1
LỜI NÓI ĐẦU
Nhu cầu trao đổi thông tin là nhu cầu thiết yếu trong xã hội hiện đại.
Trong thập kỷ vừa qua là sự bùng nổ của Internet thì trong thập kỷ tới là sự
bùng nổ của mạng thông tin di động thế hệ ba 3G và các dịch vụ mới.Cùng
với việc cho phép kết nối mọi nơi, mọi lúc, Internet cũng chỉ là một trong
những khả năng của mạng 3G. 3G mang tới nhiều tiện ích, ứng dụng hơn là
khả năng di động cho Internet. Các dịch vụ mới sẽ xuất hiện như nhắn tin đa
phương tiện, các dịch vụ định vị, các dịch vụ thông tin cá nhân, vui chơi giải
trí, các dịch vụ ngân hàng, thanh toán điện tử…sẽ phát triển mạnh. Ở Việt
Nam trong những năm vừa qua cũng có sự phát triển mạnh mẽ về thông tin di
động cũng như Internet và tiến tới các hệ thống thông tin di độ
ng thế hệ thứ
ba cũng đã và sẽ được nhanh chóng triển khai.
Để theo kịp xu thế chung của thế giới là tiến tới mạng thế hệ sau 3G và
cung cấp các dịch vụ mới, việc nghiên cứu để triển khai, chuyển đổi sang
mạng 3G tại Việt Nam là cần thiết. Đối với nhà khai thác mạng di động GSM
thì cái đích 3G là hệ thống thông tin di động CDMA băng rộng (W-CDMA)
theo chuẩn IMT-2000
Xuất phát từ
định hướng này, đồ án tốt nghiệp đại học của em với đề tài
“Nghiên cứu hệ thống thông tin di động thế hệ thứ ba (3G) W-CDMA và
khả năng ứng dụng ở Việt Nam trong tương lai” nhằm tìm hiểu những kiến
thức về hợp chuẩn IMT-2000, công nghệ W-CDMA và hệ thống thông tin di
động W-CDMA nói chung. Để từ đó có thể xây dựng cấu trúc mạng 3G phù
hợp với xu hướng phát triển củ
a mạng thông tin di động ở Việt Nam nhất là
đối với mạng GSM.
thì nhu cầu về các dịch vụ gia tăng trên thông tin di động như truy cập
Internet, truyền dữ liệu tốc độ cao... bắt đầu phát triển. Chương 1 củ
a đồ án
trình bày về lịch sử hình thành và phát triển của thông tin di động qua các thế
hệ và những vấn đề chủ yếu của loại hình thông tin hiện đại này.
1.1. Quá trình phát triển của thông tin di động
1.1.1 Sự xuất hiện của thông tin di động thế hệ 1G và 2G
Vào cuối thế kỷ XIX, các thí nghiệm của nhà bác học người Ý Maconi
Guglielmo (1874-1937, giải nobel vật lý năm 1909) đã cho thấy thông tin di
động có thể thực hiện giữa các máy thu – phát ở xa nhau và di động. Thông
tin di động lúc đó chủ yếu sử dụng mã Morse, mãi tới năm 1928 hệ thống vô
tuyến truyền thanh mới được thiết lập, thoạt tiên cho cảnh sát. Đến năm 1933
sở cảnh sát Bayone, New Jersey mới thiết lập được một hệ thống thoại vô
tuyến di động tương đối hoàn chỉnh trên thế giới. Thời đó, các thiết bị thông
tin di động rất cồng kềnh, nặng hàng chục kilogam, đầy t
ạp âm và rất tốn
nguồn do sử dụng các đèn điện tử tiêu thụ nguồn lớn. Công tác trong dải tần
thấp của băng VHF, các thiết bị này liên lạc được với nhau trong khoảng cách
hàng chục dặm. Sau đó, quân đội cũng dùng thông tin di động để triển khai và
chỉ huy chiến đấu có hiệu quả. Nói chung hệ thống thông tin di động thời này
có chất lượng kém.
