tổn thất 100% thì các Công ty kinh
doanh điện sẽ không có lợi nhuận, thâm hụt ngân quỹ do chỉ có đầu ra mà không
có đầu vào và các Công ty kinh doanh thuộc ngành điện sẽ nhanh chóng bị phá
sản, không tồn tại.
Trong trường hợp lượng điện tổn thất với tỷ lệ cao. Do đây chính là một
bộ phận cấu thành nên chi phí sả
n phẩm, nên khi tỷ lệ tổn thất cao tất yếu sẽ dẫn
đến giá thành điện cao. Công ty kinh doanh điện muốn có lợi nhuận để thực hiện
tái đầu tư thì giá bán phải cao hơn giá thành sản phẩm, giữa giá bán và giá thành
là mối quan hệ tỷ lệ thuận. Giá bán điện cao, theo quy luật cung- cầu, dẫn đến
điện, kích thích tiêu dùng.
Đối với các hộ sử dụng điện để sản suất, giá điện giảm sẽ góp phần nâng
cao hiệu quả sản xuấ
t, tăng thêm thu nhập thực tế. Các sản phẩm hàng hoá được
kích thích tiêu dùng hơn do giá bán thấp, sức mua tăng lên.
Đối với Nhà nước, tổn thất điện năng giảm, ngành điện tiêu thụ được
nhiều điện, có lợi nhuận nên Nhà nước không phải bù lỗ, Ngân sách Nhà nước
được sử dụng đầu tư vào các công việc có ích khác, tạo sự phát triển đồng đều
cho xã hội.
Đồ án tốt nghiệp - Đinh Thế Lợi – Kinh tế Năng lượngK44
-----------------------------------------------------------------------------------------------------------------
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Khoa Kinh tế và quản lý
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
22
Người dân, hộ sử dụng điện được dùng điện với giá thấp, chất lượng cao:
điện áp cố định, tần số ổn định do hệ thống điện được đầu tư mới, không còn
hiện tượng câu móc điện làm cho điện sử dụng bị sụt tải,…nên độ bền của các
máy móc, thiết bị cao hơn. Không còn xảy ra các tình trạng tai nạn v
ề điện đáng
tiếc do vi phạm sử dụng điện, sự cố do điện gây ra: phóng điện, chập điện,…
Việc giảm tổn thất điện năng có ý nghĩa rất lớn đối với toàn xã hội từ Nhà
nước đến ngành điện, các hộ tiêu dùng. Chính vì lẽ đó nên tổn thất điện năng đã,
đang và sẽ còn là vấn
đề quan trọng, là mục tiêu số một của ngành điện cần
được giải quyết.
Qua quá trình tiếp quản và phát triển, đến nay Điện lực Quảng Ninh đã trở
thành một doanh nghiệp quy mô lớn trực thuộc Công ty Điện lực I- Tổng công
ty Điện lực Việt Nam (EVN). Nhiệm vụ chính của doanh nghi
ệp là truyền tải và
kinh doanh bán điện. Ngoài ra, Điện lực Quảng Ninh còn làm Ban Quản lý A
các công trình xây dựng cơ bản do vốn ngân sách Nhà nước cấp, đầu tư xây
dựng và mở rộng lưới điện của doanh nghiệp.
Ngoài các chi nhánh điện Hạ Long, Cẩm Phả, Uông Bí, Yên Hưng, Điện
lực Quảng Ninh còn thành lập thêm một số chi nhánh mới, mở rộng thêm mạng
lưới tiêu thụ:
- Năm 1989, thành l
ập chi nhánh điện Hoành Bồ.
- Năm 1991, thành lập chi nhánh Điện Vân Đồn.
Đồ án tốt nghiệp - Đinh Thế Lợi – Kinh tế Năng lượngK44
-----------------------------------------------------------------------------------------------------------------
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Khoa Kinh tế và quản lý
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
24
- Năm 1993, đưa lưới điện quốc gia đến huyện Tiên Yên.
- Năm 1994, đưa lưới điện quốc gia đến huyện Bình Liêu, Ba chẽ,
Quảng Hà.
- Năm 1996, đưa lưới điện quốc gia đến Móng Cái, Trà Cổ.
- Năm 1998, thành lập chi nhánh điện Móng Cái (tiếp nhận từ nhà máy
điện Móng Cái).
- Năm 1998, thành lập chi nhánh điện Đông Triều ( tách từ chi nhánh
đ
iện Uông Bí ).
- Năm 1999, thành lập chi nhánh điện Tiên Yên.
Vậy, Điện lực Quảng Ninh đã đưa được điện đến tất cả các huyện, các xã
lưới điện.
* Thiết kế quy hoạch lưới điện cấp điện áp từ 35KV trở xuống trên địa
bàn tỉnh.
* Tư vấn thiết kế điện từ 35KV trở xuống trên địa bàn tỉnh.
* Thí nghiệm điện, đo lường các thiết bị điệ
n sử dụng trong lưới điện
trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh.
* Xây dựng các đường dây và trạm từ 35KV trở xuống.
II.2.2- Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của Điện lực Quảng Ninh
Phạm vi tiêu thụ sản phẩm điện năng của Điện lực Quảng Ninh trải dài
gần 300km, nên việc quản lý chặt chẽ hoạt động sản xuất kinh doanh là mộ
t vấn
đề khó khăn phức tạp.
Điện lực Quảng Ninh là một đơn vị hạch toán phụ thuộc nằm trong dây
truyền kinh doanh bán điện do Công ty Điện lực I quản lý, do vậy về kết cấu
quản lý có những đặc thù chung của ngành điện.
Nhiệm vụ chính của Điện lực Quảng Ninh là truyền tải điện từ nhà máy
nhiệt điệ
n Uông Bí đến các phụ tải, nên tất cả các bộ phận sản xuất Điện lực đều
nhằm mục đích cơ bản là cung cấp điện an toàn, liên tục và ổn định cho các hộ
tiêu thụ điện. Để điện năng được cung cấp liên tục, Điện lực Quảng Ninh biên
chế gồm 04 bộ phận cơ bản:
- Bộ phận qu
ản lý vận hành.
- Bộ phận sửa chữa, thí nghiệm, hiệu chỉnh.
- Bộ phận phục vụ.
- Bộ phận kinh doanh bán điện.
II.2.2.1- Bộ phận quản lý vận hành
Chủ đạo của bộ phận này là phòng Kỹ thuật, phòng An toàn lao động và
phòng Điều độ.