Vị trí của điều ước quốc tế trong hệ thống pháp luật
Việt Nam
Mối quan hệ giữa luật quốc gia và luật quốc tế ở Việt Nam được quy định tại Luật số
41/2005/QH11 về ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế (Quốc hội thông qua
ngày 14/6/2005, Chủ tịch nước công bố ngày 24/6/2005 và Luật có hiệu lực kể từ ngày
01/01/2006) và Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (ban hành ngày 12/11/1996,
được sửa đổi, bổ sung ngày 16/12/2002).
Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2005 là văn bản luật điều chỉnh
một cách tổng thể các vấn đề liên quan đến công tác điều ước quốc tế của Việt Nam. Liên
quan đến mối quan hệ giữa luật quốc gia và luật quốc tế, Luật quy định về nguyên tắc,
thứ bậc cũng như việc áp dụng điều ước quốc tế.
Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật tuy chủ yếu điều chỉnh việc ban hành văn
bản quy phạm pháp luật trong nước, tuy nhiên cũng quy định việc soạn thảo văn bản quy
phạm pháp luật phải cân nhắc, tính toán đến các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết
hoặc gia nhập.
1. Vị trí của điều ước quốc tế
Hiện nay, pháp luật Việt Nam chưa quy định rõ ràng về việc điều ước quốc tế mà Việt
Nam đã ký kết hoặc gia nhập có vị trí như thế nào trong hệ thống các văn bản quy phạm
pháp luật trong nước. Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 6 của Luật ký kết, gia nhập và
thực hiện điều ước quốc tế năm 2005, trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật và
điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác
nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế (Khoản 1). Do đó,
các quy định của các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia sẽ được
thực thi kể cả trong trường hợp pháp luật Việt Nam còn chưa quy định đầy đủ.. Từ quy
định này, có quan điểm cho rằng điều ước quốc tế có vị trí sau Hiến pháp, trên các văn
bản luật, pháp lệnh.
Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2005
Điều 6. Điều ước quốc tế và quy định của pháp luật trong nước
1. Trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật và điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã
hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp
Việc nội luật hoá (hay chuyển hoá điều ước quốc tế) được thực hiện theo các phương
thức phổ biến sau:
- Sửa đổi, bổ sung, ban hành pháp luật nhằm bảo đảm thực hiện điều ước quốc tế. Theo
quy định tại khoản 10 Điều 14 Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm
2005, cơ quan đề xuất ký kết có trách nhiệm Kiến nghị về việc áp dụng trực tiếp toàn bộ
hoặc một phần điều ước quốc tế hoặc sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ, ban hành văn bản quy
phạm pháp luật để thực hiện điều ước quốc tế. Như vậy, để thực hiện nghĩa vụ pháp lý
quốc tế phát sinh từ điều ước quốc tế mà cần phải sửa đổi, bổ sung pháp luật hiện hành,
thì cơ quan đề xuất việc ký kết điều ước quốc tế phải chủ động phối hợp với Bộ Ngoại
giao, Bộ Tư pháp kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện việc này.
Trong công tác xây dựng pháp luật, theo quy định tại Điều 5 Luật Ban hành văn bản quy
phạm pháp luật năm 2008, một trong những nguyên tắc xây dựng, ban hành văn bản quy
phạm pháp luật mới là phải "không làm cản trở việc thực hiện điều ước quốc tế mà Cộng
hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên." Đây cũng là một biện pháp bảo đảm cho
việc thực hiện các nghĩa vụ pháp lý quốc tế phát sinh từ điều ước quốc tế được tuân thủ
nghiêm túc tại Việt Nam.
- Tiến hành chuyển hoá quy phạm của điều ước quốc tế vào pháp luật trong nước. Nghĩa
vụ thực hiện điều ước quốc tế có liên quan mật thiết đến vấn đề chuyển hoá (nội luật hoá)
các điều ước quốc tế vào pháp luật trong nước. Mục đích cơ bản của vấn đề chuyển hoá
là bảo đảm thuận lợi cho việc thực hiện các điều ước quốc tế.
Nhà nước CHXHCN Việt Nam khẳng định thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ phát sinh từ
điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập. Trong bộ máy nhà nước, Chính phủ
có trách nhiệm chỉ đạo các Bộ, ngành, cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương trong việc thực hiện điều ước quốc tế mà CHXHCN
Việt Nam là một bên ký kết. Như vậy, nhận thức về nghĩa vụ thực hiện điều ước quốc tế
đã đạt được sự thống nhất cao, được thể chế hoá thành pháp luật, tạo cơ sở thuận lợi cho
việc chỉ đạo của Chính phủ và việc thực hiện của các cơ quan nhà nước.
3. Trình tự thực hiện điều ước quốc tế.
việc thực hiện nghĩa vụ quốc tế phát sinh trên cơ sở điều ước. Đồng thời, hàng năm và
khi có yêu cầu, các Bộ, ngành có trách nhiệm phối hợp với Bộ Ngoại giao báo cáo Chính
phủ, Chủ tịch nước về tình hình thực hiện điều ước quốc tế rong phạm vi chức năng,
nhiệm vụ của ngành. Nghĩa vụ phối hợp thực hiện điều ước quốc tế đòi hỏi chung đối với
tất cả các Bộ, ngành, cơ quan nhà nước ở trung ương và các cấp chính quyền địa phương;
không một Bộ, ngành hoặc cơ quan nhà nước nào có thể đứng ngoài nghĩa vụ này.
Qua phân tích pháp luật Việt Nam, có thể kết luận các điều ước quốc tế đã được Việt
Nam ký kết và gia nhập thì có hiệu lực pháp lý bắt buộc và được nhà nước đảm bảo thực
hiện ngay cả trong trường hợp điều ước quốc tế đó có quy định trái với quy định của
pháp luật trong nước. Bằng việc “nội luật hoá” các quy định của điều ước quốc tế, thì ở
những mức độ khác nhau, đã có thể coi các quy định của điều ước quốc tế đó là một bộ
phận cấu thành của pháp luật trong nước. Chính vì thế, điều ước quốc tế giữ vị trí đặc biệt
trong hệ thống các quy phạm pháp luật quốc gia của Việt Nam.