Thông tin di động đã được đưa vào sử
dụng rộng rãi tại Mỹ năm 1946,
khi đó nó chỉ được sử dụng ở phạm vi thành phố. Hệ thống này có sáu kênh
4
sử dụng cấu trúc ô rộng với tần số 150MHz. Mặc dù, các khái niệm tế bào,
trải phổ, điều chế số, và các công nghệ hiện đại khác đã được biết đến hơn 50
năm trước đây, nhưng đến những năm 1960 dịch vụ điện thoại di động tế bào
mới xuất hiện. Các hệ thống thông tin di động đầu tiên này ít có tiện ích và có
Mobile). Sự cạnh tranh giữa các nhà cung cấp dịch vụ đang mở ra một tương
lai mới cho thị trường thông tin di động ở Việt Nam. Song song với sự phát
triển hệ thống thông tin di động tế bào nói trên, các hệ thống thông tin di động
hạn chế cho mạng nội hạt sử dụng máy cầm tay không dây số cũng được
nghiên cứu phát triển. Hai hệ thống điển hình cho loại thông tin này là DECT
(Digital Enhanad Curdless Telecom) của châu Âu và PHS của Nhật cũ
ng đã
được đưa vào khai thác. Các hệ thống thông tin di động kỹ thuật nói trên, sử
dụng phương pháp đa truy nhập TDMA như GSM (châu Âu), FPC (Nhật),
hoặc phương pháp đa truy nhập CDMA (IS – 95 Mỹ) đều thuộc thế hệ 2G
Bắc Mỹ
PDC
(Nhật Bản)
IS - 54 IS - 95
GSM
Châu Âu
Băng tần 800MHz/1,5Gh 800MHz 900MHz
Khoảng
cách tần số
50kHz (xen kẽ
25kHz)
50kHz (xen kẽ
25kHz)
1,25 MHz 400kHz (xen kẽ
200kHz)
Cơ chế truy
nhập
TDMA/FDD TDMA/FDD DS-
CDMA/FDD
PSI-CEPT: Dự báo tuyến tính kích thích mã - đổi đồng bộ âm
Các hệ thống 2G có nhiều điểm nổi bật như chất lượng thông tin được
cải thiện nhờ các công nghệ xử lý tổng hợp số khác nhau, nhiều dịch vụ mới
(Ví dụ: các dịch vụ phi thoại), kỹ thuật mã hoá cải tiến, dung lượng cao hơn
tương thích tốt hơn với các mạng số và phát huy hiệu quả dải phố vô tuyến
(Bảng 1.1 mô tả) chuyển vùng trở thành m
ột phần của dịch vụ và vùng phủ
song cũng ngày càng rộng hơn, nhưng vẫn phải đối mặt với các vấn đề hạn
chế về dụng lượng trên nhiều thị trường.
1.1.2 Sự xuất hiện của hệ thống thông tin di động thế hệ thứ 3 (3G).
Thông tin di động ngày nay đang tiến tới hệ thống thế hệ thứ 3 (3G)
hứa hẹn dung lượng thoạ
i lớn hơn, kết nối dung lượng di động tốc độ cao hơn
và sử dụng các công dụng đa phương tiện. Các hệ thống viễn thống thế hệ
(3G) cần cung cấp dịch vụ thoại với chất lượng tương đối các hệ thống hữu
tuyến và dịch vụ truyền số liệu có tốc độ từ 144 kbit/s đến 2Mb/s. Hiện đang
có hai hệ thống tiêu chu
ẩn hoá: Một dựa trên chuẩn hệ thống CDMA băng
hẹp IS – 95, được gọi là CDMA 2000. Chuẩn kia là sự kết hợp của các tiêu
chuẩn Nhật Bản và châu Âu do dự án hợp tác thế hệ thứ 3 (3GPP) tổ chức.
3GPP đang xem xét tiêu chuẩn vô tuyến truy nhập vô tuyến mặt đất (UTRA
UMTS – Terrestrial Radio Access). UMTS – tiêu chuẩn này có hai sơ đồ truy
nhập vô tuyến. Một trong số đó sắp xếp các cặp dải tần thông qua ghép song
7
công phân chia theo tần số (FDD) thường gọi là CDMA băng thông rộng W-
CDMA
1.1.2.1 So sánh – đánh giá các phương pháp đa truy nhập FDMA, TDMA
và CDMA
Trước khi xem xét tương lai của 3G cũng cần khảo sát hoạt động của
Các hệ thống CDMA giải quyết vấn đề dung lượng theo một cách hoàn
toàn khác. Nó cũng dùng vocoder để số hoá tín hiệu thoại nhưng không phân
bổ khe thời gian mà gán cho mỗi chiều thoại một mã duy nhất trước khi đưa
lên kênh vật lý. Quá trình này còn được gọi là điều chế
tạp âm vì tín hiệu đầu
ra của nó giống như tạp âm nền. Tất nhiên là quá trình này có cơ sở toán học
của nó xong việc quan sát trong thực tế cũng phần nào lý giải được các khái
niệm. Ta hình dung, khi ta đang đi vào một khu vực đông người, trước hết ta
nghe thấy các giọng nói. Ta nói tiếng Việt, ta sẽ nghe thấy những mẩu hội
thoại bằng tiếng Việt. Cũng như thế người Pháp nghe thấy giọ
ng nói người
Pháp, người Anh nghe thấy giọng nói người Anh và tương tự với tất cả các
thứ ngôn ngữ trên đời, ta có thể nghe từng cuộc hội thoại nếu như tạp âm tổng
thể ở dưới một mức tối đa nào đó. Điều này có nghĩa là số tối đa các cuộc gọi
trong hệ thống CDMA là một phương trình của tạp âm nền cộng với các tạp
âm do mỗi cuộc gọi tạo ra. So sánh với TDMA, CDMA có dung lượng cao
9
hơn với chất lượng bằng hoặc tốt hơn. Trong hơn 1 tỷ thuê bao điện thoại di
động trên Thế giới, khoảng 863,6 triệu thuê bao sử dụng công nghệ GSM, 120
triệu dùng CDMA và 290 triệu còn lại dung FDMA hay TDMA. Khi chúng ta
tiến tới 3G, các hệ thống GSM và CDMA sẽ tiếp tục phát triển, trong khi
FDMA, TDMA sẽ chìm dần vào quên lãng. Con đường GSM sẽ tới là CDMA
băng thông rộng (W-CDMA) trong khi CDMA sẽ là CDMA 2000.
1.1.2.2. Hướng về 3G trong thông tin di động.
Hình 1.2: Lộ trình phát triển của các hệ thống thông tin di động lên 3G
Từ thập niên 1990, Liên minh viễn thông quốc tế đã bắt tay vào việc
phát triển một nền tảng chung cho các hệ thống viễn thông di động. Kết quả là
một sản phẩm được gọi là thông tin di động toàn cầu 2000 ( IMT – 2000).
1.1.3. Từ GSM lên 3G trong thông tin di động
Con đường tiến tới 3G duy nhất của GSM là CDMA băng thông rộng
(W-CDMA). Trên thị trường châu Âu, W-CDMA được gọi là hệ thống viễn
thông di động toàn cầu (UMTS). Trong cấu trúc dịch vụ 3G, cần có băng
thông rất lớn và như thế cần nhiều phổ tần hơn. Các nhà cung cấp dịch vụ
châu Âu dùng hơn 100 tỷ USD để mua phổ tần cho các dịch vụ 3G, các nhà
cung cấp dịch vụ khác trên thế giớ
i cũng đã phân bổ phổ 3G. Ở Mỹ, FCC
chưa thể nhanh chóng phân bổ bất cứ phổ nào cho các dịch vụ 3G. Hoa kỳ có
khoảng 190 MHz phố tần phân bổ cho các dịch vụ vô tuyến di động trong khi
phần còn lại của thế giới chỉ được phân bổ 400 MHz. Vì thế có thể tin rằng sự
phát triển lên 3G ở Hoa Kỳ sẽ rất khác với phần còn lại của thế giới.
Để đế
n 3G có lẽ cần phải đi qua giai đoạn 2,5G. Nói chung 2,5G bao
gồm một hay tất cả các công nghệ sau: Dữ liệu chuyển mạch kênh tốc độ cao
(HSCSD), dịch vụ vô tuyến gói chung (GPRS), tốc độ dữ liệu nâng cao cho
sự phát triển GSM hay toàn cầu (EDGE)
Chú thích *: Tốc độ cao nhất trên lý thuyết đối với GPRS là 171,2Kbit/s,
tuy nhiên trên thực tế hiện nay chưa đạt được tốc độ này mà điển hình chỉ đạt
được tốc độ trên dưới 50Kb/s
**: Tốc độ cao nhất trên lý thuyết đối với EDGE là 384Kb/s, tuy nhiên
trên thực tế hiện nay chỉ đạt được tốc độ tối đa là 144Kb/s
*** : Tốc độ cao nhất trên lý thuyết đối với W-CDMA là 2Mb/s, tuy nhiên
trên thực tế hiện nay ch
ỉ đạt được tốc độ tối đa là 384Kb/s
12
Yêu cầu
thiết bị
truyền số
mạng GPRS* và ở
trên mạng GSM ở
tốc độ số liệu
9,6kb/s, đây là các
máy CSD hai chế độ
hoạt động
Các máy di động
cầm tay mới
Các máy cầm tay
EDGE sẽ làm việc ở
tốc độ lên tới
384kb/s** trên các
mạng EDGE và
GPRS tốc độ
9.6Kb/s trên mạng
GSM đây là các
máy CSD ba chế độ
hoạt động
Các máy di động
cầm tay mới
Các máy cầm tay
CDMA DS sẽ làm
việc ở tốc độ lên
tới 2Mb/s*** trên
mạng 3G. Các máy
này có bốn chế độ
hoạt động
Cơ sở hạ
tầng thiết bị
1.1.3.1 Dữ liệu chuyển mạch kênh tốc độ cao HSCSD ( High Speed
Circuit Switched Data )
HSCSD là phương thức đơn giản nhất để nâng cao tốc độ. Thay vì một
khe thời gian, một trạm di động có thể sử dụng một số khe thời gian để kết
nối dữ liệu. Trong các ứng dụng thương mại hiện nay, thông thường sử dụng
tối đa 4 khe thời gian, 1 khe thời gian có thể sử dụng hoặc tốc độ 9,6 kbit/s
hoặc tốc độ 14,4 kbit/s. Đây là cách không tốn kém nhằm t
ăng dung lượng dữ
liệu chỉ bằng cách nâng cấp phần mềm của mạng (dĩ nhiên là các máy tương
thích HSCSD). Nhưng nhược điểm lớn nhất của nó là cách sử dụng tài
nguyên vô tuyến. Bởi đây là hình thức chuyển mạch kênh, HSCSD chỉ định
việc sử dụng các khe thời gian một cách liên tục, thậm chí ngay cả khi không
có tín hiệu đường truyền.
1.1.3.2 Dịch vụ vô tuyến gói chung GPRS (General Packet Radio Service)
Giải pháp tiếp theo là GPRS - giố
ng như là giải pháp được nhiều nhà
cung cấp lựa chọn
Hình 1.4 : Kiến trúc mạng GPRS
14
Hệ thống GSM ban đầu được thiết kế để trở kết nối chuyển mạch kênh
tại mức giao diện vô tuyến với tốc độ người dùng lên tới 9,6 kbit/s mức giao
diện các quy định trong giai đoạn 2,5G hiện nay bao gồm cả việc hỗ trợ dịch
vụ kết nối định hướng gói được biết đến là dịch vụ vô tuyến gọi chung GPRS.
Dịch vụ này cố g
ắng tối ưu tài nguyên mạng và vô tuyến. Sự phân chia
nghiêm ngặt giữa các hệ thống con vô tuyến với các hệ thống phụ trợ của
mạng được duy trì cho dù các hệ thống phụ trợ của mạng tương thích với các
hợp với các MS trong vùng phục vụ của nó. Một SGSN giao tiếp với các
GGSN và các SGSN trong cùng 1 mạng PLMN qua giao diện Gn và GGSN
của mạng PLNM khác qua giao diện Gp. Các giao diện cùng thuộ
c giữa 1
SGSN và 1 MSC/VLR (giao diện Gs) và HLR (SMS – IWMSC cho phép
dịch vụ bản tin ngắn của GSM được truyền qua kênh GPRS thay vì trên kênh
SDCCH và SACCH. GPRS hỗ trợ các nút (GGSN và SGCN) của 1 mạng
PLMN kết nối với nhau nhờ sử dụng 1 giao thức internet (IP) dựa trên mạng
xương sống.
GPRS được quan tâm vì là hệ thống chuyển mạch gói, do đó nó không
sử dụng tài nguyên vô tuyến một cách liên tục mà chỉ thực hiện khi có một cái
gì đó để gửi đi. GPRS đặc biệt thích hợp v
ới các dịch vụ phi thời gian thực
như: email, lướt web.
Triển khai hệ thống GPRS thì tốn kém hơn hệ thống HSCSD. Mạng
này cần có các thành phần mới, cũng như cần sửa đổi các thành phần hiện có
nhưng nó được xem là bước đi cần thiết để tiến tới tăng dung lượng và dịch
vụ. Một mạng GSM mà không có khả năng GPRS sẽ không tồn tại lâu trong
tương lai. Ở Việ
t Nam, cả 3 nhà cung cấp GSM là VinaPhone, MobiPhone và
Viettel Mobile cũng đều đã triển khai GPRS và đều được đa số khách hàng
đón nhận và sử dụng. Tuy nhiên, năng lực của nhà cụng cấp còn hạn chế nên
vẫn chưa thể đáp ứng được hết nhu cầu sử dụng dịch vụ của khách hàng. Các
hãng đang ngày càng củng cố và phát triển mạng hơn nữa đáp ứng nhu cầu
16
của khách hàng. Và trong tương lai, thế hệ 3G ra đời với nhiều dịch vụ gia
tăng sẽ làm cho khách hàng có nhiều sự lựa chọn sử dụng dịch vụ.
1.1.3.3. Tốc độ dữ liệu nâng cao cho sự phát triển GSM. (Enhanced Data
2000 1xRTT (một thời được gọi là công nghệ truyền dẫn vô tuyến kích thước
kênh IS – 95). Với công suất 3G tối đa, CDMA 2000 sử dụng một kênh 3,75
MHz, lớn gấp ba lần kênh truy
ền thống, gọi là 3xRTT. Hình 1.5: Cấu trúc hệ thống CDMA 1x EV DO
Hình 1.6: Cấu trúc hệ thống CDMA 2000 1X
18
Hệ thống 1xRTT sử dụng một sơ đồ điều chế hiệu quả hơn để tăng gấp
đôi số lượng thuê bao và tạo ra các kênh dữ liệu lên tới 144 kbit/s. Tốc độ này
đã cho phép nhà cung cấp dịch vụ cho rằng mình đang thực hiện 3G. Trong
thực tế, tốc độ người dùng sẽ ở trong khoảng 50 – 60 kbit/s. Dữ liệu theo sơ
đồ 1xRTT sẽ đựơc chuyển mạch gói để
đảm bảo sử dụng hiệu quả.
Tốc độ lên tới 2,4 Mbit/s có thể đạt được bằng cách triển khai 1xEV-
DO tức là dịch vụ chỉ có dữ liệu không có thoại trên kênh này. Khi 1xEV-DV,
3xRTT là một kênh 3,75MHz trên phổ 5MHz – 1,25MHz còn lại được dùng
cho dải tần bảo vệ trên và dưới. Có một số kịch bản hoạt động cho phổ
10MHz, 15MHz và 20MHz. Hình 1.8 so sánh kích thước kênh và tốc độ chip
của UMTS và CDMA 1x và 3x
Hình 1.7: Cấu trúc hệ thống UMTS
19Hình 1.8: Băng thông và tốc độ chip của UMTS và cdma 1x, 3xRTT
chấp nhận và sử dụng.
Về mặt kinh tế thì các nhà cung cấp dịch vụ đang trong quá trình thu
hồi vốn và phát sinh lợi nhuận nên họ cũng chưa muốn thay đổi công nghệ để
tiến lên 3G. Vì khi đó họ phải đầu tư mới hoàn toàn vào hệ thống và để rồi lại
có quá trình thu hồi vốn và kiếm lợi nhuận trong khi mạng 2G, 2.5G
đang
hoạt động tốt, vẫn được khách hàng ủng hộ và sử dụng. Như vậy bài toán về
kinh tế cũng khó được giải quyết. Còn về kỹ thuật để tiến lên 3G là không
khó quan trọng là khách hàng sẽ đón nhận nó như thế nào. Thực tế ở nước ta
hiện nay đã có 3 nhà cung cấp dịch điện thoại di động thế hệ ba 3G sử dụng
công nghệ CDMA là EVN Telecom, S-Fone Telecom, Hanoi Telecom ( HT
Mobile ) cũng ch
ưa được khách hàng quan tâm sử dụng nhiều lắm do nó chưa
chứng tỏ được tính năng vượt trội của mình so với thế hệ GSM đang được sử
dụng rộng rãi.
Tính riêng ở Việt Nam hiện có khoảng 23 triệu thuê bao điện thoại di
động cho cả 6 nhà cung cấp trong số này thì đa phần người sử dụng chỉ cần
21
liên lạc được với nhau với chất lượng thoại và tin nhắn tốt là đủ. Để đáp ứng
nhu cầu này của khách hàng thì mạng GSM đang thực hiện khá tốt và các nhà
cung cấp GSM cũng không ngừng củng cố và phát triển hệ thống của mình.
Trong thời gian đi thực tập tốt nghiệp em đã có cơ hội được đến thực tập tại
Công ty Điện thoại di dộng Viettel Mobile, em đã th
ấy rằng công ty đang có
chiến lược mở rộng vùng phủ sóng của mình tới nhiều nơi như vùng sâu vùng
xa, biên giới, hải đảo và đã sang tham gia khai thác thị trường di động ở các
nước Campuchia, Lào. Số trạm BTS mới được lắp đặt rất nhiều, chất lượng
phục vụ đối với khách hàng ngày càng được nâng cao. Như vậy cho thấy rằng
nhu cầu của khách hàng đối với GSM vẫn đang còn rất m
sử dụng và khai thác các thiết bị viễn thông. Nền khoa học kỹ thuật của ta
không cho phép ta có thể sản xuất thiết bị riêng được. Gần như 100% công
nghệ và các thiết bị dùng trong ngành viễn thông đặc biệt là những thiết bị
dùng trong thông tin di động ta phải nhập của các hãng nước ngoài. Khi mà
các nhà cung cấp thiết bị thay đổi công nghệ thì ta bắt buộ
c phải thay đổi theo
để tiến kịp với bước phát triển của thế giới vì nếu không ta sẽ không có thiết
bị máy móc để dùng rồi sẽ dẫn đến lạc hậu. Do vậy phải biết nắm bắt thời cơ,
có kế hoạch chi tiết thì ta mới có thể chủ động trong mọi tình huống. Và đây
chính là mục tiêu của ngành Viễn thông trong quá trình hội nhập và phát triển.
23
Kết luận chương 1
Chương 1 của đồ án đã giới thiệu sâu về các vấn đề cơ bản sau đây :
• Quá trình lịch sử hình thành và phát triển của thông tin di động trên
thế giới qua từng giai đoạn.
• Đánh giá, so sánh sự khác biệt và ưu khuyết điểm của các công nghệ
FDMA, TDMA, CDMA sử dụng cho các thế hệ 1G, 2G và 3G.
• Một vài nhận xét về thị trường di động ở nước ta hiện nay và khả
năng tiến lên 3G trong tương la.i
Những nội dung trên là cơ sở để tìm hiểu về mạng thông tin di động thế hệ
thứ ba (3G) W-CDMA, kỹ thuật trải phổ trong W- CDMA, điều khiển công
suất trong W-CDMA, sẽ được trình bày trong chương 2.
chất lượng cao (đa phương tiện)
Việc sử dụng băng thông rộng hơn cho phép truyền với tốc độ cao một
dung lượng lớn số liệu, hình ảnh tĩnh và video bên cạnh các kết nối thoại.
Liên minh viễn thông Châu Âu (ITU) đã đặt ra các yêu cầu đối với hệ
thống truyền dẫn vô tuyến IMT-2000 để cung cấp các dịch vụ đ
a phương tiện
trong nhiều môi trường khác nhau như mô tả trong bảng 1.2. Tốc độ truyền
25
yêu cầu là 144 kbit/s trong môi trường di chuyển tốc độ cao, 384 kbit/s khi di
chuyển ở các tốc độ thấp và 2Mbit/s trong môi trường trong nhà.
Bảng 2.1: Các yêu cầu đối với hệ thống truyền dẫn vô tuyến IMT-2000
Trong nhà Người đi bộ Trong xe ô tô
Tốc độ truyền (kbit/s ) 2048 384 144
Hình 2.1 thể hiện các dịch vụ đa phương tiện trong thông tin di động do
IMT-2000 cung cấp trong các lĩnh vực kinh doanh, công cộng và cá nhân.
Một chiếc điện thoại di động có thể thay thế cho nhiều cho nhiều loại giấy tờ
tùy thân hay là nó giúp cho việc thanh toán, giao dịch, giải trí... đó đều là
những tính năng vượt trội mà 3G sẽ mang lại.
Hình 2.1: Các dịch vụ đa phương tiện trong thông tin di động